ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG VÀ XÂY DỰNG LỘ TRÌNH ÁP DỤNG BASEL III TẠI VIỆT NAM (2) - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI 5:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG VÀ
XÂY DỰNG LỘ TRÌNH ÁP DỤNG
BASEL III TẠI VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: Nhóm 39
Nguyễn Hoài Đông – K094040534
Danh Sô Re Gia – K094040535
Đậu Hùng Khởi Nguyên – K094040576
Mục lục bảng và biểu đồ

LỜI MỞ ĐẦU
Tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong kinh doanh là những mục
tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp, trong đó có ngân hàng thương mại (NHTM).
Do đặc thù và tính “nhạy cảm” trong kinh doanh, hệ thống NHTM luôn tiềm ẩn
rủi ro cao và khi rủi ro phát sinh sẽ tác động sâu sắc tới hoạt động kinh tế - xã hội.
Quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam đang diễn ra ngày càng sâu
rộng trong mọi lĩnh vực, kể cả lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Theo đó, việc áp
dụng các chuẩn mực quốc tế trong quản lý - kinh doanh là xu thế tất yếu. Và việc
áp dụng các chuẩn mực quốc tế để đánh giá an toàn hệ thống NHTM Việt Nam
càng trở nên có ý nghĩa hơn trong bối cảnh mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng
được đánh giá là khá cao, khó lường trước các hậu quả xảy ra trong giai đoạn hiện
nay. Cùng với quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam, việc đảm bảo an
toàn hoạt động trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế Basel trở thành một vấn đề bức
thiết. Quy mô vốn tự có là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá
mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo thông lệ quốc tế.
Tại Việt Nam, sự tăng trưởng vốn của ngân hàng luôn được sự quan tâm đặc biệt
của các nhà quản trị ngân hàng trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch thực hiện.

rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các
tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất
cho hệ thống quốc gia của chính họ. Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp
dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ
thuật giám sát của các nước thành viên. Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung
ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10. Từ đó tìm kiếm
sự hậu thuẫn cho những sáng kiến của Ủy ban. Những tiêu chuẩn bao quát một dải
rất rộng các vấn đề tài chính. Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban
là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) không
6
ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi sự giám sát; và (2) việc
giám sát phải tương xứng.
1.2. Basel I
Năm 1988, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng Uỷ ban này đã phê duyệt
một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (the Basel Capital
Accord hay Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một
mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối
thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó
mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của
ngân hàng đó. Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà
còn được phổ biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế.
Thời đó, các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương và cơ quan giám
sát của 10 nước mới chỉ nhìn nhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, và vì vậy, mức
rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo rủi
ro của ngân hàng. Theo Basel I, tổng vốn của một ngân hàng cần ít nhất bằng 8%
rủi ro tín dụng của ngân hàng đó. Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm
1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng
lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng
thương mại và đến năm 1996, Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí
vốn đối với rủi ro thị trường.

quốc gia.
Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc / Tài sản tính theo độ rủi ro gia
quyền (RWA)
8
Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức
vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi
CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.
1.2.3. Những hạn chế của Basel I:
Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm
1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế.Trong đó, điểm hạn chế cơ bản của Basel I là
không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày
càng tăng lên, đó là rủi ro tác nghiệp (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro tác
nghiệp).
Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: Không phân biệt theo loại rủi
ro; Việc phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay; Chưa tính đến lợi ích từ
việc đa dạng hóa hoạt động (theo lý thuyết thì rủi ro sẽ giảm thông qua đa dạng
hóa danh mục đầu tư…).
1.3. Basel II:
Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề
xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính. Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước
quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành.
(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Theo đó, tỷ lệ vốn
bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy
nhiên, rủi ro được tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro
tín dụng, rủi ro tác nghiệp (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. So với Basel
I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị
trường có sự thay đổi nhỏ, nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác
nghiệp.Trọng số rủi ro của Basel II bao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và
rất nhạy cảm với xếp hạng.
(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel

và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc
tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý
rủi ro.
Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel
I. Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ cơ chế
điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự
điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình.
1.3.2. Ưu điểm của Basel II so với Basel I:
 Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy
nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu”. Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các
phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát
và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường.
 Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả
các ngân hàng. Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện
pháp khuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa.
 Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ. Basel II nhạy cảm hơn
với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên
và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi
ro.
 Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-
operation and Development). Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có
đặc quyền nào, bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài.
 Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel II thừa nhận
về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm
bảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
11
1.3.3. Những hạn chế của Basel II:
Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng
cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng

Công ước Basel II chủ yếu tập trung khía cạnh “tài sản” thì Basel III phần lớn tập
trung vào khía cạnh “nợ” của các ngân hàng. Trong đó, Công ước mới Basel III
yêu cầu tăng cường về vốn của ngân hàng, giới thiệu các yêu cầu mới quy định về
tính thanh khoản ngân hàng và đòn bẩy ngân hàng. Mục tiêu chính của quy định
mới nhằm cải thiện khả năng chịu đựng của lĩnh vực ngân hàng khi đối mặt cú sốc
bắt nguồn từ những căng thẳng tài chính và kinh tế, từ đó làm giảm nguy cơ khủng
hoảng lan truyền của khu vực tài chính cho nền kinh tế.
Về cơ bản, Công ước Basel III đề cập đến 05 nội dung thay đổi đáng kể so
với Basel II, cụ thể như sau:
 Chất lượng, tính nhất quán và sự minh bạch của nguồn vốn được nâng lên, xây
dựng quy định mới về định nghĩa vốn cấp 1 và cấp 2.
 Yêu cầu tăng vốn tối thiểu để đảm bảo sự an toàn khi đối mặt các rủi ro phát sinh.
 Đưa ra tỷ lệ đòn bẩy bổ sung khung rủi ro so với Basel II để bổ sung lớp bảo vệ
đòn bẩy thứ 2 và bảo vệ chống lại rủi ro mô hình, sai số đo.
 Biện pháp thúc đẩy xây dựng vùng “vốn đệm” trong thời kỳ thuận lợi để phòng
ngừa trong điều kiện thị trường xấu.
 Triển khai tiêu chuẩn quốc tế về tính thanh khoản tối thiểu cho ngân hàng quốc tế
bằng tỷ lệ thanh khoản ngắn hạn trong 30 ngày và tỷ lệ cấu trúc thanh khoản dài
hạn.
Theo kế hoạch, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thực hiện triển khai
Basel III tại các ngân hàng quốc tế từ năm 2012 đến năm 2018. Việc thực hiện
Basel III sẽ tạo áp lực lớn với các ngân hàng tuy nhiên đây là cơ sở vững chắc cho
13
các ngân hàng quốc tế đối mặt thách thức rủi ro càng ngày càng phức tạp trong bối
cảnh nền kinh tế hiện tại.
1.5. Nhiệm vụ các NHTM khi triển khai áp dụng Basel III
Như vậy, nếu triển khai áp dụng Basel III, các NHTM sẽ cần thay đổi trên 4
nội dung chính như sau:
 Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Trước hết, Basel III sẽ giúp nâng cao chất
lượng vốn của các ngân hàng một cách đáng kể. Đây là đặc điểm chính của Basel

Basel III là một bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài chính và là lần
đầu tiên đề cập tới các thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung
cho phương pháp giám sát an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel
đang nghiên cứu các thước đo đối với những tổ chức có tầm quan trọng đối với hệ
thống.
 Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Basel III đưa ra
tiêu chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọng chưa có tiêu chuẩn
quốc tế nào quy định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành, giúp
ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng thẳng thanh
khoản. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản
cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó
khăn.
1.6. Đánh giá khả năng áp dụng Basel III tại Việt Nam
Trích từ bài báo điện tử “thực thi Basel III, các ngân hàng Việt Nam đáp ứng
đến đâu?” của Kinhte24h.com.
Với nỗ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới,
ngày 12/9/2010, Hiệp định Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn dành
15
cho các ngân hàng thuộc 27 thành viên đãđược Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel
ban hành.
Trong đó, hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) được giữ nguyên ở mức 8%,
nhưng Basel III yêu cầu vốn chủ sở hữu (vốn cấp 1) của các ngân hàng phải nâng
từ 4% lên 6%. Trong 6% vốn cấp 1 đó, 4,5% phải là vốn của các cổ đông phổ
thông.
Với quy định như vậy, một số ý kiến cho rằng, các NHTM Việt Nam hoàn
toàn có thể áp dụng theo Basel III. Bởi theo quy định của Thông tư 13/2010/TT-
NHNN, kể từ ngày 1/10/2010, các tổ chức tín dụng phải đảm bảo CAR là 9%, cao
hơn so với quy định cũ là 8% và các NHTM chỉ phải điều chỉnh tăng tỷ lệ này vào
các năm tiếp theo từ năm 2018 trở đi để đạt được tỷ lệ vốn tối thiểu 10,5%, kể cả
phần vốn đệm dự phòng tài chính.

