Bi tiu lun: TèM HIU V TH TRNG CHUNG ASEAN
1.Nhng c im chung c bn ca th trng chung ASEAN
1.1 Th trng ASEAN l mt th trng rng ln v y tim nng
1.2 ASEAN l th trng a vn húa,a tụn giỏo:
1.3 Th trng chung ASEAN cú c cu hang húa xut khu tng i
ging nhau
1.4 Chớnh sỏch qun lý nhp khu ca cỏc nc ASEAN:
1.4.1 Chng trỡnh u ói thu quan cú hiu lc chung (CEPT)
th 2 thc hin AFTA
1.4.2 Vn loi b cỏc hn ch v nh lng v cỏc hang ro phi
thu quan c ch
2. c im riờng ca th trng chung ASEAN
2.1 Mt th trng n nht v mt c s sn xut thng nht
2.2. Nhm xõy dng mt khu vc cnh tranh v kinh t, ASEAN thỳc
y
2.3. Hng ti mc tiờu phỏt trin kinh t ng u, ASEAN ó thụng
qua
2.4 hi nhp vo nn kinh t ton cu, ASEAN n lc y mnh vic
3.QUAN H TH TRNG CC NC ASEAN
4. Triển vọng và thách thức mở cửa thị trơờng lao động asean 2015.
Liên
hệ Việt Nam
4.1 Triển vọng:
4.2 Thách thức:
4.3 Lao động Việt Nam
4.4. Chảy máu chất xám
4.5. Tay nghề lao động chơa đủ, năng suất thấp
4.6. Hệ thống kỹ thuật dạy nghề
4.7. Khung trình độ quốc gia
1
dạng trong văn hóa và tôn giáo đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong thị
hiếu tiêu dùng
Mỗi quốc gia là cộng đồng của nhiều dân tộc thuộc những nền văn hóa khác
nhau.Trải qua nhiều năm bị thực dân phương Tây đô hộ,truyền thống Á
Đông vẫn được bảo tồn và phát triển.Tuy nhiên vẫn bị ảnh hưởng phần nào
của văn minh phương Tây
2
ASEAN cũng là cộng đồng đa tôn giáo. Ở Indonesia,Malaysia,Brunei tôn
giáo chính là đạo Hồi, Tại Viet Nam,Thai lan, Lao, Singapore, Myanmar đa
số người đan theo đạo Phật, còn đạo Thiên chúa giáo là tôn giáo chính ở
Philippin
1.3 Thị trường chung ASEAN có cơ cấu hang hóa xuất khẩu tương đối giống nhau:
Trừ Singapore là nước trung chuyển mậu dịch lớn nhất thế giới, các nước
ASEAN còn lại có các mặt hang xuất khẩu tương đối giống nhau gồm
khoáng sản, nông phẩm và các mặt hang sơ chế, nhập khẩu chủ yếu là máy
móc thiết bị. Chất lượng và mẫu mã không thua kém nhau bao nhiêu và hơn
nữa ở ASEAN không có hiện tượng phát triển không đồng nhất kiểu EU,
nên các mặt hàng ở ASEAN mang tính chất cạnh tranh nhau hơn là bổ sung
cho nhau. Các mặt hang của ASEAN không chỉ cạnh tranh nhau trên thế giới
mà còn trong khu vực.
1.4 Chính sách quản lý nhập khẩu của các nước ASEAN:
1.4.1 Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập khu mậu dịch tự do
AFTA, hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT
đã được ki kết tại hội nghị thượng đinh tại Singapore ngày 28/1/1992 và sửa
đổi tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 ở Thai lan.
Hiệp định về thực chất là thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên ASEAN
về giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn 0-5 % thong qua “ cơ
cấu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung” đồng thời loại bỏ các hạn chế về
định lượng và các hang rào phi thuế quan trong vòng 10 năm bắt đầu từ
Tại Tầm nhìn ASEAN 2020, được thông qua 12/1997, Các nhà lãnh đạo
ASEAN đã định hướng ASEAN sẽ hình thành một Cộng đồng, trong đó sẽ
tạo ra một Khu vực Kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnh
tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển thông
thoáng, vốn được lưu chuyển thông thoáng hơn, kinh tế phát triển đồng đều,
nghèo đói và phân hoá kinh tế-xã hội giảm bớt.
Bốn đặc điểm đồng thời là yếu tố cấu thành của AEC:
- Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông
qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu
chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay
nghề.
