I. LỜI MỞ ĐẦU
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho
hoạt động xây dựng, giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, làm
cho chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, thực
tiễn cho thấy vẫn còn văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, thậm chí có những văn
bản tồn tại trong thời gian tương đối dài trước khi bị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lý. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng của từng văn bản nói
riêng và của cả hệ thống pháp luật nói chung. Trong bài làm này em xin đề cập
tới vấn đề “thực trạng ban hành văn bản pháp luật trái thẩm quyền?nguyên nhân
và giải pháp”.
II.NỘI DUNG
1.Một số khái niệm và cơ sở thực tiễn
Khoản 1 Điều 1 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là
Luật) quy định “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước
ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục
được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung,
có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các
quan hệ xã hội”. Khoản 2 Điều này quy định tiếp “Văn bản do cơ quan nhà nước
ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền... thì không phải là
văn bản quy phạm pháp luật” và Điều 3 về nguyên tắc xây dựng, ban hành văn
bản quy phạm cũng quy định nguyên tắc “tuân thủ thẩm quyền”.
Theo các quy định nêu trên, việc văn bản quy phạm pháp luật phải được ban
hành đúng thẩm quyền là một tiêu chuẩn bắt buộc. Tiêu chuẩn này xuất phát từ
hai yêu cầu. Một là, yêu cầu về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Bộ
máy nhà nước bao gồm nhiều cơ quan khác nhau, trong đó có sự phân công,
phối hợp hoạt động giữa các cơ quan. Để bộ máy nhà nước hoạt động hài hòa,
hiệu quả thì quyền lực nhà nước phải được tổ chức, thực hiện sao cho không
chồng chéo, có khả năng chống lạm quyền, lộng quyền, ngăn ngừa việc lẩn
tránh thẩm quyền hoặc không sử dụng hết quyền lực nhà nước của các cơ quan.
Muốn vậy, giới hạn quyền lực mỗi cơ quan được quyền sử dụng (thẩm quyền)
một khâu bắt buộc trong quy trình ban hành văn bản QPPL ở địa phương. Tuy
nhiên, do chưa có quy định cụ thể về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định cũng
như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến, nên có tình trạng văn
bản thẩm định chỉ được coi như một kênh ý kiến để cơ quan soạn thảo tham
khảo, còn các cơ quan tổ chức được lấy ý kiến đôi khi chỉ góp ý mang tính hình
thức hoặc không góp ý, làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ xây dựng của
văn bản QPPL.Hoạt động xem xét văn bản QPPL của HĐND cấp xã là nhiệm vụ
giám sát được pháp luật quy định nhằm đảm bảo tính thống nhất, đúng đắn của
hệ thống pháp luật do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành. Song, hầu hết tại
các kỳ họp HĐND cấp xã, nhiệm vụ này chưa được Thường trực HĐND, đại
biểu HĐND quan tâm. Trong thực tiễn hoạt động, khi phát hiện những văn bản
trái thẩm quyền luật (chủ yếu là văn bản cá biệt), Thường trực HĐND cấp xã
trao đổi trực tiếp với UBND cùng cấp để thống nhất cách thức giải quyết (sửa
đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ). Với cách xử lý như vậy nên việc xem xét các văn bản
của UBND cấp xã có dấu hiệu vi phạm pháp luật thường không trình trước kỳ
họp HĐND.
Việc bố trí kinh phí cho công tác này chưa đáp ứng được yêu cầu, trang
thiết bị, tài liệu phục cho công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa nên
ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động nhất là hệ thống hóa văn bản
QPPL theo ngành, lĩnh vực và cấp
3,Nguyên nhân của việc ban hành văn bản pháp luật trái thẩm quyền
Chính vì ban hành văn bản quy phạm pháp luật đúng thẩm quyền quan trọng
như vậy nên pháp luật có hai nhóm quy định gồm:nhóm quy định có mục đích
hạn chế khả năng ban hành văn bản trái thẩm quyền,và nhóm quy định nhằm
phát hiện và xử lý nhanh chóng các văn bản đã ban hành trái thẩm quyền. Cả hai
nhóm quy định này đều đã được quy định trong Luật, nhưng còn chưa đầy đủ và
thiếu nhất quán, cụ thể là:
Một là, nhóm quy định có mục đích hạn chế khả năng ban hành văn bản trái
thẩm quyền. Thuộc về nhóm này có 10 điều (từ Điều 11 đến Điều 20) quy định
về thẩm quyền ban hành văn bản của từng cơ quan, trong đó xác định mỗi cơ
dung trái với các văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn mà không kiểm tra, xử
lý văn bản ban hành trái thẩm quyền.
