SKKN môn Công nghệ THCS Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG
GIẢNG DẠY"
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn kinh nghiệm:
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, cuộc cách mạng khoa học công nghệ như
một luồng gió mới thổi vào và làm lay động nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Hơn bao giờ
hết con người đang đứng trước những diễn biến thay đổi to lớn, phức tạp về lịch sử xã
hội và khoa học- kỹ thuật. Nhiều mối quan hệ mâu thuẫn của thời đại cần được giải quyết
trong đó có mâu thuẫn yêu cầu ngành GD- ĐT nói chung và người thầy chúng ta nói
riêng phải giải quyết ngay, đó là mâu thuẫn giữa quan hệ sức ép của khối lượng tri thức
ngày càng tăng và sự tiếp nhận của con người có giới hạn, bởi vì sự nhận thức của con
người nói chung là tuyệt đối và không có giới hạn song sự thu nhận, hiểu biết kiến thức
của mỗi con người đều hữu hạn và tương đối.
Nhiệm vụ trên đây đã đặt ra cho người giáo viên bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn thì phải cải tiến phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục để đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới
Như chúng ta đã biết, môn Công nghệ có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo
dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết đơn giản về trồng trọt sẽ giúp các em biết các công
việc trong cuộc sống hằng ngày, giúp các em có thể định hướng nghề nghiệp trong tương
lai.
Như chúng ta thấy, con đường nhận thức ngắn nhất sẽ là con đường “Đi từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng” và phương tiện hết sức cần thiết để đi được trên “Con
đường” nhận thức này chính là các “Dụng cụ trực quan”.
Đặc biệt trong hướng dạy học mới hiện nay, “Hướng tích cực hoá hoạt động học tập của
học sinh”, yêu cầu người giáo viên phải biết tạo điều kiện cho học sinh tự tìm tòi, khai
2
thác kiến thức, biết điều khiển hoạt động nhận thức của mình bằng các “Đồ dùng trực
quan”, chính vì thế mà “Đồ dùng trực quan” đã trở thành một nhân tố khá quan trọng

giảng dạy môn Công nghệ ở trường THCS nơi tôi đang giảng dạy, đồng thời cũng là để
trao đổi, học tập kinh nghiệm của các thầy giáo, các đồng nghiệp nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn cũng như phương pháp dạy học. Những vấn đề mà tôi nêu ra trên cơ sở được
trang bị những kiến thức cơ bản nhất, phương pháp dạy học Công nghệ cũng như việc sử
dụng đồ dùng trực quan, thực nghiệm sư phạm ở trường THCS.
Nếu thầy giáo chỉ làm chức năng truyền thụ kiến thức thì sẽ thực hiện phương châm
“Thầy giáo là trung tâm’’ học sinh sẽ thụ động tiếp nhận kiến thức, sẽ học thuộc lòng
những gì thầy giáo giảng và cho ghi cũng như trong sách đã viết. Đó chính là cách giảng
dạy giáo điều, nhồi sọ biến giáo viên thành người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ
động tiếp nhận những điều đã nghe, đã đọc. Có nhà giáo dục đã gọi đó là cách “Nhai kiến
thức rồi mớm cho học sinh”.
Chúng ta đều biết rằng việc dạy học được tiến hành trong một quá trình thống nhất gồm
hai khâu có tác dụng tương hỗ nhau: giảng dạy và học tập. Cả việc giảng dạy và học tập
đều là một quá trình nhận thức, tuân theo những quy luật nhận thức. Nhận thức trong dạy
học được thể hiện trong hoạt động của giáo viên và học sinh đối với việc truyền thụ và
tiếp thu một nội dung khoa học được quy định trong chương trình với những phương
4
pháp dạy học thích hợp, những phương tiện hình thức cần thiết để đạt được kết quả nhất
định đã đề ra.
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát huy
tính tích cực của học sinh trong học tập. Nhà giáo dục người Đức là Disterverg đã khẳng
định đúng đắn rằng: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân lí, người giáo viên giỏi dạy
cách tìm ra chân lí”.
Điều này có nghĩa rằng người giáo viên không chỉ giới hạn công việc của mình ở việc
đọc cho học sinh ghi chép những kiến thức có sẵn, bắt các em học thuộc lòng rồi kiểm tra
điều ghi nhớ của các em thu nhận được ở bài giảng của giáo viên hay trong sách giáo
khoa. Điều quan trọng là giáo viên cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản (bao
gồm kiến thức khoa học, sự hiểu biết về các quy luật, nguyên lí và các phương pháp nhận
thức…) làm cơ sở định hướng cho việc tự khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học
tập và cuộc sống.