- Một Khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ
chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát
triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.
- Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm
thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.
- Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham
vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng
lưới cung cấp toàn cầu (WTO).
2.1 Một thị trường đơn nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất
Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị
trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các
hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu
chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ
tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo
thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN
4
và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có
tay nghề (di chuyển thể nhân) v.v., song song với việc củng cố mạng lưới
các dịch vụ chuyên nghiệp trong ASEAN. Tới nay, các nước ASEAN đã ký
các thoả thuận công nhận lẫn nhau đối với các tiêu chuẩn, kỹ năng các ngành
dịch vụ cơ khí, y tá, kiến trúc, kế toán và du lịch.
- Về tự do hoá đầu tư, trong khuôn khổ Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN
(ACIA), ASEAN hướng tới hình thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn ở khu
vực, với cơ chế đầu tư thông thoáng và mở, bao gồm tự do hoá đầu tư trên
các lĩnh vực chính như sản xuất-chế tạo, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm
5
nghiệp, khai khoáng và các dịch vụ phụ trợ cho các ngành này. Danh mục
các lĩnh vực mở cửa cho đầu tư còn được tiếp tục bổ sung trong thời gian
tới. Các nỗ lực tự do hoá đầu tư của ASEAN không chỉ giúp tạo dựng và
nâng cao niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài với khu vực ASEAN, mà còn
góp phần thúc đẩy đầu tư nội khối cũng như đầu tư của các tập đoàn đa quốc
gia trong khu vực.
2.2. Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế
ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở
hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng
biển, năng lượng, phát triển thương mại điện tử v.v.
2.3. Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều
ASEAN đã thông qua và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển
Kinh tế Đồng đều (AFEED), trong đó đáng chú ý là các biện pháp hỗ trợ các
nước thành viên mới, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa.
2.4 Để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.
ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các thoả thuận liên kết
kinh tế ở khu vực Đông Á, với 6 Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do (FTAs)
đã được ký với các Đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, và đang trong quá trình đàm phán Hiệp
định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) hướng đến hình thành một
không gian kinh tế mở toàn Đông Á vào năm 2015, với GDP chiếm 1/3 tổng
khu 350.627 tn tụm cỏc loi t cỏc th trng tr giỏ 4,1 t USD v tr
giỏ,12% v khi lng so vi cựng k nm 2013.Trong ú Indonesia dn
u v cung cp tụm cho M trong thi gian ny vi 65492 ln tr giỏ 857
triu USD tng 67% v giỏ tr v 29% v khi lng.
Chỳng ta cng thy trong nhng nm gn õy xut khu cỏ da trn ca ta
sang th trng M cng khỏ thun li v tng thu nhp cho nn kinh t
nc nh.
Vi th trng nng ng nh hin nay theo ObaMa ASEAN l th
trng quan trng trờn Th gii.Vi u th chỳng chỳng ta cú c cỏc dõn
tc trong khu vc cựng c gng a khu vc lờn mt tm cao mi phỏt trin
ngang tm vi cỏc khu vc ln trờn th gii.Phn u n nm 2015 phỏ v
hng ro thu quan vi mt s mt hng nh ó quy nh .Cỏc dõn tc trong
khu vc on kt cựng nhau xõy dng mt khi th trng hũa bỡnh n nh .
Vỡ mt th trng phỏt trin ca khu vc mi thnh viờn ca khu vc tng
cng phỏt trin kinh t vỡ mt th trng n nh trỏnh xy ra tranh chp
ni b trong nc nh Thỏi Lan lm nh hng n phỏt trin kinh t. Cựng
chung tay vỡ mt th trng ASEAN phỏt trin.
4. Triển vọng và thách thức mở cửa thị trờng lao động asean 2015. Liên
hệ Việt Nam
4.1 Triển vọng:
Việc hội nhập kinh tế trong khối ASEAN, đặc biệt là quyết định cho phép
lao động thuộc 8 ngành: du lịch, kiểm toán, kiến trúc, kĩ s, nha sĩ, bác sĩ, y
tá, điều tra viên đợc quyền tự do di chuyển tìm việc làm - sẽ giúp thị trờng
lao động rộng mở hơn.
