ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUỆ
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO
(QUA 2 TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, 5/ 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUỆ
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO
(QUA 2 TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Đạt
Hà Nội, 5/2013
MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong dòng văn học Hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945, Nam Cao và Nguyễn Công Hoan là hai gương mặt tiêu biểu, hai đại
diện ưu tú. Giữa lúc làng thơ văn Việt Nam đang đua nhau chạy theo thị hiếu
tầm thường của độc giả, đắm chìm trong những câu chuyện tình lãng mạn thì
Nguyễn Công Hoan và Nam Cao cũng như một số cây bút khác đã chọn cho
mình một hướng đi riêng, đem đến cho văn chương đương thời một tiếng nói
cầu rất cần được chú ý vì nó liên quan đến việc phân tích giá
trị nghệ thuật của tác phẩm và sự đóng góp của nhà văn đối
với việc hiện đại hóa văn học.
1.3. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan và
Nam Cao ở các phương diện khác nhau song vẫn chưa có công trình nghiên
cứu toàn diện, hệ thống về cả hai nhà văn trong cái nhìn tương quan so sánh
về đặc điểm phong cách ngôn ngữ. Đây cũng là ý nghĩa mới mẻ mà đề tài của
chúng tôi mong muốn thực hiện.
Là một giáo viên THPT giảng dạy bộ môn Ngữ văn,
chúng tôi muốn thực hiện đề tài “So sánh đặc điểm phong
cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan và
Nam Cao” nhằm phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy
tác giả và tác phẩm văn học trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là những
nhà văn của thế kỉ XX được nhiều người nghiên cứu nhất.
3
2.1. Vấn đề nghiên cứu Nguyễn Công Hoan
Ngay sau khi những truyện ngắn đầu tiên ra đời, Nguyễn
Công Hoan đã được giới nghiên cứu phê bình chú ý. Có rất
nhiều bài nhận xét, đánh giá về văn chương của Nguyễn Công
Hoan. Có thể kể đến những tác giả sau:
Các công trình nghiên cứu đầu tiên về Nguyễn Công Hoan phải kể đến
Trúc Hà với bài Một ngòi bút mới: ông Nguyễn Công Hoan đăng trên báo
Nam Phong năm 1932. Trúc Hà đã tỏ ra khá tinh tế khi nhận ra giọng văn mới
mẻ pha chất hài hước của Nguyễn Công Hoan.
Ngay sau đó, Hải Triều đã sắc sảo phát hiện ra ý nghĩa và tác dụng xã
hội của tiếng cười trong truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan.
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cũng cho rằng Nguyễn Công
Hoan sở trường về truyện ngắn hơn truyện dài. Còn Nguyễn Đăng Mạnh đã ra
trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 của Nguyễn Hoành Khung,
trong đó có một chương viết về Nam Cao; Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của
Phan Cự Đệ. Những cuốn nổi bật có thể kể Nam Cao đời văn và tác phẩm
(Hà Minh Đức, 1977); Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân dung (Phong
Lê, 1997); Nam Cao, người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực
(Phong Lê, 2001)
5
Những năm gần đây, có khá nhiều công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ,
luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Nam Cao. Bên cạnh đó hàng loạt các hội thảo
về Nam Cao được tổ chức. Có thể kể những cuộc hội thảo khoa học tiêu biểu
nhân 40 năm ngày mất của Nam Cao 1951 – 1991 (tháng 11/ 1991) và nhân
80 năm ngày sinh của Nam Cao 1917 – 1997 (tháng 10/ 1997)…Những buổi
hội thảo khoa học tôn vinh nhà văn Nam Cao càng chứng tỏ vị trí và vai trò
của ông trong làng văn học Việt Nam hiện đại và trong lòng tất cả những
người yêu mến tác phẩm của ông.
2.3. Cho đến ngày nay, số lượng các công trình, các bài nghiên cứu về
tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao quả là không nhỏ. Tuy nhiên,
các công trình, bài nghiên cứu thường tập trung vào vấn đề phê bình tác phẩm
văn học. Chưa có nhiều bài viết về đặc điểm phong cách của hai tác giả và
đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ đặc điểm phong cách
ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trong tương quan đối chiếu.