sở lí luận là điều quan trọng trong thực tiễn dạy học bộ môn.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đối với học sinh. Các em phải được rèn luyện ở mức độ
cao hơn khả năng tự học, tự nhận thức và hành động cũng như có những tìm tòi trong tư
duy,sáng taọ.
6
So sánh kiểu dạy học truyền thống và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh thông qua việc tiếp cận, làm việc với đồ dùng trực quan chúng ta thấy rõ
những điều khác biệt cơ bản trong quá trình dạy và học. Xin trích dẫn một vài ví dụ của
giáo sư Phan Ngọc Liên và tiến sĩ Vũ Ngọc Anh để thấy rõ sự khác biệt đó:
KIỂU DẠY HỌC TRUYỀN
THỐNG
PPDH PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HS
1. Cung cấp nhiều sự kiện, được
xem là tiêu chí cho chất lượng
giáo dục.
2. GV là nguồn kiến thức duy
nhất, phần lớn thời gian trên lớp
dành cho GV thuyết trình, giảng
giải, HS thụ động tiếp thu kiến
thức thông qua nghe và ghi lại
lời của GV.
3. Học sinh chỉ làm việc một
mình trên lớp, ở nhà hoặc với
GV khi kiểm tra.
4. Nguồn kiến thức thu nhận
được của HS rất hạn hẹp, thường
1. Cung cấp những kiến thức cơ bản
được chọn lựa phù hợp với yêu cầu,
trình độ của HS, nhằm vào mục tiêu

Về lí luận và thực tiễn, việc phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụng đồ
dùng trực quan trong học tập môn Công nghệ là điều cần thiết và quan trọng để nâng cao
hiệu quả giáo dục. Đó chính là lí do chủ yếu để nghiên cứu vấn đề này. Nội dung gồm:
a. Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy-học Công nghệ
b. Thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy -học ở trườngTHCS.
8
c. Những biện pháp sư phạm để phát huy sử dụng đồ dùng trực qua có hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu:
a- Đối tượng nghiên cứu.
- Nội dung chương trình SGK.
- Sách hướng dẫn giáo viên, phân phối chương trình Công nghệ THCS, và các tài
liệu có liên quan
- Đối tượng HS THCS đặc biệt là HS lớp 7,lớp 9.
- Giáo viên dạy bộ môn và thực trạng việc sử dụng đồ dùng trực quan ở trường
THCS hiện nay.
b- Nhiệm vụ, mục đích.
- Nhìn rõ thực trạng việc sử dụng đồ dùng trực quan ở trường THCS những ưu
điểm, nhược điểm.
- Nguyên tắc và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
- Rút ra những yêu cầu chung và bài học kinh nghiệm khi sử dụng đồ dùng trực
quan trong giảng dạy gắn với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học m«n Công nghệ .
c- Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, phán đoán.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp khảo sát đánh giá.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
9
I. Thực trạng của vấn đề:
Thực tiễn của việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong trường THCS hiện
nay.