Các doanh nghiệp trong nớc sẽ có cơ hội thu hút nguồn nhân lực có kỹ năng
quản lý, kỹ năng nghề, có chuyên môn và năng suất cao từ các nớc trong khu
7
vực để bù đắp vào những thiếu hụt ở các vị trí tại doanh nghiệp mình. Đồng
thời, khi đó với thị trờng nhân lực rộng lớn và tự do hóa thị trờng lao động thì
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động có thể phát triển xuất khẩu nguồn nhân
4.4 Tay nghề lao động cha đủ, năng suất thấp
Khi AEC thành lập, trên thực tế chỉ cho phép luân chuyển lao động trong 8
ngành: kiểm toán, kiến trúc, kỹ s, nha sĩ, bác sĩ, y tá, điều tra viên và du lịch.
So với toàn bộ cơ cấu nền kinh tế, lao động nhóm này chỉ chiếm số lợng rất
nhỏ (1%) tổng số lực lợng lao động. Cơ hội dành cho lao động Việt Nam
càng thu hẹp bởi các yêu cầu khắt khe về chuyên môn, ngoại ngữ. Đơng
nhiên lao động ở các nớc khác thuộc AEC cũng phải biết tiếng Việt mới vào
cạnh tranh việc làm với lao động trong nớc nhng theo các chuyên gia, nếu
8
chính ngời lao động trong nớc không ý thức rõ mối nguy này thì sẽ thua
ngay trên sân nhà bởi chúng ta khó cạnh tranh về trình độ tay nghề, chuyên
môn với nhiều quốc gia trong AEC.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) cho
rằng Việt Nam sẽ là nớc nhận đợc lợi ích từ chủ chơng tự do hóa di chuyển
lao động lành nghề khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đợc chính thức
thành lập vào năm 2015.Dựa trên những tính toán của mình, ILO đa ra nhận
định năng suất lao động của ngời Việt Nam hiện đang ở mức thấp so với các
nớc ASEAN 6 (các nớc phát triển hơn trong ASEAN) và mức bét bảng so
với các nớc Châu á Thái Bình Dơng. Năng suất lao động Việt Nam bằng
1/5 lao động Malaysia, 2/5 Thái Lan và 1/15 Singapore.
Theo LHQ hiện chỉ có khoảng 20% lao động Việt Nam đợc đào tạo chuyên
môn và kỹ năng nghề nghiệp, còn 80% đều lao động phổ thông, lao động
trình độ thấp.
4.5 Hệ thống kỹ thuật dạy nghề
Cần căng cờng phát triển hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở cấp trung
học. Song căn bệnh trầm kha kéo dài của nhiều trờng phổ thông là chuyển
hầu hết lên ĐH, hệ thống dạy nghề èo uột dù đợc hai Bộ quản lý, là GD&ĐT
và LĐ,TB&XH. Các ĐH hiện cha gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong
hoạt động hớng nghiệp, t vấn việc làm cho sinh viên. Sinh viên thiếu ý thức,
kỹ năng tự trang bị kiến thức, vốn nghề nghiệp vững vàng, cùng với bản lĩnh
nước thành viên khác để đón thời cơ.Ở Việt Nam, chúng ta đã và đang thấy
dần sự hiện diện của các doanh nghiệp Thái Lan trong nhiều lĩnh vực, nhưng
đặc biệt là những mảng Thái Lan có lợi thế, như nông sản, hàng công nghiệp
nhẹ và hệ thống dịch vụ bán lẻ. Thái Lan đã nhìn thấy cơ hội xuất khẩu sang
Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng. Chưa kể, Việt Nam có vị trí như một điểm
trung gian phân phối nông sản sang thị trường Trung Quốc. Chính vì lý do
này, gần đây một loạt doanh nghiệp lớn của Thái Lan đã thâm nhập thị
trường Việt Nam bằng cách thực hiện nhiều thương vụ sáp nhập lớn trong
ngành phân phối, cả bán sỉ lẫn bán lẻ.Tại hội nghị thượng đỉnh và xuất khẩu
AEC+3 đã được nhóm họp tại Bangkok vào ngày 03 tháng 11 năm 2014 thủ
tướng Thái Lan đề nghị rằng để trở thành một trung tâm thương mại trong
ASEAN, Thái Lan phải loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan
không khuyến khích các công ty nước ngoài đầu tư vào đất nước. Những
yêu cầu về thị thực và giấy phép lao động cần phải được nới lỏng để khuyến
khích các doanh nghiệp nước ngoài thành lập công ty trụ sở tầm khu vực tại
Thái Lan. Thủ tướng Chính phủ cho rằng nền kinh tế của Thái Lan có thể
tăng trưởng khoảng 5% vào năm 2015 nếu các dự án giao thông vận tải và
cơ sở hạ tầng của chính phủ, dự kiến trong quý đầu năm sau, tiến hành tốt.
