thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân ở Việt Nam - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm y tế là một trong các nội dung thuộc an sinh xã hội, đặc biệt có
ý nghĩa đối với cuộc sống con người. Việt Nam đã thực hiện BHYT gần 20 năm
và đạt được thành tựu đáng kể. Thực hiện BHYT sẽ tạo mọi điều kiện để mọi
người dân được chăm sóc sức khỏe. Đây là quan điểm nhất quán của Nhà nước
ta hướng tới “thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn
dân” [1].
BHYT toàn dân là mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia khi thực
hiện chính sách BHYT. Thực hiện được BHYT toàn dân tức là đưa công tác
chăm sóc sức khỏe nhân dân lên đỉnh cao hiệu quả. Trong một thời gian dài thực
hiện BHYT, đã đến lúc chúng ta phải xác định lộ trình cụ thể cho việc thực hiện
BHYT toàn dân. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII ngày 14
tháng 11 năm 2008 đã thông qua Luật BHYT số 25/2008/QH12.
Luật BHYT với một bước phát triển đặc biệt về quy định BHYT toàn dân
là quyền và nghĩa vụ công dân với hình thức tham gia bắt buộc và đưa ra lộ trình
thực hiện BHYT toàn dân cho từng nhóm đối tượng lấy. Để thực hiện lộ trình
này cần phải có những nghiên cứu và những giải pháp cụ thể. Đây là vấn đề thu
hút sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành và thực sự có ý nghĩa cấp thiết
trong điều kiện hiện nay. Vì vậy “một số kiến nghị thực hiện BHYT toàn dân ở
Việt Nam theo luật BHYT năm 2008” là thực sự cần thiết. Với phạm vi yêu cầu từ
góc độ pháp luật bằng việc chú trọng tới tổ chức thực hiện, đề tài nghiên cứu
được thiết kế bao gồm 3 chương:
+ Chương 1: BHYT và thực hiện BHYT toàn dân
+ Chương 2: Thực trạng về BHYT toàn dân ở Việt Nam
+ Chương 3: Một số kiến nghị thực hiện lộ trình BHYT toàn dân ở Việt
Nam
Với nhận thức và kỹ năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế, đề tài không
tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến, đóng góp của
thầy cô và tất cả các bạn.
Đại học Luật Hà Nội

bằng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Đại học Luật Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn "Từ điển Bách khoa Việt
Nam I xuất bản năm 1995"- Nhà xuất bản từ điển Bách khoa – trang 151:
"BHYT: loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp
của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và
chữa bệnh cho nhân dân". Cũng như hầu hết các quốc gia, Việt Nam thừa nhận
quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại
hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi
gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật.
Từ những góc độ chuyên sâu, khái niệm BHYT cũng được tiếp cận với
những nét riêng biệt:
- Dưới góc độ kinh tế, BHYT được hiểu là sự hợp nhất tài chính của số
lượng lớn những người tham gia nhằm đối phó với một loại rủi ro là bệnh tật.
Nguồn tài chính do nhiều người đóng góp nên sẽ đảm bảo chi trả chi phí y tế
cho những người không may gặp rủi ro bởi nó tạo ra một quỹ thống nhất. Những
người tham gia bảo hiểm y tế sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh trong đó khám
chữa bệnh không chỉ bao gồm vấn đề kỹ thuật y tế mà còn cả bao gồm cả yếu tố
kinh tế liên quan đến chi phí khám chữa bệnh như chi phí cho nghiệp vụ chuyên
môn kỹ thuật của bác sỹ, chi phí cho trang thiết bị vật tư y tế phục vụ khám chữa
bệnh, chi phí thuốc men, dược liệu,…Quá trình thực hiện BHYT cũng chính là
quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung. Vì vậy, phải làm thế nào
để sử dụng có hiệu quả nguồn quỹ đóng góp của người tham gia BHYT nhưng
đồng thời phải nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.