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu một cách đầy đủ về
những điểm tương đồng và khác biệt trong đặc điểm phong cách ngôn ngữ
của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết nhằm:
- Làm rõ những đặc điểm nổi bật về phong cách ngôn ngữ
của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trên các phương diện:
người trần thuật và điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật,
giọng điệu trần thuật, cách sử dụng một số kiểu câu giàu
thời đại, 2010), tuyển tập truyện ngắn Nam Cao ( Nxb Văn
học, năm 2000)
6. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp
sau:
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích phong cách học
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp cải biến
7. Ý nghĩa khoa học của đề tài
7.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài này thực hiện thành công
sẽ góp phần tích cực vào lí luận nghiên cứu phong cách nhà
văn Hiện thực phê phán nói chung và phong cách ngôn ngữ
của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nói riêng dưới cách nhìn
của ngôn ngữ học.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài
sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy về hai
tác giả Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đồng thời góp phẩn
đổi mới phương pháp giảng dạy môn văn học trong nhà
trường phổ thông.
8. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm ba phần:
+ Phần mở đầu.
+ Phần nội dung.
+ Phần kết luận.
8
Trong đó phần nội dung chia thành 03 chương.
+ Chương 1: Cơ sở lí luận .
+ Chương 2: So sánh đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trần
thuật của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao.
Khác với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao (tên thật là Trần
Hữu Tri), sinh ngày 29 – 10 – 1915 trong một gia đình trung
nông đông anh em tại làng Đại Hoàng thuộc tổng Cao Đà,
huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa
Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Bút danh Nam Cao là do
ghép hai chữ đầu tên huyện và tổng mà thành. Làng Đại
Hoàng của Nam Cao vốn là nơi có nhiều vấn đề mâu thuẫn,
tranh chức tranh quyền của bọn cường hào địa chủ ác bá,
nhiều người dân không thể sống được đã phải bỏ đi tha
phương cầu thực. Điều này đã được Nam Cao phản ánh chân
thực trong một số tác phẩm đặc biệt là trong Chí Phèo.
Như vậy, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao sinh trưởng
trong hai gia đình có hoàn cảnh khác nhau. Nếu Nguyễn Công
10
Hoan xuất thân trong gia đình có truyền thống quan lại, từ
nhỏ đã hiểu chuyện quan trường thì Nam Cao lại xuất thân từ
một gia đình nông dân nghèo với cuộc sống thuần túy ở nông
thôn. Tuy nhiên, cả hai nhà văn lớn đều sinh ra trong hoàn
cảnh xã hội giao thời Tây – Tàu nhố nhăng, nhiều vấn đề phức
tạp. Với cái nhìn sâu sắc và cảm quan nhạy bén, cả hai đã
dùng văn chương để phanh phui hiện thực xã hội đương thời.
1.1.2. Các tác phẩm trước cách mạng
1.1.2.1. Các tác phẩm trước cách mạng của
Nguyễn Công Hoan
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là một trong những người
đi tiên phong đặt nền móng cho văn học Hiện thực phê phán.
Nguyễn Công Hoan bắt đầu viết truyện ngắn từ rất sớm khi
mà văn xuôi quốc ngữ còn chập chững ở cái buổi bình minh.
Ông bắt đầu viết vào năm 1923 với tập truyện Kiếp hồng
nhan có tính chất thử bút. Đến năm 1929, Nguyễn Công
quyền rồi tham gia đoàn quân Nam tiến với tư cách là phóng
viên. Sau đó, Nam Cao trở ra Bắc tiếp tục hoạt động cách
mạng và sáng tác nhiều tác phẩm ở các thể loại khác nhau.
Ngày 30 – 11- 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu
Liên khu Ba, Nam Cao đã anh dũng hi sinh ở Ninh Bình do bị
địch phục kích.
Nam Cao bước chân vào con đường văn chương khi trên
văn đàn đặc biệt là trong dòng văn học Hiện thực phê phán
đã xuất hiện nhiều cây đại thụ như Nguyễn Công Hoan, Ngô
12
Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng Thế nhưng trên mảnh
đất đã được cày xới kỹ càng đó, Nam Cao không bị chìm lấp
trong những lối mòn mà ông vẫn tìm được cho mình một
hướng đi riêng không lẫn với bất cứ ai. Những tác phẩm của
Nam Cao đã phản ánh chân thật cuộc sống ngột ngạt, đen tối
của xã hội Việt Nam những năm trước cách mạng và dựng lên
cuộc sống đau khổ, bế tắc của những người nông dân, trí thức
nghèo. Trong truyện ngắn Nam Cao, nổi lên hai đề tài chính là
đề tài người nông dân và người trí thức nghèo. Nam Cao
hướng ngòi bút của mình vào miêu tả cuộc sống khốn khổ, bi
kịch không chỉ đói nghèo mà còn bị tha hóa về lương tâm của
người nông dân đồng thời dựng lên những bi kịch về đời sống
vật chất và tinh thần của người trí thức tiểu tư sản.