Thái Lan có tiềm năng để trở thành một trung tâm thương mại của khu vực
nếu số lượng quy định giảm cho các doanh nghiệp nước ngoài. Chính phủ
Thái Lan đã đề ra ba chiến lược với mục tiêu tối đa hóa tiềm năng kinh tế
của đất nước trong kỷ nguyên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối
năm tới.Ba chiến lược này bao gồm thúc đẩy thương mại xuyên biên giới,
phát triển năng lực của các doanh nghiệp nội địa, và tạo dựng và củng cố các
mối quan hệ đối tác thương mại trong ASEAN để hoàn thành mục tiêu cuối
10
cùng là đưa Thái Lan trở thành một trung tâm thương mại của khu vực.Phát
biểu ngày 13 tháng 12 tại hội thảo "Kế hoạch tạo chuỗi giá trị khu vực cho
Thái Lan hậu AEC năm 2015 ", Thứ trưởng Bộ Thương mại Apiradi
Tantraporn cho biết chính phủ đã nhận thấy một ASEAN hội nhập sâu sẽ là
nhỏ - cần chuẩn bị chu đáo cho việc hội nhập đầy đủ theo lịch trình của
AEC.Chính phủ cũng có kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương thâm
nhập vào các thị trường AEAN lân cận và có thể giúp các doanh nghiệp này
tồn tại và phát triển sau hội nhập.
5.2. Indonesia
11
Ngay từ tháng 6/2013, Chính phủ Indonesia đã thành lập một Ủy ban quốc
gia để chuẩn bị cho AEC với nhiệm vụ phân tích, đánh giá và đề xuất những
kiến nghị cần thiết với Chính phủ Indonesia để có thể sẵn sàng vượt qua các
thách thức và khó khăn, tận dụng và phát huy được tối đa những cơ hội và
lợi ích to lớn mà AEC đem lại.
Thông tin từ Bộ Công nghiệp Indonesia cho biết nước này đã thiết lập lộ
trình cho những khu vực có khả năng phát triển mạnh khi AEC bắt đầu có
hiệu lực. Đó là các ngành điện tử, ôtô, ximăng, dệt may và da giày đối với
thị trường trong nước, và các ngành liên quan đến nông nghiệp, thủy sản, da
giày, nội thất, thực phẩm và đồ uống đối với thị trường Đông Nam Á.
5.3. Philippin
Các doanh nghiệp Philippines đang hết sức lo lắng vì AEC sẽ buộc
Philippines phải mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nước ngoài, gia tăng
sự cạnh tranh mà doanh nghiệp nước này phải đối mặt. Để giải tỏa mối lo
này, Chính phủ của Tổng thống Benigno Aquino đã thành lập một Nhóm
công tác kỹ thuật (technical working group - TWG) nghiên cứu nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước này.
Kiến nghị ban đầu của nhóm TWG là Manila phải nhanh chóng tháo gỡ
những “nút thắt cổ chai” đang kìm hãm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, cải
thiện môi trường kinh doanh để doanh nghiệp có thể phát huy tối đa tiềm lực
của mình. Nút thắt nghiêm trọng nhất của Philippines, theo TWG, chính là
cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém, chi phí kinh doanh cao và thiếu luật lệ
chống độc quyền trong các lĩnh vực năng lượng và viễn thông
5.4. Malaisia
việc cung cấp thông tin về thị trường tới người sản xuất (nông dân).
Bộ trưởng Chanthol cho rằng Campuchia không thể làm kiểu “bỏ trứng vào
một giỏ,” vì nếu vậy khi vỡ sẽ bị vỡ toàn bộ. Vì vậy, Campuchia không thể
chỉ tin tưởng vào thị trường EU và Mỹ mà phải tìm kiếm thêm thị trường,
đối tác khác từ các nước, nhất là các nước Arab.
