TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
- Trong dòng văn học Hiện thực phê phán Việt Nam 1930 – 1945, Nguyễn
Công Hoan và Nam Cao là 2 đại diện tiêu biểu với tiếng nói mới mẻ, sâu sắc
về đời thường.
- Có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nhưng
chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống trong tương quan so
sánh giữa hai tác giả về đặc điểm phong cách ngôn ngữ.
- Nguyễn Công Hoan và Nam Cao có một số tác phảm được đưa vào giảng
dạy trong chường trình phổ thông.
Thực hiện đề tài “So sánh đặc điểm phong cách của Nguyễn Công
Hoan và Nam Cao”, chúng tôi nhằm phục vụ cho lí luận nghiên cứu phong
cách tác giả cũng như công tác giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là những nhà văn của thế kỉ XX được
nhiều người nghiên cứu nhất với rất nhiều công trình, luận văn, luận án.
3. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ đặc điểm phong cách ngôn ngữ của hai tác giả trên các phương
diện: người trần thuật và điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, giọng
điệu trần thuật, cách sử dụng một số kiểu câu giàu phong cách
- So sánh tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong phong cách ngôn ngữ
hai tác giả.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày luận điểm lí luận cơ bản: người trần thuật và điểm nhìn trần
thuật, ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật, cách sử dụng một số kiểu
câu (câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách biệt).
- Phân tích cụ thể biểu hiện của các vấn đề trên trong truyện ngắn của từng
tác giả.
- Rút ra kết luận về phong cách ngôn ngữ mỗi nhà văn trong tương quan so
sánh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Vài nét tóm tắt về nhà văn Nguyễn Công Hoan và
Nam Cao
1.1.1. Hoàn cảnh xuất thân của Nguyễn Công Hoan
và Nam Cao
Nguyễn Công Hoan sinh trưởng trong gia đình có truyền
thống quan lại, từ nhỏ đã hiểu chuyện quan trường còn Nam
Cao lại xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo với cuộc sống
thuần túy ở nông thôn. Tuy nhiên, cả hai nhà văn lớn đều sinh ra
trong hoàn cảnh xã hội giao thời Tây – Tàu nhố nhăng, nhiều
vấn đề phức tạp. Với cái nhìn sâu sắc và cảm quan nhạy bén, cả
hai đã dùng văn chương để phanh phui hiện thực xã hội đương
thời.
1.1.2. Các tác phẩm trước cách mạng
Nếu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tập trung xây dựng
những bức chân dung biếm họa về tầng lớp quan lại, địa chủ,
cường hào xấu xa, độc ác thì Nam Cao lại hướng ngòi bút của
mình để tìm hiểu bi kịch bị tha hóa cả thể xác và tâm hồn của
người nông dân cũng như người trí thức nghèo.
1.2. Khái niệm về phong cách và phong cách nghệ thuật
1.2.1. Khái niệm về phong cách và phong cách học
1.2.2. Phong cách chức năng ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật
1.2.2.1. Cơ sở phân chia phong cách chức năng
Dựa trên 3 cơ sở:
a. Dựa trên chức năng giao tiếp: Phong cách khẩu ngữ tự do, Phong cách nghệ
thuật
b. Dựa trên hình thức thể hiện: phong cách khẩu ngữ và phong cách gọt giũa
c. Dựa vào phạm vi giao tiếp
Như vậy, có thể phân loại các phong cách chức năng trong tiếng Việt thành 2
loại lớn: phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết. Trong đó:

nhìn từ bên ngoài. Ngoài ra, có thể phân chia thành nhiều loại điểm nhìn khác
nhau.
1.4. Ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật
1.4.1. Ngôn ngữ trần thuật
Ngôn ngữ trần thuật trước hết là ngôn ngữ văn học với các đặc trưng: tính
hình tượng, tính đa nghĩa, tính cá thể hóa và cụ thể hóa. Nó bao gồm: ngôn ngữ
của người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nước đôi. Trong đó, ngôn ngữ
người trần thuật giữ vai trò quyết định.
1.4.2. Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác
phẩm . Thông qua giọng điệu trần thuật trong tác phẩm, người đọc có thể nhận
thấy tất cả các chiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như
sở trường ngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ thể hiện trong đó.
Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong khi trần thuật,
tác giả sử dụng nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ
bản chủ đạo, chứ không đơn điệu một giọng trần thuật.
1.5. Các kiểu câu giàu sắc thái
1.5.1. Câu đặc biệt
1.5.2. Câu tỉnh lược
1.5.3. Câu dưới bậc
Chương 2: So Sánh đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn
Công Hoan và Nam Cao
2.1. Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật
2.1.1. Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan
2.1.1.1. Người trần thuật ngôi thứ 3 với điểm nhìn bên ngoài
Đây là dạng thức trần thuật tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan. Chính cách trần thuật này đem lại sự khách quan cho truyện đồng thời
làm bật lên tiếng cười châm biếm, đả kích vốn là sở trường của nhà văn. Người
kể chuyện thường giấu mặt, không đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật nhưng

