SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1”
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Ngay từ tấm bé, ai cũng được nghe giai điệu bài hát: “Tập đếm” quen thuộc của tác
giả Hoàng Công Sử:
“ Nào các bạn cùng ra đây, ta hát chung một bài nào.
Nào các bạn cùng giơ tay, ta đếm cho thật đều.
Một với một là hai, hai thêm hai là bốn.
Bốn với một là năm, năm ngón tay sạch đều.”
Từ khi còn nhỏ, ông bà, bố mẹ và các cô giáo mầm non đã dạy cho trẻ nhỏ bài hát
này để trẻ vừa biết hát vừa kết hợp giơ những ngón tay nhỏ xíu, đáng yêu lên để học toán
ở mức độ đơn giản nhất. Trẻ thích và thuộc rất nhanh. Vậy còn giai đoạn trẻ vào lớp một,
lớp đầu tiên trong bậc Tiểu học thì sao? Với rất nhiều môn học mới: Mĩ thuật, âm nhạc,
thể dục, tự nhiên xã hội, thủ công Hầu hết các môn này học sinh đều chủ động tiếp thu
một cách tích cực, rất yêu thích. Trẻ học sôi nổi vì trẻ đã được làm quem ngay từ mẫu
giáo. Nhưng còn Toán học thì đó là cả một vấn đề lớn đối với cả thầy và trò. Làm sao để
học sinh biết làm toán với những con số khô khốc, những phép tính cộng, trừ. Những kĩ
năng cơ bản nhất không thể thiếu trong bậc Tiểu học cũng như trong cuộc sống. Trong
khi xã hội chúng ta đang hoà cùng thế giới bắt nhịp vào cuộc sống hiện đại rất nhanh.
Một xã hội hiện đại với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, khoa học kĩ
thuật. Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào trẻ cũng cần phải có kiến thức cho riêng mình không
dựa nhờ vào ai. Để làm được điều đó, trẻ phải nắm chắc được kiến thức toán học, đọc
thông viết thạo. Đặc biệt là môn Toán (môn học cơ bản). Môn toán ở lớp 1 mở đường cho
trẻ đi vào thế giới diệu kì của Toán học, rồi mai đây các em lớn lên sẽ trở thành một bác
sĩ giỏi, một nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ, trở thành những người lao động sáng tạo
trên mọi lĩnh vực đời sống, sản xuất được sử dụng cộng nghệ hiện đại như máy tính
xách tay. Nhưng các em không bao giờ quên được những ngày đầu tiên đến trường học
IV. Phạm vi nghiên cứu:
- Sách giáo khoa Toán 1.
- Sách giáo viên Toán 1.
- Chuẩn kiến thức kĩ năng Toán lớp 1.
- Vở bài tập Toán của học sinh khối 1 và học sinh lớp 1A3.
- Các phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học.
- Tập thể giáo viên khối 1 trường Tiểu học Ba Trại.
V. Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 10 - 2012 đến 4 - 2013.
VI. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp đàm thoại, gợi mở.
- Phương pháp luyện tập.
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG.
Chương I: Cơ sở lý luận.
I. Vị trí và yêu cầu của môn Toán ở Tiểu học.
1. Vị trí của dạy học môn Toán.
Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vai trò
quyết định vì:
- Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời
sống, rất cần thiết cho người lao động, để học tiếp các môn học khác ở Tiểu học và học
tiếp môn Toán ở Trung học.
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng
không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó học sinh co phương pháp nhận thức một số
mặt của thế giới xung quanh, biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống.
- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ. Suy
luận, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh
Tập dượt, so sánh, phân tích, tổng hợp, trìu tượng hoá, khát quát hoá trong phạm vi của
nội dung chương trình toán lớp 1.
3. Những yêu cầu cơ bản của việc dạy học môn Toán ở lớp 1.
a. Yêu cầu:
* Kiến thức, kĩ năng:
- Biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên từ 0 đến 10.
- Thuộc các bảng tính đã học. Biết thực hiên các phép tính cộng, trừ không nhớ
trong phạm vi 100. Biết tên gọi, kí hiệu đơn vị đo độ dài và biết dùng dụng cụ đo độ dài,
biết xem ngày tháng trong một số trường hợp đơn giản. Nhận dạng và gọi đúng tên, dùng
thước để vẽ các hình đã học. Giải và trình bày bài toán có lời văn.
b. Trình độ tối thiểu cần đạt:
- Học sinh phải đọc , viết, so sánh được các số trong phạm vi 100.
- Thực hiện phép tính: nhanh, chính xác, nắm chắc thứ tự khi thực hiện phép tính
các nhiều dấu phép tính cộng, trừ.
- Tìm thành phần chưa biết của phép tính ở mức độ đơn giản (dạng điền số thích
hợp vào ô trống).