6. Liên hệ thị trường Việt Nam với thị trường các nước xung quanh.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN qua 5 năm
(2008-2012) nhìn chung có xu hướng tăng (riêng năm 2009 giảm sút do ảnh
hưởng từ cuộc khủng hoàn kinh tế thế giới). Nếu tính giai đoạn 2009-2012,
mức tăng bình quân về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt
khoảng 29%/năm. Thời gian và chi phí cần thiết cho nhập khẩu và xuất
khẩu của các thành viên ASEAN rất khác nhau. Theo số liệu của Ngân hàng
Thế giới năm 2012 về việc đơn giản hóa thương mại qua biên giới,
Singapore đứng ở vị trí số 1, Việt Nam đứng ở vị trí 65, và Lào đứng ở vị trí
161 trong tổng số 189 quốc gia được khảo sát trên thế giới. Thông tin tình
hình trao đổi thương mại quốc tế của các quốc gia ASEAN
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy tính từ đầu năm đến hết
tháng 9 năm 2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam
với thị trường các nước thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) đạt 30,63 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước và được
ghi nhận là tốc độ tăng thấp nhất từ trước tới nay.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa sang khu vực thị trường
ASEAN đat trị giá 13,64 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 0,3% và chiếm 12,4% kim
ngạch xuất khẩu của cả nước ra thế giới. Dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim
13
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN trong 9 tháng tính từ đầu năm
2014 bao gồm các nhóm hàng sau: dầu thô, sắt thép, máy móc thiết bị dụng
cụ & phụ tùng, gạo, hàng dệt may và hàng thủy sản. Tuy nhiên, một số
nhóm hàng bị suy giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: nhóm hàng
máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, điện thoại các loại & linh kiện,
kim ngạch nhập khẩu của cả nước từ tất cả các thị trường. Trong đó, tăng
mạnh nhất là các nhóm hàng: xăng dầu các loại, gỗ & sản phẩm gỗ, máy
móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng, sản phẩm khác từ dầu mỏ, chất dẻo nguyên
liệu, hàng rau quả, kim loại thường, điện thoại các loại & linh kiện. Tuy
14
nhiên, một số nhóm hàng lại giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: dầu
thô, phân bón các loại, thức ăn gia súc & nguyên liệu, sữa & sản phẩm sữa.
Để đón nhận AEC , các nước ASEAN-6 đã đầu tư vào chuỗi bán lẻ ở việt
nam. Thái lan mua lại Metro , Malaysia có chuỗi siêu thị Pakson và chắc
chắc khi AEC có hiệu lực thì thuế suất nhập khẩu vào việt nam bằng không,
thì các siêu thị mang hàng hóa chiếm lĩnh thị trường nội địa việt nam.
Thị trường lao động việt nam:
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (năm 2012), lao động phổ thông không
có chuyên môn kỹ thuật chiếm 83,28% tổng số lao động; lao động đã qua
đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 4,84%; lao động có trình độ trung cấp chuyên
nghiệp là 3,61% và lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm
8,26%. Theo Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, lao động qua đào tạo
nghề (gồm cả dạy nghề chính quy và thường xuyên, phi chính quy, dạy nghề
dưới 3 tháng và dạy nghề tại doanh nghiệp) chiếm khoảng 34% tổng số lao
động trong cả nước. Trên thực tế, chất lượng
nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và có khoảng cách khá lớn so với
các nước trong khu vực. Ngân hàng thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu
lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lấy thang
điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ
11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (trong khi
Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Ma-lai-xi-a đạt 5,59 điểm
Do vậy nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á -
Thái Bình Dương (thấp hơn Xin-ga-po gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần
và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần). Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5
Ma-lai-xi-a và 2/5 Thái Lan. Trong giai đoạn 2002 - 2007, năng suất lao
là đòi hỏi cấp bách để lao động Việt Nam không bị thua trên sân nhà trong
tương lai không xa.
Thị trường lao động các nước asean
Malaysia là thị trường lao động hấp dẫn phù hợp với phần lớn lao động VN.