- Dưới góc độ xã hội, BHYT là một hình thức tương trợ cộng đồng nhằm
mục đích bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Các thành viên trong xã hội cùng nhau
đóng góp một phần thu nhập để tạo ra quỹ chung với mục đích chăm sóc y tế

Nhìn từ các góc độ như trên, ta có thể thấy BHYT có những đặc điểm sau:
Một là, BHYT có phạm vi đối tượng rất rộng, bao gồm toàn thể thành
viên trong xã hội không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế-xã hội, tuổi
tác, tình trạng sức khoẻ…Bởi lẽ, rủi ro về sức khoẻ có thể xảy đến với tất cả mọi
người ở mọi lứa tuổi, giới tính, ở mọi điều kiện, hoàn cảnh và môi trường sống,
tại bất kỳ thời điểm nào. Chăm sóc sức khỏe là nhu cầu tất yếu của mỗi con
người. Mặt khác, BHYT được coi là quyền quan trọng của con người nên tất cả
mọi người, ai cũng có quyền tham gia BHYT. Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội
Đại học Luật Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
cụ thể mà pháp luật mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về đối tượng
tham gia và hình thức tham gia. Đặc trưng về phạm vi đối tượng là điểm cơ bản
phân biệt BHYT với các chế độ khác trong hệ thống an sinh xã hội. Có thể thấy,
trong chế độ BHXH, trợ giúp xã hội hay ưu đãi xã hội thì phạm vi đối tượng
được giới hạn bởi những tiêu chí, điều kiện nhất định. Đối tượng của BHXH là
người lao động và thành viên gia đình của họ (trong một số trường hợp) khi gặp
biến cố rủi ro làm giảm thu nhập; còn trợ giúp xã hội có đối tượng bảo vệ là toàn
bộ các thành viên trong xã hội khi lâm vào tình trạng thực sự khó khăn túng
quẫn cần có sự giúp đỡ về vật chất mới có thể vượt qua; ưu đãi xã hội thì có đối
tượng bảo vệ là những người có công trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân
tộc. Như vậy, BHYT có mạng lưới bao trùm mọi đối tượng trong xã hội mà
không một chế độ nào trong hệ thống an sinh xã hội rộng bằng.
Hai là, đối tượng bảo vệ của BHYT là sức khoẻ của con người khi bị ốm
đau, bệnh tật…Đặt trong mục tiêu chung của an sinh xã hội là hướng tới sự bảo
vệ toàn diện đối với mọi thành viên trong xã hội, BHYT thực hiện mục đích bảo
vệ sức khoẻ cho mọi người dân. Người tham gia BHYT đóng góp bằng tiền mặt
nhưng khi ốm đau, bệnh tật sẽ được BHYT đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh,
bao gồm các dịch vụ y tế như chẩn đoán, chữa trị bệnh tật, thuốc men và chăm
sóc tại bệnh viện. Chi phí cho dịch vụ khám chữa bệnh sẽ do cơ quan BHYT

vụ khám chữa bệnh khi sự kiện BHYT xảy ra theo quy định của pháp luật. Cơ
sở khám chữa bệnh là tổ chức thực hiện khám chữa bệnh và cung cấp các dịch
vụ y tế cho người bệnh BHYT. Khi người tham gia BHYT sử dụng các dịch vụ
khám chữa bệnh, họ sẽ đến các cơ sở y tế và các chi phí liên quan sẽ được cơ
quan thực hiện BHYT chi trả toàn bộ hoặc một phần theo quy định. Như vậy,
quan hệ BHYT vừa là loại hình dịch vụ bảo hiểm, vừa là loại hình dịch vụ y tế.
Hệ thống thực hiện BHYT ở các nước được tổ chức theo các mô hình khác
nhau về điều kiện kinh tế xã hội, chế độ chính sách,…Tuy nhiên, dù tổ chức
thực hiện với hình thức nào đi nữa cũng không thể phủ nhận được mối quan hệ
ba bên của BHYT với vai trò quan trọng của cơ sở khám chữa bệnh.
1.1.2. Ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm y tế
BHYT có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, đời
sống của con người. Vai trò của BHYT thể hiện ở những điểm sau:
Một là, BHYT thực hiện chính sách an sinh, góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả và công bằng xã hội chăm sóc sức khoẻ.