hàng Việt Nam yên tâm hơn", ông John nói.
Thế nhưng, ông Philippe Carrel, Phó chủ tịch điều hành, quản lý rủi ro của
Thomson Reuters lại nêu quan điểm hoàn toàn khác: Không nên coi Basel II, Basel
III như là những biểu tượng chất lượng đảm bảo an toàn. Basel I được tạo ra những
năm 90 của thế kỷ trước để đối phó với tác động của sự sụp đổ TTCK.Sau đó là
Basel II nhưng vẫn xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và giờ đây là
Basel III.
Vấn đề là sắp tới sẽ là gì? Các nhà quản lý cần quan sát, theo dõi đâu là tập
quán tốt để áp dụng trên thị trường trong nước. "Việt Nam sẽ còn đi xa hơn, chứ
không phải là câu hỏi: liệu năm 2015, Việt Nam thực hiện Basel III không? Quan
trọng là ngân hàng tốt nhất, chứ không phải là ngân hàng tuân thủ tốt nhất", ông
Philippe nói.
17
Kết luận
Nhìn vào những nhận xét của các chuyên gia ta thấy Hiệp ước vốn Basel III
là giải pháp tối ưu trong quản trị rủi ro của NHTM. Tuy nhiên, hiện hệ thống ngân
hàng Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng Basel III. Nhưng khả
năng áp dụng là có thể nếu NHNN Việt Nam đưa ra các giải pháp, chính sách
nhằm khắc phục những khó khăn, thiếu sót của hệ thống ngân hàng.
18
Chương 2. Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt
Nam trên cơ sở đối chiếu với chuẩn mực Việt Nam và
chuẩn mực quốc tế Basel
2.1. Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối
chiếu với chuẩn mực Việt Nam
Xét trên giác độ quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tình hình thực
hiện tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng Việt Nam có thể chia theo 3 giai
đoạn như sau:
(i) Giai đoạn thứ nhất: Áp dụng Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN5 quy định
về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM. Thời kỳ này, khối

CAR (%)
Hê thống NHTM
NHTM Nhà nước
NHTMCP đô thị
NHTMCP nông thôn
NH liên doanh
Chi nhánh NH nước ngoài
872.062
617.786
156.140
3.043
13.192
81.899
44.030
23.581
11.198
667
1.522
7.059
5,5
4,1
8,0
24,0
12,0
9,2
Mặc dù các NHTM Việt Nam đã nỗ lực và hầu hết các NHTM cổ phần đều
đạt được hệ số an toàn vốn trên 8%, song nếu so sánh với cách tính hệ số an toàn
của Basel II, tức là mẫu số phải cộng thêm cả vốn dành cho rủi ro thị trường và rủi
ro hoạt động (RRHÐ) thì chắc chắn rất ít NHTM Việt Nam giai đoạn này
đạt được tỷ lệ an toàn vốn ở mức trên 8%.