- Đọc, biết vẽ, đo đoạn thẳng có độ dài cho trước (cm). Xem lịch, đồng hồ.
- Yếu tố hình học: Nhận biết, gọi đúng tên điểm, đoạn thẳng các hình đã học.
- Giải và trình bày bài giải các bài toán có lời văn không quá 3 bước với cấu trúc
đơn giản.
II. Nội dung chương trình dạy Toán lớp 1.
Môn Toán và môn Học vần (kì II chuyển sang Tập đọc) chiếm 3 phần thời gian, số
tiết so với thời gian môn học khác. Mỗi tiết 35-40 phút được chia làm 4 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Từ tuần 1 đến tuần 6. Học sinh được học các số đến 10, hình vuông,
hình tròn, hình tam giác.
- Giai đoạn 2: Từ tuần 7 đến tuần 17. Học sinh học về phép cộng, phép trừ trong
phạm vi 10. Giai đoạn này lần đầu tiên học sinh được làm quen với dạng toán: nhìn hình
vẽ, nêu thành bài toán ở mức độ đơn giản rồi nêu phép tính.
- Giai đoạn 3: Từ tuần 18 đến hết tuần 28. Giai đoạn này học sinh học về các số
trong đời sống: cần coi trọng phương pháp thực hành, coi trọng rèn luyện các kĩ
năng thực hành, hết sức hạn chế các phương pháp làm cho học sinh ít hoạt động.
Vì vậy cần chọn các phương pháp để góp phần giúp học sinh nhận biết được
nguồn gốc thực tế và khả năng vận dụng trong đời sống hàng ngày của các nội
dung trừu tượng của môn Toán.
2. Phương pháp dạy học Toán.
a. Phương pháp trực quan: Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động trực
tiếp trên các hiện tượng, sự vật cụ thể để dựa vào đó nắm bắt được kiến thức, kĩ năng
của môn Toán.
b. Phương pháp thực hành luyện tập: là phương pháp dạy học liên quan đến hoạt
động thực hành luyện tập các kiến thức, kĩ năng của môn học, Chiếm 50% tổng thời
gian dạy học Toán. Vì vậy phương pháp này được thường xuyên sử dụng trong dạy
học Toán ở Tiểu học.
Làm trên bảng đen.
Làm trên bảng con của học sinh.
Luyện tập Toán trong vở .
Làm trong phiếu học tập.
c. Phương pháp gợi mở vấn đáp: là phương pháp sử dụng một hệ thống các câu
hỏi để hướng dẫn học sinh suy nghĩ, lần lượt trả lời từng câu hỏi, từng bước dần đến
kết luận cần thiết, giúp học sinh tự mình tìm ra kiến thức mới.
d. Phương pháp giảng giải minh hoạ: Phương pháp này dùng lời nói để giải thích,
kết hợp với các phương tiện trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÂN MÔN TOÁN LỚP 1
I. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG TIÊU HỌC.
- Trong những năm trở lại đây, việc dạy học Toán cho học sinh Tiểu học được Bộ
Giáo Dục, Sở Giáo Dục, Phòng Giáo Dục, đặc biệt là Ban giám hiệu, các thầy cô và các
bậc phụ huynh rất quan tâm. Chính vì thế, mục tiêu rèn Toán cho học sinh lớp 1 cũng như
lớp 2 được đặt lên hàng đầu.
1. Về giáo viên:
- Việc soạn giáo án chuẩn bị cho việc dạy trên lớp đối với 1 số giáo viên cũng như
việc cho điểm và nhận xét trong vở học sinh cũng chưa được chu đáo việc dạy Toán của
giáo viên ở các lớp Tiểu học phải được tiến hành theo hai khâu cơ bản sau:
- Soạn giáo án Toán:
- Thực hiện giáo án trong giờ dạy trên lớp.
+ Đồ dùng dạy học : còn sơ sài , tạm bợ, cũ, đồ dùng trực quan chưa bắt mắt để thu
hút học sinh vào tiết học
+ Giáo viên ngại soạn giáo án Power Point và dạy trình chiếu trong khi trường đã
đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho giáo viên khi giảng dạy.
+ Phương pháp dạy học: Chưa sử dụng nhiều phương pháp dạy học như : phương
pháp phương pháp trực quan, so sánh, phương pháp luyện tập mà chỉ sử dụng phương
pháp gợi mở qua quýt rồi cho học sinh làm bài tập rồi chuyển sang tiết khác .Giáo viên
nghĩ :” Giải Toán có lời văn” chỉ cần thiết khi học sinh bước vào “tiết 84- Bài toán có lời
văn” nên chỉ chú trọng vào dạy kĩ năng đặt tính, làm tính của học sinh mà không nghĩ đó
là những bài toán làm bước đệm cho học sinh được bắt đầu từ” tiết 26: Phép cộng trong
phạm vi 3” tuần 7 cho đến: “tiết 63: Luyện tập” tuần 16 mới kết thúc giai đoạn chuẩn bị
chính thức bước vào giai đoạn học “Giải Toán có lời văn”
+ Trình bày bảng: chưa khoa học, chữ viết mẫu xấu, chưa tỉ mỉ.