Đại học Luật Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
BHYT có vai trò nhất định cho phục vụ chăm sóc sức khỏe của người
dân. Với những đặc thù của mình, BHYT đã bảo đảm cho mọi người, nhất là
những đối tượng “yếu thế” trong xã hội, ai cũng được tiếp cận các dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ cơ bản, có chất lượng tốt; bảo vệ nhân dân khỏi gánh nặng quá sức
về tài chính do chi phí của các dịch vụ y tế mà họ cần sử dụng gây nên. Khi
tham gia BHYT, những người có điều kiện kinh tế khó khăn, hay họ mắc bệnh
hiểm nghèo thì họ sẽ được BHYT gánh bớt khó khăn về chi phí khám chữa
bệnh. Đồng thời, BHYT cũng đảm bảo cho những người bệnh có cùng nhu cầu
được tiếp cận như nhau đến các dịch vụ y tế hiện có; người bệnh có nhu cầu
nhiều hơn được chăm sóc nhiều hơn. Trong cuộc sống, con người có điều kiện
chăm sóc sức khỏe cho chính mình và người thân của mình. Có thể nói khi có
BHYT thì mỗi con người có điều kiện chăm sóc sức khỏe trung bình trong xã

Ba là, BHYT mang tính nhân văn, xã hội sâu sắc.
Rủi ro về sức khoẻ thường đến bất ngờ và không loại trừ ai. Đối với đa số
các thành viên trong xã hội, chi phí y tế thực sự là một gánh nặng mà nhiều khi
họ không thể trả nổi. Vì vậy đã có không ít các trường hợp do hoàn cảnh kinh tế
mà phải “sống chung với bệnh tật” trong khi y học hoàn toàn có khả năng chữa
trị được. BHYT ra đời không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận và xuất
phát từ nhu cầu khách quan của cuộc sống con người. Nhờ tham gia BHYT,
người nghèo không phải đơn phương chống đỡ với những khó khăn gây ra bởi
rủi ro sức khoẻ. Bởi lẽ, khi đó họ nhận được sự chia sẻ, giúp đỡ của cả cộng
đồng - của người có thu nhập cao đối với người có thu nhập thấp, của người
không ốm hoặc chưa ốm với người đang ốm, của người bệnh nhẹ với người
bệnh nặng. Như vậy, khi tham gia BHYT, mọi người thể hiện trách nhiệm của
mình trước hết là đối với bản thân, sau đó là trách nhiệm với xã hội. BHYT đã
góp phần phát huy tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá
rách” giữa các thành viên trong xã hội. Đó là những truyền thống tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa.
Ngoài ý nghĩa trên, BHYT còn góp phần trong việc điều tiết thu nhập của
các tầng lớp dân cư trong xã hội, là một trong những nguồn cung cấp tài chính
ổn định cho các cơ sở y tế.
1.2. BHYT toàn dân và kinh nghiệm ở một số quốc gia
1.2.1. Quan điểm về BHYT toàn dân
Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận với thuật ngữ BHYT toàn dân. Từ
nguyên tắc cơ bản của BHYT cho thấy BHYT toàn dân là một nguyên tắc quan
Đại học Luật Hà Nội
8
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
trọng của BHYT. Theo từ điển tiếng việt thì từ “toàn” có nghĩa là tất cả. Vậy
“toàn dân” có nghĩa là tất cả người dân, mọi người dân.Theo đó, BHYT toàn
dân là mọi người dân đều được quyền tham gia và được bảo vệ bởi hệ thống
BHYT. Từ góc độ mục tiêu, mục đích tổ chức thực hiện của BHYT cho thấy

thẻ cho người có thu nhập thấp (LIC) đến những người có thu nhập hàng tháng
dưới 1.000 baht/tháng. Năm 1983, chương trình LIC mở rộng đến những người
già trên 60 tuổi. Vào năm 1993, LIC được mở rộng đến trẻ em dưới 12 tuổi và
các lãnh đạo tôn giáo [15]. Với việc ngày càng mở rộng đối tượng đến tháng 4
năm 2002 Thái Lan đã thực hiện thành công BHYT toàn dân. Như vậy, ta có thể
thấy BHYT toàn dân là việc tham gia rộng rãi của mọi đối tượng trong xã hội
hay chính là 100% người dân có BHYT.