Như vậy, nếu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tập trung
xây dựng những bức chân dung biếm họa về tầng lớp quan
lại, địa chủ, cường hào xấu xa, độc ác thì Nam Cao lại hướng
ngòi bút của mình để tìm hiểu bi kịch bị tha hóa cả thể xác và
tâm hồn của người nông dân cũng như người trí thức nghèo.
Nam Cao là một trong những nhà văn góp phần hiện đại
hóa văn xuôi quốc ngữ trên tiến trình văn học. Và cũng giống
là khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, nói khác đi đó
là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao.” [16,
tr.7]. Phong cách học quan tâm đến giá trị biểu đạt, biểu cảm
– cảm xúc, cái giá trị phong cách của các phương tiện ngôn
14
ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu với những điều
kiện giao tiếp nhất định.
1.2.2. Phong cách chức năng ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật
1.2.2.1. Cơ sở phân chia phong cách chức năng
Phong cách ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử.
Phong cách ứng với mỗi chức năng xã hội của ngôn ngữ gọi là phong cách
chức năng. Mỗi cá nhân khi nói, khi viết đều theo một phong cách chức năng
nhất định. Có nhiều khuynh hướng bàn về cách phân chia phong cách chức năng
song chủ yếu dựa vào các cơ sở chung như sau:
a. Dựa trên chức năng giao tiếp
Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã dựa vào chức năng giao tiếp của
ngôn ngữ để phân chia các phong cách chức năng:
- Phong cách khẩu ngữ tự do: thông báo những nội dung thông thường thuộc
phạm vi sinh hoạt hàng ngày.
- Phong cách nghệ thuật: thông báo về sự vật, hiện tượng dưới dạng hình
tượng nghệ thuật.
b. Dựa trên hình thức thể hiện
Dựa trên hình thức thể hiện khác nhau để diễn đạt nội dung tư tưởng, tình
cảm (hình thức nói hoặc viết), các nhà nghiên cứu phân chia phong cách chức
năng thành hai loại là phong cách khẩu ngữ và phong cách gọt giũa.
c. Dựa vào phạm vi giao tiếp
Dựa vào phạm vi giao tiếp khác nhau, một số tác giả chia tách thành phạm vi
giao tiếp gia đình và phạm vi giao tiếp mang tính chất xã hội.
Như vậy, có điểm chung trong các cách phân chia trên đó là phân chia theo
bậc, từ bậc lớn lại tách thành các bậc nhỏ hơn.
nhằm phục vụ cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con người” [16, tr.276].
So với các phong cách chức năng khác, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
có những đặc trưng riêng biệt. Trước hết, các đơn vị ngôn ngữ trong phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật có chức năng tác động hình tượng tức là có khả năng đem
lại cho người đọc những tình cảm, những rung động về cảm xúc như vui –
buồn , yêu thương – căm ghét, hạnh phúc – đau khổ Với các phong cách khác
như phong cách báo chí hay phong cách chính luận, chức năng tác động đến tình
cảm người đọc chỉ là hệ quả thứ hai của quá trình còn trong phong cách nghệ
thuật, chức năng này giữ vai trò đầu tiên.
Ví dụ: Trong Chinh Phụ ngâm khúc nguyên tác Đặng Trần Côn – bản
dịch của Đoàn Thị Điểm – câu thơ:
“Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
gợi cho người đọc nỗi buồn về tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ có
chồng đi chinh chiến đồng thời cũng gợi lên trong lòng độc giả sự oán ghét chiến
tranh phong kiến phi nghĩa – nguyên nhân dẫn đến sự chia lìa của đôi vợ chồng
trẻ.
Hay khi đọc những câu thơ Nguyễn Du tả cảnh thiên nhiên mùa xuân tươi
đẹp trong Truyện Kiều:
“Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
17
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”
người đọc lại rung lên tình yêu đối với vẻ đẹp của đất trời, thấy trong lòng rộn
ràng, náo nức như được sống trong không khí của ngày xuân.