Như vậy, một mặt, việc hạn chế khả năng ban hành văn bản trái thẩm quyền
không được chú trọng đúng mức trong quá trình xây dựng văn bản,mặt khác, khi
văn bản đã ban hành trái thẩm quyền thì các hoạt động phát hiện, xử lý sau khi
văn bản đã được ban hành cũng thiếu cơ sở pháp lý, không được quan tâm đầy
đủ nên khó tránh khỏi tình trạng có những văn bản trái thẩm quyền tồn tại trong
hệ thống pháp luật. Phải chăng so với sai phạm khác như văn bản có nội dung
trái pháp luật thì trái thẩm quyền không phải là sai phạm lớn nên ít được chú ý
hơn? Ngoài nguy cơ ảnh hưởng đến sự hài hòa, thống nhất trong thực hiện
quyền lực nhà nước và khó đảm bảo chất lượng văn bản như đã nói ở trên thì
văn bản ban hành trái thẩm quyền còn có thể có những biểu hiện bất lợi khác
nữa trong quản lý nhà nước. Chẳng hạn, sau khi Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính năm 1995 có hiệu lực thì chính quyền địa phương không còn quyền ban
hành văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành
chính, nhưng hầu hết các địa phương trong cả nước vẫn ban hành văn bản quy
định về những vấn đề này. Giả sử quyết định của Uỷ ban nhân dân một tỉnh quy
định một hành vi nào đó là vi phạm hành chính nhưng hành vi này lại không
được coi là vi phạm hành chính theo quy định trong các văn bản của Chính phủ,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội, thì người bị xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi này có quyền khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính
không? Sự nguy hiểm của văn bản ban hành trái thẩm quyền trong trường hợp
này thể hiện không chỉ ở khả năng xâm phạm các quyền, lợi ích chính đáng của
đối tượng tác động, mà nó còn tước đi khả năng tự bảo vệ hay yêu cầu các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ.
Vấn đề đặt ra là, một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trái thẩm
quyền thì hiệu lực của nó như thế nào?
Xét dưới góc độ thẩm quyền thì hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước của
mỗi cơ quan, về nguyên tắc, chỉ có giá trị khi được thực hiện trong giới hạn
thẩm quyền pháp luật quy định, mọi hoạt động ngoài giới hạn thẩm quyền đó
-Việc xem xét vấn đề được đưa ra trong dự thảo có đúng thẩm quyền của cơ
quan ban hành văn bản không cần được thực hiện ở tất cả các khâu trong quá
trình xây dựng văn bản. Ngoài cơ quan ban hành xác định điều này, khi xây
dựng chương trình xây dựng pháp luật của cơ quan thì cơ quan soạn thảo có
trách nhiệm, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp ý kiến cho dự thảo có
quyền phát hiện các nội dung trái thẩm quyền của cơ quan ban hành càng sớm
càng tốt.
- Đặc biệt, pháp luật cần quy định sự phù hợp của nội dung dự thảo với thẩm
quyền của cơ quan ban hành văn bản là nội dung bắt buộc của hoạt động thẩm
tra, thẩm định. Có như vậy mới hạn chế được việc ban hành văn bản trái thẩm
quyền ngay trong quá trình xây dựng.
Thứ hai sau khi văn bản được ban hành.
- Văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm đặc trưng của hoạt động quyền lực
một hoạt động không có mục đích tự thân mà vì nhu cầu của xã hội - nên pháp
luật cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản trong việc chủ
động kiểm tra văn bản của mình ban hành (sản phẩm hoạt động quyền lực của
cơ quan đó). Đây không chỉ là trách nhiệm của cơ quan trước Nhà nước mà còn
là trách nhiệm trước xã hội.
- Hoàn thiện các quy định về giám sát, kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn
bản quy phạm pháp luật, bao gồm: (1) Bổ sung mục đích phát hiện văn bản ban
hành trái thẩm quyền vào mục đích của các hoạt động đó trong Điều 87, Điều 93
của Luật để thống nhất với nội dung giám sát, kiểm tra ở Điều 88; (2) Chỉnh sửa
các Điều 90, Điều 91 để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