Theo quan điểm của chúng ta, BHYT toàn dân là việc các đối tượng quy
định trong Luật BHYT đều tham gia BHYT. Đối tượng tham gia BHYT ngày
càng được mở rộng sau 3 lần thay đổi Nghị định, đặc biệt là các đối tượng:
người nghèo; người có công với cách mạng; cán bộ xã phường thị trấn; đại biểu
hội đồng nhân dân; thân nhân của sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và của
sỹ quan Công an nhân dân; cựu chiến binh thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ;
người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên; người lao động thuộc các doanh nghiệp ngoài
nhà nước không phân biệt số lượng lao động đều tham gia BHYT bắt buộc.
Qua 3 lần thay đổi Nghị định, đặc biệt là từ khi triển khai thực hiện Nghị
định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16-5-2005 của Chính phủ, đối tượng và phạm vi
bao phủ BHYT tăng nhanh. BHYT tự nguyện được mở rộng đến các đối tượng:
nông dân, hội viên các hội đoàn thể quần chúng (phụ nữ, thanh niên, cựu chiến
binh..), người ăn theo. Từ khi Luật BHYT năm 2008 ra đời đã mở rộng các đối
tượng tham gia lên 25 đối tượng bao trùm hầu hết các tầng lớp nhân dân. Như
vậy, cũng như các quốc gia trên thế giới, Việt Nam coi BHYT toàn dân chính là
việc tham gia của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội bằng cách quy định ngày
càng mở rộng đối tượng tham gia. Trong quá trình thực hiện BHYT toàn dân các
nước cũng có quan niệm và mục tiêu khác nhau do điều kiện kinh tế xã hội ở
mỗi nước là khác nhau. Mặc dù ở các quốc gia khác nhau có quan niệm cũng
như mục tiêu khác nhau về BHYT toàn dân song nhìn chung tiêu chí xác định
BHYT toàn dân bao gồm:
Thứ nhất, độ bao phủ của hệ thống BHYT đối với cộng đồng dân chúng
phải đạt 100%. Điều đó có nghĩa là mọi người dân đều được tham gia BHYT.

Đức là nước đầu tiên ban hành đạo Luật BHYT vào năm 1883. Theo đó, hệ
thống BHYT ra đời với sự tham gia bắt buộc của người làm công ăn lương và
giới chủ, nhằm bảo vệ người lao động, đồng thời giảm thiểu chi phí bồi thường
của giới chủ. Nhà nước giữ vai trò quản lý, giám sát, định hướng hoạt động
BHYT theo luật định.
Đại học Luật Hà Nội
11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
Do có hệ thống pháp luật khá hoàn thiện, BHYT ở Đức phát triển nhanh
chóng. Nếu như những năm đầu tiên nhà nước ban hành Luật BHYT mới chỉ có
5% dân số tham gia BHYT, thì đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã có 90% dân số
tham gia BHYT. Theo quy định của pháp luật, hai loại hình BHYT công và
BHYT tư nhân đang tồn tại và phát triển.
Với hai hệ thống BHYT công và BHYT tư nhân thì BHYT Đức đã bao trọn
được hầu hết dân số tham gia. Những đối tượng có thu nhập thấp và thân nhân
gia đình họ, một số đối tượng yếu thế,…được đảm bảo tham gia vào hệ thống
BHYT công. BHYT tư nhân hay chính là BHYT tự nguyện tồn tại song song với
BHYT công và nhắm đến những đối tượng không tham gia BHYT công đặc biệt
là những đối tượng có thu nhập cao, vượt qua ngưỡng nhất định [8].
Nhìn chung BHYT Đức có bề dày kinh nghiệm (đã thực hiện BHYT trên
120 năm) nhưng mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân vẫn được xác định là một
quá trình lâu dài với hai hình thức tham gia là bắt buộc và tự nguyện. Thực tế
cho thấy BHYT bắt buộc hay còn gọi là BHYT công ở Đức đã bao quát được
gần hết dân số (đối tượng chủ yếu của BHYT công là người làm công ăn lương
và thân nhân của họ; người về hưu cũng là đối tượng thực hiện BHYT công theo
luật định), chỉ một số ít tham gia BHYT tư nhân (đối tượng tham gia là tất cả
những đối tượng khác không tham gia vào BHYT công thì tham gia BHYT tự
nguyện). Đức là một quốc gia tiêu biểu trong việc xây dựng hệ thống an sinh
theo trường phái xã hội, chú trọng đến yếu tố bao quát dân chúng do vậy BHYT
ở Đức cũng được đánh giá là một trong các quốc gia có độ bao quát dân chúng

có một cải cách như: đơn giản hóa các thủ tục, tăng tiêu chuẩn tài trợ của chủ
thuê mướn và chính quyền. Để khống chế và quản lý chi phí y tế, Mỹ áp dụng
phương thức chi trả theo nhóm chẩn đoán, mang lại hiệu quả cao.
Có thể thấy, mặc dù là một nước có nền kinh tế phát triển lớn mạnh vào
hàng đầu thế giới, người dân có thu nhập cao nhưng BHYT Mỹ vẫn không bao
quát hết toàn bộ dân chúng tham gia BHYT. Bởi lẽ, việc Mỹ lựa chọn và áp
dụng mô hình BHYT tư nhân là hoàn toàn không phù hợp để xây dựng BHYT
toàn dân.
- Hàn Quốc:
Hệ thống BHYT Hàn Quốc tương đối mới và trẻ trên thế giới. Quỹ BHYT
của Hàn Quốc ra đời năm 1963. Tuy nhiên, Hàn Quốc chỉ mất có 26 năm để
thực hiện được mục tiêu BHYT toàn dân. Vào năm 1977, Chính phủ Hàn Quốc
quyết định chuyển sang BHYT bắt buộc toàn dân theo Luật. Sau 13 năm thực
Đại học Luật Hà Nội
13
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
hiện BHYT tự nguyện không hiệu quả (số người tham gia thấp và không có khả
năng cân đối quỹ). Sau 12 năm, tức là 1989, thì đạt được độ bao phủ toàn dân
với gần 100% người Hàn Quốc có BHYT. Tại thời điểm bắt đầu triển khai
BHYT toàn dân, mức thu nhập bình quân đạt 1500USD/người/năm (năm 2007
là 24600USD/người/năm, dân số là 49 triệu người). Mặc dù thực hiện cơ chế
cùng chi trả nhưng quỹ BHYT Hàn Quốc vẫn lâm vào tình trạng bội chi trong
những năm giữa thập kỷ 90. Do vậy, năm 1997, Hàn Quốc buộc phải nghiên cứu
chuyển đổi phương thức thanh toán theo chi phí dịch vụ sang phương thức thanh
toán theo chẩn đoán [17,22].
Có thể nói, BHYT Hàn Quốc mặc dù ra đời khá muộn nhưng lại rất thành
công khi thực hiện BHYT toàn dân một cách nhanh chóng trong 26 năm. Thực
tế thực hiện BHYT toàn dân ở Hàn Quốc cho thấy, để đạt mục tiêu BHYT toàn
dân ngoài sự phát triển rất nhanh của nền kinh tế Hàn Quốc tạo điều kiện thuận
lợi cho hệ thống BHYT thì việc nhanh chóng chuyển đổi cơ chế từ thực hiện

thực hiện BHYT nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á nhưng hệ thống BHYT
Thái Lan đang đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức do chịu ảnh hưởng của
sự bất ổn về hệ thống chính trị cũng như trong công tác quản lý và thực hiện
BHYT như tình trạng lạm dụng BHYT, chi phí gia tăng, hệ thống quản lý bị
phân tán.