Đặc biệt là sau khi Malaysia truy quét lao động nước ngoài bất hợp pháp đã
tạo ra cơ hội mới cho lao động VN. Những ngày gần đây, nhiều doanh
nghiệp cho biết đã ký được nhiều hợp đồng làm việc trong nhà máy đảm bảo
thu nhập cho người lao động khoảng 300-400 USD/tháng .Các ngành nghề
chủ yếu mà các nước này cần là : Điện tử, dệt may, chế biến gỗ, cơ khí
với mức thu nhập bình quân từ 8 – 10 trđ/tháng/người.Chi phí xuất cảnh
sang thị trường ASEAN từ 20 – 30 triệu đồng .Do là thị trường Malaysia
không khắt khe về tay nghề, trình độ ngoại ngữ ,chi phí xuất cảnh không lớn
nên các ngành chức năng đã chon Malaysia để thực hiện dự án “ hỗ trợ đưa
lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ” Để mời gọi nguồn vốn
đầu tư nước ngoài, Chính phủ Lào đã sửa đổi luật Đầu tư, thay đổi chính
sách ưu đãi áp dụng cho các nước trong khối Asean. Theo đó, Chính phủ
Lào đồng ý miễn tiền thuê đất đai hoặc nhượng quyền sử dụng đất cho nhà
đầu tư vào các dự án xây dựng trường học, bệnh viện, đường sá…, khi hết
thời hạn có thể gia hạn thêm. Ở khu vực mà cơ sở hạ tầng kém hay nơi xa
xôi hẻo lánh, nhà đầu tư sẽ được miễn thuế lợi tức trong mười năm. Đây là
điều thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam nghĩ đến việc đầu tư tại Lào ở
nhiều lĩnh vực như năng lượng, khai thác mỏ, trồng cây công nghiệp, ngân
hàng, dịch vụ thương mại, phát triển đô thị. Gần 100 doanh nghiệp Việt
Nam đã đầu tư tại Nam Lào, chủ yếu vào nông nghiệp (trồng cây cao su,
16
càphê, chế biến nông lâm sản), khai khoáng, thuỷ điện. Tập đoàn cao su Việt
Nam đã có kế hoạch trồng 100.000ha cao su đến năm 2015, hiện một số diện
tích đã bắt đầu thu hoạch nên trong thời gian tới vùng Nam Lào sẽ thu hút
nhiều lao động.
Đặc biệt, tỉnh Champasak tuy không có biên giới với Việt Nam nhưng là
biết cách học và học không vào thường chản nản và từ bỏ rồi đổ tội cho vì
“mất gốc” từ đầu.vì vậy phải cố gắng cải thiện kỹ năng tiếng anh ngay từ lúc
17
này. Để có thể xin việc chúng ta cần 2 kỹ năng tiếng anh cơ bản đó là tiếng
anh giao tiếp và tiếng anh chuyên ngành. Ta cần rèn luyện từ từ bằng cách
tham gia vào các câu lạc bộ luyện nói và giao tiếp tiếng anh, học tại các
trung tâm đào tạo tiếng anh và tự tìm tòi học tập như học qua internet, tự
trao đổi và giao tiếp với bạn bè hằng ngày, không chỉ ở trường ta mà hầu
như ở tất cả các trường đại học khác đều đòi hỏi chứng chỉ B1 châu Âu học
TOIC khi ra trường nếu chúng ta không cải thiện tiếng anh của mình ngay
bây giờ thì khả năng ra trường còn không có đừng nói đến xin việc với
những yêu cầu khắt khe.
Tiếp theo, là kỹ năng tin học, khoa học công nghệ ngày càng phát triển
vieech ứng dụng tin học trở thành phổ biến đối với tất cả các lĩnh vực đặc
biệt là ngành kinh chúng ta.hầu như không có một doanh nghiệp nào khi
tuyển một nhân viên văn phòng không đò hỏi khả năng sử dụng máy tính
thành thảo. Do đó ta cần phải rèn luyện kỹ năng tin học của minh thật tốt.
Hiện nay hầu như tất cả các doanh nghiệp đều đòi hỏi 1 yêu cầu đối với
nhân viên đó là kinh nghiệm. Tuy nhiên hầu như sinh viên chúng ta học lý
thuyết thì nhiều nhưng thực hành thì rất ít, một phần là nhầ trương không có
đủ điều kiện để giúp sinh viên được thực hành nhiều và một phần là do sinhh
viên chúng ta khá thủ động trong vấn đề này luôn ngại khó khăn, ngại sai
lầm. Cho nên việc cần làm ngay lúc này là : với trường học phải cố gắng áp
dụng phương pháp dạy học hiểu quả học đi đôi với hành.như hiện nay ở
trường đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường áp dụng
phương pháp học- hành đi đôi,50% học lý thuyết 50% thực hành tạo điều
kiện cho sinh viên tiếp xúc với môi trường công việc sau này của mình. Và
phương pháp này đã mang lại kết quả cao; còn với sinh viên thì cần tự mình
tìm cho những mình những cơ hội để thực hành những kỹ năng liên quan
đến ngành của mình.