xuống dưới mức an toàn tối thiểu 8% trong năm 2009.
(iii) Giai đoạn 3: Thực hiện đảm bảo an toàn vốn tối thiểu 9% theo tinh thần của
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN. Trong giai đoạn này, bức tranh về đảm bảo an
Ðơn vị : %
21
toàn vốn là khá phức tạp. Nếu nhìn vào mức tính toán cho toàn hệ thống, hệ thống
NHTM Việt Nam đã đảm bảo được hệ số an toàn vốn tối thiểu 9%.
Bảng 2 Tỷ lệ an toàn vốn của toàn ngành Ngân hàng năm 2010 – 2011
Năm 2010 9/2011
Tỷ lệ an toàn vốn 11,02% 11,92%
(Nguồn: UBGSTCQG)
Tuy nhiên, tình hình đảm bảo an toàn vốn tối thiểu của các NHTM có xu
hướng phân nhóm rõ rệt. Trong các NHTM NN lớn, Agribank và Vietinbank vẫn
không thể đạt được quy định về mức an toàn vốn tối thiểu 9% trong năm 2010.
Ðiều này là đáng lo ngại nếu xét trên phương diện rủi ro hệ thống.
Bảng 2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM năm 2010
CAR VCB CTG ARG BIDV TCB STB ACB EAB
2010 9 8,02 6,09 9,32 13,11 10,32 10,4 10,84
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các báo cáo thường niên của các NHTM)
Ðối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế đạt được
yêu cầu mới của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn. Trái lại, các NHTMCP nhỏ thực sự
gặp khó khăn trước yêu cầu tăng vốn tự có nhằm đảm bảo an toàn. Cụ thể đến thời
điểm 31/6/2011, tỷ lệ CAR của nhiều các ngân hàng cổ phần như ACB,
Sacombank, Eximbank, Techcombank, Ðông Á, Quân đội… đã đạt trên 9% theo
tinh thần của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN. Trong khi đó, đến tháng 11/2011,
vẫn còn 5 NHTM cổ phần vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Nếu xem xét theo
tinh thần Nghị định 141/NÐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì tính đến thời
điểm hết tháng 6 năm 2011, vẫn còn 15 NHTMCP (chiếm tỷ trọng 36,59%) có vốn
điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng, chủ yếu ở khoảng 2.000 tỷ đồng. Như vậy, dù giãn tiến
độ 1 năm nhưng một số ngân hàng nhỏ của Việt Nam vẫn không thể đạt được các

thể nhận thấy khá rõ. Trên đà tăng như hiện nay (hình 3), khả năng chống đỡ của
NHTMCP trước rủi ro là rất đáng lo ngại.
Biểu đồ 2 Các chỉ tiêu tài chính của nhóm NHTMNN giai đoạn 2008 – 9/2011
(bảng trái), Các chỉ tiêu tài chính của nhóm NHTMCP giai đoạn 2008 – 9/2011
(bảng phải)
Bên cạnh đó, danh mục tài sản có của các NHTMCP trong giai đoạn 2010-
2011 đang có sự thay đổi đáng chú ý: tỷ trọng tiền gửi tại các NHTM và chứng
khoán đầu tư tăng lên đáng kể trong khi tỷ trọng tín dụng giảm xuống. Bên cạnh
tác động khách quan từ nền kinh tế và hạn mức tăng trưởng tín dụng 20%, việc
NHNN yêu cầu các NHTM giảm tín dụng phi sản xuất xuống còn 16% vào cuối
năm 2011 có thể đã hạn chế năng lực mở rộng các khoản cho vay đối với các ngân
hàng này, đặc biệt là các NHTMCP nhỏ vốn có tỷ lệ dư nợ cho vay kinh doanh bất
động sản trên tổng dư nợ ở mức cao. Do thị trường bất động sản đang rơi vào tình
trạng trầm lắng, nhiều khoản vay đến hạn không trả được nợ ảnh hưởng tiêu cực
25
tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng (ngân hàng buộc phải chuyển nhóm nợ và
trích lập dự phòng rủi ro, tình hình thanh khoản bị suy giảm). Tỷ lệ nợ xấu được
NHNN công bố cho toàn ngành Ngân hàng là 3,39%, tương đương với khoảng
20% mức vốn tự có. Tuy nhiên, số liệu nợ xấu chưa phản ánh đúng thực chất
RRTD của hệ thống ngân hàng Việt Nam do tiêu chuẩn phân loại nợ cũng như
công tác phân loại nợ của các ngân hàng còn nhiều bất cập. Nếu như các ngân hàng
phân loại nợ đúng theo chuẩn mực quốc tế và định giá chính xác giá trị tài sản bảo
đảm cho các khoản vay (53% là bất động sản) thì chi phí dự phòng rủi ro sẽ tăng
lên, và vốn tự có của hệ thống ngân hàng sẽ bị ăn mòn đáng kể. Phân tích trên cho
thấy mặc dù hệ số CAR của nhóm NHTMCP cao hơn mức quy định của NHNN
nhưng không đồng nghĩa với việc khả năng chống chịu rủi ro của các ngân hàng
được bảo đảm.
Thứ hai, đối với nhóm NHTMNN, những năm gần đây, các ngân hang này
đã tiến hành IPO và phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ, bán cổ phần cho các tổ
chức nước ngoài cũng như nhận được bổ sung vốn góp từ Chính phủ nên tỷ trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status