Qua việc tìm hiểu quá trình thực hiện BHYT toàn dân ở các quốc gia trên
chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, về chính sách pháp luật, hầu hết các quốc gia đều xây dựng cho
mình một kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân chi tiết cụ thể. Khi xác định lộ
trình, các nước chuẩn bị các điều kiện, cơ sở vật chất, cơ sở pháp lý tương ứng
đảm bảo cho việc thực hiện lộ trình BHYT toàn dân. Do các nước có điều kiện,
cơ sở kinh tế xã hội không giống nhau mà có thể xác định kế hoạch lộ trình
thực hiện là khác nhau. Lộ trình thực hiện có thể là trong thời gian ngắn hoặc
trong thời gian dài. Đức là nước đầu tiên ban hành Luật BHYT, hệ thống pháp
luật khá hoàn thiện nhưng mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân vẫn được xác
định là một quá trình lâu dài với hai hình thức bắt buộc và tự nguyện. Hàn Quốc
là nước mất có 26 năm để hoàn thành BHYT toàn dân do có điều kiện kinh tế
phát triển, nhanh chóng áp dụng BHYT bắt buộc. Thái Lan là nước thực hiện
thành công BHYT toàn dân trong khoảng thời gian ngắn (năm 1996 áp dụng
năm 2001hoàn thành). Tại thời điểm công bố thực hiện BHYT toàn dân thu
nhập bình quân đầu người của Thái Lan đạt trên 2000USD, chỉ còn 50% số lao
Đại học Luật Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
động nông nghiệp, phần lớn cán bộ công chức và thân nhân của họ được nhà
nước bao cấp KCB chỉ còn 40 triệu người dân hưởng BHYT toàn dân. Như vậy,
do có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau mà lộ trình thực hiện BHYT toàn dân ở
các nước là khác nhau.
Thứ hai, các nước thực hiện thành công BHYT toàn dân với việc áp dụng
hình thức BHYT bắt buộc là chủ đạo, còn nếu áp dụng BHYT tự nguyện thì

nhận tham gia BHYT còn khi có cái nhìn tiêu cực thì họ sẽ khó chấp nhận tham
gia vào quan hệ BHYT. Như vậy, một quốc gia muốn thực hiện thành công
BHYT toàn dân thì sự ủng hộ của người dân là rất cần thiết. Vì vậy, việc tuyên
truyền vai trò, ý nghĩa của BHYT là bước cần thiết trong lộ trình thực hiện
BHYT toàn dân.
Như vậy, để thực hiện thành công BHYT toàn dân mỗi nước phải biết kết
hợp hài hòa các yếu tố cơ bản trên. Mỗi nước có điều kiện kinh tế xã hội khác
nhau nên tại thời điểm công bố thực hiện BHYT toàn dân thì các yếu tố trên
cũng khác nhau. Do vậy, trong quá trình thực hiện phải xác định lộ trình cụ thể,
lấy BHYT bắt buộc làm chủ đạo, song song với việc phát triển kinh tế và nâng
cao nhận thức của người dân.
Tóm lại, BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội, là loại hình bảo
hiểm do Nhà nước tổ chức nhăm chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Nó có ý
nghĩa to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Vì vậy, BHYT toàn dân chính là mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia. Và
trên thế giới đã có nhiều nước thực hiện thành công BHYT toàn dân như Đức,
Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,… Sau thành công của một số quốc gia, Việt
Nam đã rút ra được kinh nghiệm cho mục tiêu tiến tới thực hiện BHYT toàn dân
của mình khi ban hành Luật BHYT và xây dựng lộ trình toàn dân vào năm 2014.
Đại học Luật Hà Nội
17
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ BHYT TOÀN DÂN Ở VIỆT NAM
2.1. Quy định về BHYT toàn dân ở Việt Nam
2.1.1. Định hướng BHYT toàn dân ở Việt Nam
Sự phát triển của BHYT gắn liền với những định hướng, quan điểm của
Đảng qua các Nghị quyết, Văn kiện quan trọng, mà khởi đầu là Đại hội VI năm
1986. Thực hiện chủ trương đổi mới trong lĩnh vực y tế, Nghị quyết Đại hội VI
đề ra phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đây là một chủ trương

toàn dân” chính thức được đề cập trong Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày
19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010. Chiến lược nêu rõ: “Mở rộng BHYT
tự nguyện, củng cố quỹ BHYT bắt buộc, tiến tới BHYT bắt buộc toàn dân”.
Đại hội IX của Đảng thành công tốt đẹp, định hướng, quan điểm phát
triển BHYT toàn dân được Nghị quyết Đại hội nâng lên một tầm cao mới:
“Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn dân”,
điểm mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của BHYT toàn dân.Trước những
vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
trong tình hình mới, ngày 23/2/2005, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương
khoá IX ra Nghị quyết số 46/NQ-TW với nhận định: “BHYT được hình thành và
bước đầu phát huy tác dụng”. Bộ Chính trị nêu rõ định hướng chỉ đạo: "Phát
triển BHYT toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm sóc sức
khỏe, thực hiện chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, người giầu với người
nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già". Thực hiện Nghị
quyết số 46/NQ-TW của Bộ Chính trị, ngày 05/10/2005, Thủ tướng Chính phủ
ban hành Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg kèm theo Chương trình hành động
thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình
hình mới. Mục tiêu của Chương trình hành động là cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải
pháp để thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 46/NQ-TW, đưa Nghị quyết
của Đảng vào cuộc sống, tạo bước chuyển biến rõ rệt trong công tác bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc
sống, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính phủ chỉ rõ nhiệm vụ đổi mới cơ chế
chính sách y tế theo hướng: “Chuyển dần chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
Đại học Luật Hà Nội
19
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
từ hình thức cấp cho các cơ sở khám chữa bệnh sang hỗ trợ trực tiếp cho người
sử dụng dịch vụ. Nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật BHYT. Xây dựng và triển

20
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
cơ sở pháp lý vững chắc định hướng cho triển khai thực hiện. Sự ra đời Luật
BHYT năm 2008 đánh dấu bước phát triển, trong đó quy định lộ trình thực hiện
một cách cụ thể cho từng đối tượng nhằm mục tiêu BHYT toàn dân vào năm
2014.
2.1.2. BHYT toàn dân theo quy định hiện hành của Việt Nam
Trong gần 17 năm qua, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành
nhiều văn bản pháp luật về BHYT, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính
sách BHYT, góp phần tích cực tạo nguồn tài chính cho việc bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khoẻ nhân dân. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4, vào ngày 14-11-2008,
Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật BHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-
2009. Nội dung của Luật BHYT đã cơ bản khắc phục được những vướng mắc,
tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế để từng bước tiến tới mục
tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát
triển. Luật BHYT năm 2008 quy định thực hiện lộ trình BHYT toàn dân với
những nội dung cơ bản về xác định đối tượng, hình thức tham gia và thời điểm
cụ thể cho sự tham gia của từng nhóm đối tượng.
Thứ nhất, về phạm vi đối tượng
Nhằm bao quát toàn bộ dân chúng và phù hợp với tình hình cụ thể Luật
xác định 24 nhóm đối tượng quy định tại Điều 12. Một điểm mới đặc biệt trong
Luật BHYT là quy định về đối tượng tham gia BHYT. Điều 12 Luật BHYT đã
mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHYT bắt buộc lên 24 nhóm đối tượng.
Qua đó mở rộng phạm vi điều tiết của xã hội trong lĩnh vực sức khoẻ, tạo nên
sức mạnh tài chính cho cả cộng đồng chống lại rủi ro, bệnh tật, ốm đau. Căn cứ
vào nhu cầu và khả năng tham gia mà luật BHYT đã đưa ra các nhóm đối tượng
trên. Với mục tiêu hướng tới BHYT toàn dân, dựa vào nhu cầu và khả năng
tham gia của từng nhóm đối tượng Luật hướng tới lộ trình thực hiện mục tiêu
đó. Những đối tượng nào cần và có khả năng tham gia BHYT trước thì lộ trình
thực hiện sẽ sớm hơn những nhóm đối tượng chưa có nhu cầu và chưa có khả

2006 số đối tượng tăng đột biến sau khi Điều lệ BHYT ban hành kèm theo nghị
định 63/2005/NĐ-CP có hiệu lực. Theo báo cáo tổng kết 6 tháng đầu năm 2007
của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số đối tượng tham gia là 10.448 nghìn người
trong đó học sinh, sinh viên chiếm tới 8.096 nghìn người, nhân dân chiếm 2.352
nghìn người.