Nghĩa là trong tác phẩm luôn luôn có sự di chuyển điểm nhìn từ người kể
chuyện đến nhân vật, từ điểm nhìn bên ngoài vào điểm nhìn bên trong thay đổi
theo sự phát triển của các tình tiết, sự kiện, biến cố trong truyện. Một trong
những truyện tiêu biểu cho dạng trần thuật này là Chí Phèo.
2.1.2.2. Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất
Chủ thể trần thuật ở đây chỉ đứng ngoài quan sát, kể lại, ít tham gia vào
câu chuyện. Các truyện tiêu biểu: Lão Hạc, Cái mặt không chơi được
2.1.3. So sánh đặc điểm người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam cao
- Điểm tương đồng: chủ yếu sử dụng phương thức trần thuật ngôi thứ nhất
và ngôi thứ 3 với lối kể khách quan, bình thản có phần lạnh lùng.
- Điểm khác biệt: Nguyễn Công Hoan thường sử dụng ngôi kể thứ 3 với
điểm nhìn bên ngoài (phong cách hướng ngoại) còn Nam Cao thường dùng ngôi
kể thứ 3 với điểm nhìn bên trong và phức hợp điểm nhìn (hướng nội).
2.2. Ngôn ngữ trần thuật
2.2.1. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
+, Ngôn ngữ bình dân, gần gũi với đời sống hàng ngày
+, Sử dụng lượng lớn ngôn ngữ đối thoại (tính kịch)
+, Ngôn ngữ phóng đại, khoa trương khi miêu tả chân dung nhân vật
+ Thủ pháp giễu nhại ngôn ngữ nhân vật (theo từng tầng lớp xã hội)
2.2.2. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao
+, Ngôn ngữ giản dị, gần gũi đời thường
+, Ngôn ngữ phóng đại khoa trương khi miêu tả nhân vật
+, Ngôn ngữ tinh tế, lãng mạn
+, Sử dụng đa dạng lời nói: trực tiếp, nửa trực tiếp, gián tiếp
2.2.3. So sánh đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan và Nam Cao
- Điểm tương đồng: sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi đời thường nhưng
rất hấp dẫn.
- Điểm khác biệt: ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan mang tính hướng ngoại (ít

nhân vật với sự méo mó, xấu xí, dị dạng (Chí phèo, Thị Nở, Lang Rận, mụ
Lợi ). Ngoài ra, ngay trong cách kể của Nam Cao cũng rất lạnh lùng với những
lời nhận xét thẳng thừng thậm chí chua cay.
3.1.2.3. Truyện ngắn Nam Cao với giọng văn giễu nhại, châm biếm, hài
hước
Với giọng văn châm biếm, hài hước, Nam Cao đã tạo nên tiếng cười chua
chát có phần nghẹn ngào bởi nó ẩn giấu nỗi xót xa về số phận con người.
3.1.2.4. Truyện ngắn Nam Cao với giọng văn chua chát, ngậm ngùi,
chan chứa yêu thương
Có thể nhận thấy giọng điệu này trong hầu hết các truyện ngắn Nam Cao.
Với ngòi bút nhân đạo, Nam Cao đã viết lên những trang văn xúc động về
những bi kịch của con người trong xã hội đương thời, khai thác bi kịch của họ
trong cuộc sống đời thường rất vụn vặt, nhỏ bé.
3.1.3. So sánh giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan và Nam Cao
- Điểm tương đồng: đều sử dụng giọng khách quan và giọng trào phúng
- Điểm khác biệt: Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tập trung chính ở giọng
lạnh lùng, khách quan và giọng trào phúng trong khi đó, truyện ngắn Nam
Cao có sự đa dạng hơn về giọng điệu trần thuật (giọng khái quát triết lí,
giọng lạnh lùng dửng dưng, giọng mỉa mai châm biếm, giọng ngậm ngùi
cảm thông ). Ngay trong giọng điệu của nhân vật của Nam Cao cũng có
sự đa dạng. Có bao nhiêu nhân vật thì có bấy nhiêu giọng điệu
3.2. Đặc điểm sử dụng một số kiểu câu (câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách
biệt)
3.2.1. Đặc điểm sử dụng một số kiểu câu của Nguyễn Công Hoan
Có thể khẳng định, Nguyễn Công Hoan rất có tài năng trong việc sử dụng
các kiểu câu giàu màu sắc phong cách. Qua khả sát, chúng tôi thu được kết quả:
câu đặc biệt (145 câu), câu tỉnh lược (159 câu) và câu dưới bậc (12 câu). Điều
này khẳng định sức sáng tạo mạnh mẽ của Nguyễn Công Hoan trong sử dụng
ngôn ngữ.

trị thực tiễn cho việc dạy – học môn Ngữ văn trong trường phổ thông hiện nay.
Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian cũng như khả năng nghiên cứu nên
cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của chúng tôi vẫn còn nhiều hạn chế . Vì thế,
chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý và trao đổi thêm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status