Chính nhờ khả năng tác động mạnh mẽ tới tình cảm của độc giả mà
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có sắc thái riêng, độc đáo so với các phong
những hình tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ phải sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ
phải được dùng để thực hiện chức năng thẩm mĩ tức là mang lại cho người đọc
những rung động mạnh mẽ.
Trong thơ ca, ngôn ngữ thơ được gọt giũa, trau chuốt về từ ngữ, về nhịp
điệu, hình ảnh, vần, thanh để đem đến cho người đọc sự đồng điệu về cảm xúc:
Ví dụ:
Nước biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
(Nguyễn Trãi)
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
(Nguyễn Du)
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Hàn Mặc Tử)
Trong văn xuôi, tính thẩm mĩ được thể hiện ở việc sử dụng ngôn ngữ giàu
“chất thơ” hay giàu chất họa. Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu văn bản như
vậy. Ngôn ngữ trong truyện ngắn Thạch Lam được nhận xét như “một bài thơ
trữ tình bằng văn xuôi”. Ví dụ, trong Hai đứa trẻ, Thạch Lam miêu tả khung
cảnh của phố huyện lúc chiều tàn: “Tiếng trống thu không trên cái chòi cao
19
của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực
như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre
làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một
chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo
gió nhẹ đưa vào”.
So với tất cả các phong cách khác, ngôn ngữ trong phong cách nghệ
thuật có tính sinh động và biểu cảm cao nhất. Đây là một trong các yếu tố làm
nên chất trữ tình của văn bản nghệ thuật. Để nối liền cảm xúc giữa tác giả và
độc giả không gì bằng các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ. Vì thế, điểm
hết thể hiện ở sự sáng tạo ngôn ngữ. Sự sáng tạo ngôn ngữ này chính là đóng
góp của nhà văn làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ của dân tộc. Bởi
vậy, khảo sát phong cách ngôn ngữ nhà văn chính là khảo sát chất giọng riêng
của nhà văn, tìm ra qui luật riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ và sự sáng tạo
của nhà văn trên phương diện ngôn ngữ .
Ở đề tài này, chúng tôi chỉ trình bày một số biểu hiện làm nên phong cách
ngôn ngữ của nhà văn: người trần thuật và điểm nhìn trần thuật; ngôn ngữ trần
thuật; giọng điệu trần thuật, cách sử dụng một số kiểu câu đặc biệt (thủ pháp
nghệ thuật).
1.3. Khái niệm người trần thuật và điểm nhìn trần thuật
1.3.1. Khái niệm về người trần thuật và ngôi trần thuật
Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, thể hiện ở
việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn
cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần thuật không chỉ là lời
21
kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại
tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Ngôn ngữ trần thuật
do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ
cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả.
Người trần thuật giữ vai trò trung tâm trong tất cả các yếu tố cấu trúc
của văn bản nghệ thuật. Đó là phương diện để nhận thức thế giới nghệ thuật,
nó có những đặc điểm riêng, có quy luật phát triển và mối quan hệ qua lại với
các yếu tố khác như ngôi, điểm nhìn, tiêu điểm, ngôn ngữ trần thuật Thuật
ngữ người trần thuật còn được gọi là người kể chuyện, chủ thể trần thuật, chủ
thể kể chuyện
Trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó.
Trong các thể loại văn học trực tiếp hay gián tiếp đều có người trần thuật.
Người trần thuật không những chỉ tổ chức ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quan
trọng về mặt kết cấu, chi phối ngôn ngữ của nhân vật.
Trong trường hợp tác giả đóng vai trò người trần thuật, tác phẩm có
bổ sung về mặt tư tưởng, lập trường, thái độ, tình cảm cho cái nhìn tác giả,
làm cho sự trình bày, tái tạo lại con người và cuộc sống trong tác phẩm thêm
phong phú. Ngôi kể còn có ý nghĩa trong việc tạo thành giọng điệu của văn
bản, bởi vì giọng điệu bao giờ cũng phải là giọng của một ai đó, được thể hiện
bằng những phương tiện ngôn từ nhất định.
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm đến việc nghiên cứu lý
giải vấn đề người trần thuật trong tác phẩm tự sự. Theo các tác giả của Từ
23