Môn Toán rất khô và cứng vì thế, chưa tạo được sự hững thú khi dạy và học phân
môn này, ở trong một số trường khi đi kiểm tra, tình trạng như trên vẫn còn tồn tại dẫn
đến hiệu quả trong tiết Toán chưa đạt được như mong muốn .
2. Về học sinh.
- Vào lớp 1, lần đầu tiên trẻ được tiếp xúc với toán học với tư cách là 1 môn học, rèn
luyện với các thao tác tư duy như là so sánh, quan sát, phân tích,. . . .Thật là một thử
thách lớn đối với học sinh trong khi trẻ đọc chưa thông, viết chưa thạo. Làm sao để trẻ
tập trung chú ý vào để học. Chủ yếu do 1 số nguyên nhân sau:
+ Tư duy của học sinh còn mang tính trực quan là chủ yếu.
+ Đọc được đề bài nhưng chưa hiểu đề bài, chưa biết thế nào là tìm hiểu bài toán có
- Đồng chí có thích dạy Toán không?
- Trong tiết dạy giải Toán có lời văn đồng chí thường chú trọng những bước nào?
Vì sao?
- Đồng chí thường sử dụng phương pháp nào trong tiết dạy Toán đó?
- Trong quá trình dạy giải Toán có lời văn đồng chí thường gặp những khó khăn gì?
- Học sinh thường mắc những lỗi gì trong bài khi học giải Toán có lời văn?
- Đồng chí có cách nào để đổi mới phương pháp dạy học Toán?
- Đồng chí có kiến nghị gì với cấp trên?
2. Khảo sát kĩ năng học giải Toán có lời văn của học sinh lớp 1.
Tôi đã tìm hiểu và quyết định yêu cầu học sinh làm 1 số yêu cầu sau:
Câu 1: Trả lời các câu hỏi sau:
- Em có thích học giải Toán có lời văn không?
- Sau khi thầy cô hướng dẫn giải toán có lời văn em thấy mình có thể làm được bài
không?
- Điểm bài Toán đó của em như thế nào?
- Khi giải bài toán có lời văn em thường mắc những lỗi gì?
Câu 2: Bài giải
Học sinh giải bài toán sau:
Lúc đầu tổ em có 5 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất cả mấy
bạn?
Sau khi tiến hành kiểm tra trước thực nghiệm, tôi thu được kết quả sau:
TS Lớp HỌC SINH
Viết đúng câu
lời giải
Viết đúng phép
tính
Viết đúng
đáp số
Hỏi có tất cả mấy con chim?
Học sinh có thể nêu:
1. Có 4 con chim đang đậu, 1 con nữa bay đến. Hỏi có tất cả mấy con chim?
Học sinh viết: 4 + 1 = 5
1 + 2 = 3
2. Có 1 con chim đang bay và 4 con chim đậu trên cành. Hỏi có tất cả mấy con
chim?
Học sinh viết phép tính: 1 + 4 = 5
3.Có 5 con chim, bay mất 1 con. hỏi còn lại mấy con?
Học sinh viết phép tính: 5 - 1 = 4
3. Có tất cả 5 con chim, trong đó có 4 con đậu trên cành. Hỏi có mấy con đang bay?
Học sinh viết phép tính: 5 - 4 =1
Có rất nhiều cách để nêu, giải bài, có nhiều kết quả đúng toán tôi thường xuyên
khuyến khích học sinh làm như vậy. nhưng với bức tranh của bài 5b trang 50. Tôi sẽ
hướng dẫn để học sinh có thể viết:
1 + 4 = 5
để phép tính phù hợp với tình huống của bài toán nêu ra.
- Tương tự như vậy cho đến hết tiết 61: Luyện tập trang 85.
- Như vậy qua giai đoạn 1 học sinh của tôi đã hình thành tốt kĩ năng khi làm dạng
bài tập như trên. Đó là:
2. Giai đoạn 2: Tuần 16: (Từ tiết 62 trang 87 đến hết tiết 83 trang 113) Từ giai đoạn
này, học sinh không quan sát tranh để nêu phép tính thích hợp nữa mà chuyển sang: “
Viết phép tính thích hợp” dựa vào tóm tắt bài toán.