1/ Tình hình sử dụng các dụng cụ trực quan đối với việc dạy học trước đây:
- Trước đây, đa số các trường đều thiếu thốn về cơ sở vật chất, nghèo nàn về các thiết bị
dạy học đối với bộ môn.
- Theo quan niệm giáo dục lạc hậu trước đây cho rằng dụng cụ trực quan là phương tiện
cần thiết để giáo viên truyền thụ kiến thức mới, dụng cụ minh hoạ cho các kiến thức đã
truyền đạt, còn đối với học sinh chỉ có tác dụng chấp nhận và ghi nhớ.
- Theo phương pháp sử dụng này thì dụng cụ trực quan chưa phát huy hết vai trò của
mình, đôi khi chưa thể hiện được tính trực quan và tính khoa học của nó, giờ dạy Công
nghệ sẽ rơi vào những hạn chế sau:
+ Giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc lĩnh hội
kiến thức.
+ Các kiến thức trồng trọt do giáo viên cung cấp học sinh sẽ không hiểu sâu, nhớ kỹ bằng
chính các em tự nhận thức.
11
+ Các nguồn trí thức từ dụng cụ trực quan chưa thực sự hấp dẫn đối với các em. Do đó
không gây hứng thú học tập, không có khả năng phát triển tư duy.
+ Chưa tạo cho học sinh các kỹ năng quan trọng như: biết chăm sóc cây trồng, nhân
giống cây ăn quả, bón phân thúc, làm xiro…
2. Những biện pháp mới đã thực hiện:
Để cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình giáo dục mới ở bộ môn
Công nghệ, thiết bị các trường học đã trang bị khá đầy đủ các loại dụng cụ trực quan, chủ
yếu là các loại sau:
- Hình vẽ, tranh, ảnh.
- Mô hình.
Đối với các loại phương tiện này thì người giáo viên Công nghệ cần có phương pháp sử
dụng như thế nào.
a/ Đối với hình vẽ, tranh, ảnh:
*) Đối với hình vẽ:
Học sinh lớp7 cũng như các lớp khác rất thích xem tranh ảnh,
Vì vậy giáo viên phải làm nổi néi dung tranh ¶nh để gây hứng thú cho học sinh, kích

khái quát rút ra những kết luận
Ví dụ : Khi dạy bài 14 “Nhận biết các loại thuốc trừ sâu” GV phải sưu tầm các tranh ảnh
có trong các tư liệu, nhãn, mác thuốc trừ sâu. Học sinh sưu tầm ở gia đình các lọ thuốc
trừ sâu đã dùng, các túi thuốc đã được sử dụng đem đến lớp. Từ đó các tranh ảnh mới
phong phú, đa dạng, học sinh dễ phân biệt được các loại thuốc khác nhau
Như vậy việc sử dụng tranh ảnh vừa khai thác được nội dung kiÕn thøc thể hiện trong
tranh ảnh bổ sung cho bài giảng, vừa phát huy được năng lực tư duy cho HS, kích thích
trí tưởng tượng phong phú, tạo hứng thú học tập cho các em
* Cách sử dụng có hiệu quả:
- Đọc tên bức tranh, xác định xem bức tranh đó thể hiện gì?
- Tường thuật lại nội dung bức tranh .
- Rút ra được ý nghĩa và nội dung kiến thức.
b/ Mô hình:
Một số mô hình có sẵn hoặc gv tự sưu tầm sẽ giúp cho tiết dạy sinh động hơn.
Giáo viên giới thiệu mô hình đang sử dụng, mô hình là vật tượng trưng cho phần kiến
thức nào? .
Dùng câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát, trả lời tìm ra các kiến thức liên quan
14
Ví dụ: Trong bài 36 “ Nhận biết một số giống lợn qua quan sát và đo kích thước các
chiều”.
Mô hình lợn và cách đo các chiều
Với nội dung bài học này thì giáo viên không thể đem vật mẫu thật lên lớp được mà chỉ
có thể dùng mô hình lợn. Từ con lợn bằng mô hình thì gv giảng cho học sinh biết các bộ
phận trên con vật, chỉ cách đo kích thước các chiều, qua đó học sinh biết cách tính trọng
lượng thật của lợn… Nếu dùng mô hình thì học sinh được thực hành thên mô hình các em
sẽ nắm chắc kiến thức hơn, nhớ lâu hơn, thích thú trong việc học tập trên lớp hơn…
Từ các mô hình giáo viên giúp học sinh hiểu và nắm chắc các kiến thức
* Cách sử dụng có hiệu quả:
- Giáo viên cho học sinh quan sát nhận biết đó là mô hình gì?
- Có đủ mô hình cho quá trình hoạt động nhóm.

TRỰC QUAN:
Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan,
sẽ kết hợp chặt chẽ cho được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy tạo điều
kiện cho học sinh dÔ hiểu, nhớ lâu, phát triển năng lực chú ý quan sát, hứng thú của học
sinh. Tuy nhiên nếu không sử dụng tốt, đúng mức và bị lạm dụng thì dễ làm học sinh
phân tán sự chú ý, không tập trung vào các dấu hiệu cơ bản chủ yếu. Đồ dùng trực quan
có nhiều loại. Mỗi loại lại có cách sử dụng riêng, nhưng phải chú ý các nguyên tắc cơ bản
sau:
1/ Phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, nội dung và hình thức của các loại bài học để lựa
chọn dụng cụ trực quan cho thích hợp, không nên dùng quá nhiều dụng cụ trực quan cho
một tiết dạy.
2/ Phải có phương phương pháp thích hợp đối với mỗi loại dụng cụ trực quan ( Như đã
nêu ở trên).
3/ Trước khi sử dụng cần phải giải thích: Dụng cụ trực quan này nhằm mục đích gì? Giải
quyết vấn đề gì? Nội dung gì? trong bài học.
4/ Đảm bảo tính trực quan, rõ ràng, thẩm mỹ, cần chú ý tới quy luật nhận thức, giáo dục
thẩm mỹ cho học sinh. Không nên sử dụng dụng cụ trực quan quá cũ nát, các hình vẽ cẩu
thả
5/ Biết vận dụng, sử dụng dụng cụ trực quan tới các phương pháp dạy học khác: như nêu
vấn đề, mô tả, diễn giải cho nhuần nhuyễn, đạt hiệu quả cao.
17
* Điểm khác biệt với phương pháp sử dụng dụng cụ trực quan trước đây là
giáo viên phải biết hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức qua các dụng cụ trực quan,
đồng thời qua việc sử dụng dụng cụ trực quan ta phải rèn luyện cho học sinh các kỹ năng
cần thiết: Kỹ năng sử dụng tranh vẽ, s¬ đồ, kỹ năng thu thập tư liệu qua sách tham khảo
IV. HIỆU QUẢ CỦA SKKN:
Qua việc áp dụng phương pháp sử dụng dụng cụ trực quan ở chương trình Công nghệ
lớp 7 mới tôi nhận thấy kết quả khả quan như sau:
- Phần lớn các em đã có ý thức học tập bộ môn và có phương pháp học tập tốt.
- Các em đã hiểu rõ và nắm chắc các khái niệm,

L
TL
%
SL
TL
%
7a 35 5 14,3 15 42.9 13 37.1 2 5,7 33 94,3
7b 35 10 28,6 15 42,9 9 25,7 1 2,9 34 97,1
Như vậy so với phương pháp truyền thống thì hiệu quả của phương pháp sử dụng đồ
dùng trực qua phù hợp trong các tiÕt dạy mang lại hiệu quả cao.
C . KẾT LUẬN
- Dụng cụ trực quan là phương tiện không thể thiếu được trong hoạt động dạy học. Bằng
những dụng cụ trực quan sinh động, giáo viên sử dụng phương pháp tốt nhất giúp học
sinh tự khai thác, lĩnh hội kiến thức, phát huy được vai trò chủ thể của học sinh trong quá
trình học tập.
- Những dụng cụ trực quan khi sử dụng trong giảng dạy cần phải có sự lựa chọn cho phù
hợp với nội dung bài dạy, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đặc biệt là những
dụng cụ trực quan tạo ấn tượng, giúp học sinh khắc sâu, nhớ kỹ, tái hiện lại những kiến
thức đã học.
- Về phương pháp sử dụng: phải sử dụng tinh tế, khéo léo phải đảm bảo tính trực quan,
vừa đảm bảo tính khoa học. Điều đáng lưu ý là dụng cụ trực quan dù sinh động đến đâu
cũng không thể giúp học học tốt nếu thiếu sự chỉ đạo tận tình của giáo viên bộ môn.
Vậy với cương vị là người chỉ đạo, hướng dẫn, người giáo viên phải luôn tác động ý thức
19
học tập của các em, phải khơi dậy trong các em sự tìm tòi, ham hiểu biết, sẵn sàng khám
phá khoa học có như thế mới đem lại hiệu quả
Điều cuối cùng là muốn thực hiện tốt phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong
giảng dạy Công nghệ, đòi hỏi người giáo viên ngoài năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư
phạm thì phải có ý thức trách nhiệm cao, phải có cái tâm mang đặc thù của nghề dạy học
bởi vì phương pháp dù hay đến mấy nhưng người thầy không có trách nhiệm cao, không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status