Với những con số tham gia BHYT bắt buộc và tự nguyện như trên cho
thấy cơ sở quy định BHYT toàn dân đã đến thời điểm chín muồi, Luật BHYT đã
Đại học Luật Hà Nội
22
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
hoàn thiện một bước về đối tượng tham gia bằng việc xác định một hình thức
tham gia BHYT duy nhất là bắt buộc.
Thứ ba, về lộ trình cụ thể cho từng nhóm đối tượng
Khi xây dựng Luật BHYT có nhiều quan điểm khác nhau về lộ trình thực
hiện BHYT toàn dân. Có quan điểm cho rằng nên quy định bắt buộc toàn dân
ngay, có quan điểm cho rằng nên thực hiện theo lộ trình tư 3-5 năm đảm bảo bao
phủ toàn dân. Luật BHYT đã lựa chọn thực hiện lộ trình theo quan điểm thứ hai
vì các lí do sau:
Một là, theo các công ước của ILO mà WHO thì BHYT được thực hiện
theo 3 nguyên tắc cơ bản: tham gia trên cơ sở bắt buộc, đóng góp theo thu nhập,
quyền lợi hưởng theo bệnh tật, ba nguyên tắc này được coi là kim chỉ nam cho
các nước hoạch định chính sách về BHYT.
Hai là, thực tiễn kinh nghiệm quốc tế cho thấy không một nước nào thực
hiện thành công BHYT toàn dân nếu dựa trên sự tham gia tự nguyện. Theo tổng
kết của WHO trong số hơn 60 nước thực hiện cơ chế tài chính qua BHYT mới
chỉ có 27 nước thực hiện BHYT toàn dân đạt mục tiêu. Như Canada, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Thái lan và các nước Tây Âu… và các nước này đều theo hình thức
BHYT bắt buộc còn BHYT tự nguyện chỉ là hình thức trong thời kì quá độ hoặc
hình thức BHYT bổ sung để hưởng các quyền lợi cao hơn.
Ba là, chỉ có BHYT bắt buộc toàn dân mới đảm bảo được sự điều tiết,

được.
Từ những luận cứ lý luận và thực tiễn đó, việc thực hiện BHYT toàn dân
đã được thể chế trong Luật BHYT bằng lộ trình với từng nhóm đối tượng. Theo
quy định tại Điều 12 Luật BHYT hiện hành phạm vi đối tượng tham gia bao
gồm 24 nhóm đối tượng nhằm bao trọn toàn bộ dân chúng. Bên cạnh những đối
tượng có tính “truyền thống” (những đối tượng thuộc diện tham gia bắt buộc
như người lao động theo hợp đồng, công chức viên chức nhà nước, lực lượng vũ
trang, đối tượng chính sách...) Luật bổ sung các nhóm đối tượng với lộ trình bắt
buộc vào các thời điểm khác nhau:
- Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kĩ thuật
đang công tác trong lực lượng công an nhân dân; người đang hưởng trợ cấp thất
nghiệp; người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống
tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; thân nhân của
người có công với cách mạng; trẻ em dưới 6 tuổi; người đã hiến bộ phận cơ thể
người theo quy định của pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người
Đại học Luật Hà Nội
24
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Bích - KT31D
và hiến, lấy xác. Những nhóm đối tượng trên sẽ thực hiện bảo hiểm y tế bắt
buộc từ ngày luật bảo hiểm y tế có hiệu lực thi hành là ngày 01/07/2009.
- Học sinh, sinh viên. Đây là đối tượng “tiềm năng” thực hiện bảo hiểm y
tế bắt buộc cho đối tượng này đã giúp cho khoảng 1/3 dân số có bảo hiểm y tế.
Lộ trình thực hiện của đối tượng này là thời điểm 01/01/2010 .
- Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
diêm nghiệp. Hiện nay nông dân chiếm khoảng 56% dân số cả nước, trong đó có
khoảng gần 60% đã được nhà nước mua BHYT dưới nhiều hình thức như: người
nghèo, người có công, đối tượng trợ giúp xã hội…Thực tiễn nhiều năm thực
hiện BHYT cho thấy khó khăn nhất vẫn là BHYT cho nông dân. Theo Luật
BHYT nông dân sẽ là đối tượng bắt buộc từ ngày 01/01/2012.
- Thân nhân của người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status