Bài 3( b) trang 87: Có : 10 quả bóng
Cho: 3 quả bóng
Còn : . . . quả bóng
Tương tự như ở giai đoạn 1.Tôi tiếp tục cho học sinh đọc nhiều lần tóm tắt bài toán
- Dạy dạng toán này tôi phải xác định làm thế nào giúp các em điền đủ được các dữ
kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài toán và bước đầu các em hiểu được bài
toán có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho và đâu là cái cần tìm.
Bước 1: GV đặt câu hỏi - HS trả lời và điền số còn thiếu vào chỗ chấm để có bài toán.
Giáo viên kết hợp dùng phấn màu ghi số còn thiếu vào bài toán mẫu trên bảng lớp.
Bước 2: Hướng dẫn các em xác định cái đã cho và cái cần tìm. (dữ kiện và yêu cầu bài
toán). Dùng phấn màu gạch chân dữ kiện và từ quan trọng (tất cả) của bài toán.
Sau khi hoàn thành 4 bài toán giáo viên nên cho các em đọc lại và xác định bài 1
và bài 2 thiếu cái đã cho; bài 3 thiếu cái cần tìm; bài 4 thiếu cả cái đã cho và cái cần tìm.
Qua đó giúp các em hiều được đây là dạng toán có lời văn phải có đủ dữ kiện.
b.Quy trình giải toán có lời văn.
Gồm các bước:
- Tìm hiểu bài toán.
- Tóm tắt bài toán.
- Giải bài toán.( gồm 3 phần: câu lời giải, phép tính, đáp số).
Ví dụ: Dạy bài: Giải bài toán có lời văn
Bài 1 trang 122: An có 4 quả bóng xanh vàcó 5 quả bóng đỏ. Hỏi An có tất cả mấy quả
bóng ?
Bước 1: Tìm hiểu bài: Tôi yêu cầu học sinh
- Quan sát tranh minh hoạ trong SGK
- Đọc bài toán.
- Đặt câu hỏi tìm hiểu bài.
+ Bài toán cho biết gì? (An có 4 quả bóng xanh )
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (và có 5 quả bóng đỏ)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? (An có tất cả mấy quả bóng?)
Tôi gạch chân dữ kiện, yêu cầu của bài toán.
Bước 2: Tóm tắt bài toán.
Tôi hướng dẫn để học sinh hoàn thiện tóm tắt của bài toán. Lúc này học sinh chỉ cần
dựa vào bài toán cho biết gì và bài toán hỏi gì là đã hoàn thiện tóm tắt.
toán có lời văn cũng là một việc làm rất khó. Giáo viên phải hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn thận.
Tuy nhiên việc học sinh làm sai hoặc viết câu lời giải chưa đúng cũng là điều khó tránh
khỏi. Đây là 1 số trường hợp học sinh hay mắc phải.
Trường hợp 1:
Bài giải
4 + 5 = 9 quả bóng
Đáp số : 9 quả bóng.
( Phan Thành Dương. Học sinh chưa biết trình bày sao cho cân đối. Chưa
biết viết câu lời giải.)
Trường hợp 2:
Bài giải
4 + 5 = 9 ( Quả bóng)
Đáp số: 9 quả bóng.
An có số quả bóng là:
( Đoàn Thị Mai Hoa. Học sinh không biết đưa câu lời giải lên trên phép tính)
Trường hợp 3:
Bài giải
An còn số quả bóng là:
4 + 5 = 9 ( quả bóng)
Đáp số: 9 quả bóng
( Ngô Tiến Tài. Học sinh không biết viết câu lời giải).
Trường hợp 4:
Bài giải
An có tất cả số quả bóng là:
4 + 5 = 9 ( quả bóng)
Đáp số: 9 quả bóng
( Nguyễn Diệu Linh. Học sinh hiểu và làm được bài).
III. DẠY THỰC NGHIỆM.
Sau khi tiến hành 1 số giải pháp : “ Giải toán có lời văn”cho học sinh lớp 1.Tôi ra
Qua việc nghiên cứu, áp dụng phương pháp rèn kĩ năng “giải toán có lời văn” cho
học sinh lớp 1.Tôi nhận thấy nếu giáo viên ý thức được việc giải toán có lời văn mới lạ
với học sinh ở phần câu lời giải thì ngay từ đầu năm khi học sinh được tiếp xúc với dạng
toán: “ viết phép tính thích hợp ”. Học sinh được rèn luyện ngay từ việc nêu miệng bài
toán, nêu miệng câu trả lời, nêu miệng phép tính thì sang đầu kì II việc học dạng “ Giải
Toán có lời văn” sẽ rất đơn giản và nhẹ nhàng đối với cả giáo viên và học sinh.Tự bản
thân tôi thấy:
- Giáo viên gương mẫu, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ.