ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Đề tài môn học: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
CĂN BỆNH HÀ LAN
LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
GVHD: PGS.TS Nguyễn Chí Hải
Nhóm sinh viên thực hiện:
Phan Hoài Bảo K104010005
Phan Văn Hoành K104010030
Bùi Thu Huyền K104010036
Trần Văn Nhật K104010061 (NT)
Mai Thiên Trang K104010083
Lê Khánh Trung K104010090
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2013
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang bị cho những quý độc giả quan tâm những kiến thức cơ bản về căn bệnh Hà Lan và
những ảnh hưởng của căn bệnh Hà Lan trên thế giới: những đặc điểm, biểu hiện và ảnh
hưởng, hệ lụy của căn bệnh Hà Lan đến các quốc gia đang phát triển. Chỉ rõ ra rằng Việt
Nam có nguy cơ mắc căn bệnh Hà Lan hay là không, nếu có thì hướng khắc phục như thế
nào?
3. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu:
• Phương pháp lịch sử: sử dụng những hiểu biết lịch sử về căn bệnh Hà Lan
cũng như thu thập những dữ liệu trong quá khứ để phục vụ cho việc thực hiện
nghiên cứu đề tài.
• Phương pháp logic: trong quá trình nghiên cứu về căn bệnh Hà Lan, nhóm
nghiên cứu phân tích những cái bẫy “vết xe đổ” mà các nước đang phát triển
dễ mắc phải theo căn bênh Hà Lan và từ đó có cái nhìn tổng quát hơn nhằm đề
xuất được hướng giải quyết cho thực trạng tại Việt Nam.
5
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
• Phương pháp phân tích: Nhóm tập trung phân tích nguyên nhân của căn bệnh
Hà Lan và ảnh hưởng của nó.
• Phương pháp tổng hợp: Thông qua việc phân tích căn bệnh Hà Lan và ảnh
hưởng của nó đến các nước đang phát triển thì nhóm nghiên cứu đưa ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất hướng giải pháp cho Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Nền kinh tế Việt Nam, Columbia, Anh quốc.
6
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CĂN BỆNH HÀ LAN
1. Định nghĩa.
1.1. Đôi nét về đất nước Hà Lan.
Hà Lan có diện tích: 41.528 km2, hơn một phần tư lãnh thổ thấp dưới mực nước biển, có
nơi nằm thấp hơn mặt biển gần 7 mét, dân số hơn 16 triệu người trong đó 90% là người
kinh tế do sự gia tăng dòng ngoại tệ nói chung như sự tăng nhanh giá tài nguyên thiên
nhiên xuất khẩu hay nguồn viện trợ từ nước ngoài, nguồn vốn FDI. Căn bệnh Hà Lan là
hiện tượng phổ biến thường xuyên xảy ra ở các quốc gia đang phát triển.
1.4. Hoàn cảnh rơi vào căn bệnh Hà Lan.
Ba nguồn lực cơ bản tưởng chừng như chỉ mang lại cho quốc gia nguồn lực trù
phú như:
• Việc khám phá ra mỏ quặng quý.
• Việc tăng vọt giá xuất khẩu của một vài mặt hàng xuất khẩu sơ chế chủ lực.
• Dòng vốn đầu tư (FDI, ODA) đi vào trong nước dồi dào.
Chính những điều này đã mang lại các khoản thu nhập cao bất ngờ mà người ta
gọi là “của từ trên trời rơi xuống” (Winfall). Nếu nền kinh tế không kèm theo các chính
sách điều hành kinh tế hữu hiệu và sử dụng các nguồn lực kinh tế này một cách hiệu quả
thì rất dễ bị cuốn vào 2 tác động đặc trưng của Căn bệnh Hà Lan là: Tác động chi tiêu và
tác động lôi kéo nguồn lực.
8
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
1.5. Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh Hà Lan.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến căn bệnh Hà Lan nhưng nhóm nghiên cứu xin nêu ra 3
nguyên nhân chính như sau:
- Do tỷ giá hối đoái của Hà Lan kém linh hoạt. Hà Lan tập trung vào việc khai thác
tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu làm cho lượng xuất khẩu tăng vọt chính vì vậy
lượng ngoại tệ đổ về Hà Lan nhiều, do tỷ giá hối đoái kém linh hoạt nên giá trị của
đồng tiền Hà Lan giảm hay nói cách khác là tỷ giá giảm làm cho giá các mặt hàng
xuất khẩu tăng lên trong khi giá các loại hang hóa nhập khẩu lại giảm sút chính
điều này đã tạo nên những bất lợi trong quá trình phát triển của Hà Lan.
- Đầu tư lệch. Về cơ bản chúng ta có thể thấy rằng cơ cấu kinh tế của Hà Lan trong
giai đoạn mắc bệnh là không hợp lý, các khoản đầu tư chỉ tập trung vào lĩnh vực
khai khoáng tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu, đây chính là hiện tượng đầu tư
lệch làm cho suy giảm quá trình phát triển kinh tế Hà Lan.
- Hiệu ứng tiêu dùng. Do việc xuất khẩu tăng mạnh nên chính phủ Hà Lan có được
- Sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả.
- Phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực quản lý, các nhà quản lý cần
có kiến thức về căn bệnh Hà Lan để từ đó ra chính sách một cách phù hợp và đúng
đắn.
3. Mô hình và tác động của Căn bệnh Hà Lan.
3.1. Mô hình cổ điển.
3.1.1. Nội dung.
Mô hình cổ điển của căn bệnh Hà Lan được công bố bởi 2 nhà Kinh tế học là
W.Max Corden và J.Peter Neary vào năm 1982. Mô hình này dựa trên giả thuyết rằng nền
kinh tế quốc dân được chia ra làm 2 khu vực: Khu vực xuất khẩu và khu vực không xuất
khẩu. Trong đó khu vực xuất khẩu được chia ra làm 2 khu vực nhỏ
10
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
• Khu vực “bùng nổ”: Khu vực khai thác tài nguyên
• Khu vực “trì trệ”: Khu vực sản xuất
Các giả thiết khác là tổng lực lượng lao động không đổi, nền kinh tế trong trạng thái toàn
dụng lao động, và tỉ giá hối đoái danh nghĩa cố định.
=> W. Max Corden và J.Peter Neary gọi đây là hiệu ứng di chuyển nguồn lực của căn
bệnh Hà Lan.
2.1.2. Tác động.
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực.
Khi các ngành khai thác tài nguyên bùng nổ, lượng cầu về lao động của khu vực này tăng
lên, lao động từ khu vực sản xuất sẽ chuyển sang khu vực khai thác này làm cho khu vực
sản xuất bị thiếu cung lao động và trở nên suy thoái. Quá trình này được gọi là phi công
nghiệp hóa trực tiếp.
Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực khai thác đã làm tăng thu nhập của người lao động
trong khu vực này. Nhu cầu tiêu dùng của họ vì thế cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân
dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực không xuất khẩu. Sự tăng trưởng này lại
kéo theo sự di chuyển nguồn lực từ khu vực sản xuất và khiến cho khu vực này ngày
càng trì trê hơn. Quá trình này được gọi là phi công nghiệp hóa gián tiếp.
nông nghiệp gồm khu vực sản xuất nhằm xuất khẩu thu lợi nhuận và khu vực sản xuất
lương thực tiêu dùng trong nước thay vì một khu vực đơn nhất.
3.2.2. Tác động.
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực.
Về cơ bản, mô hình 4 khu vực cũng thừa nhận tác động di chuyển nguồn lực như mô hình
2 khu vực. Tuy nhiên, do có sự phân chia khu vực chi tiết hơn, mô hình này phân tích các
tác đông chi tiết hơn.
12
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
Cụ thể, đối với khu vực nông nghiệp, hiệu ứng di chuyển nguồn lực chỉ ra rằng, do đồng
nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh, khu vực sản xuất xuất khẩu thu lợi nhuận sẽ bị
thu hẹp lại trong lúc khu vực sản xuất hàng tiêu dùng trong nước lại có xu hướng mở
rộng hơn.
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực cũng diễn ra tương tự như vậy trong khu vực công nghiệp.
Một số ngành sản xuất như sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng tư bản… phục vụ cho
nhu cầu trong nước có xu hướng phát đạt hơn doi dòng ngoại tệ làm cầu tăng. Trong lúc
các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có dấu hiệu suy thoái do mức độ cạnh
tranh giảm. Ngoài ra, mô hình 4 nhân tố cũng chỉ ra rằng, các ngành sản xuất hàng tư bản
thường có mức tăng trưởng cao hơn các ngành hàng tiêu dùng, do dòng ngoại tệ thường
được ưu tiên cho việc đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng.
Hiệu ứng tiêu dùng.
Về hiệu ứng tiêu dùng, mô hình 4 khu vực không có nhiều khác biệt với mô hình 2 khu
vực. Thu nhập cao hơn tạo xu hướng tiêu dùng cao hơn trong nước và do đó thúc đẩy các
ngành sản xuất cho tiêu dùng trong nước phát đạt hơn trong lúc nền kinh tế có nguy cơ
lạm phát.
13
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
CHƯƠNG 2
CĂN BỆNH HÀ LAN – BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC
1. Columbia và Căn bệnh Hà Lan.
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
Hình 2.3 Sự tăng trưởng ở các ngành không xuất khẩu (non-tradable sector) giai đoạn
1967-1983 (Nguồn: IMF)
Và đây cũng là lúc căn bệnh Hà Lan lộ diện rõ ở nước này. Trong lúc các ngành
nontrable nở rộng hơn thì các ngành xuất khẩu truyền thống: như dệt may, luyện kim,
chế tạo máy khác bắt đầu thể hiện mức sụt giảm mạnh mẽ. Cụ thể,
• Dệt may: giảm mạnh từ 5%/năm xuống -1%/năm, “khai tử” ngành dệt may
trong nước.
• Làm giấy và in ấn: giảm từ 10% xuống còn 5%/năm
• Sản phẩm từ dầu: giảm từ 8 xuốngcòn 1
• Hoá chất và cao su: từ 10 xuống thấp hơn 4
• Vận tải: giảm hơn 8 từ 13 xuống còn 5
• Máy móc và công cụ: giảm gần 5
Như vậy hầu hết các ngành đều giảm gần 50% tốc độ tăng trưởng so với giai đoạn ban
đầu.
16
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
Hình 2.4. Các ngành xuất khẩu truyền thống giai đoạn 1967-1983 (Nguồn: IMF)
Vậy chúng ta thấy rằng, sự tăng giá cafê kéo theo nguồn ngoại tệ ồ ạt đổ vào Columbia
đã tạo ra một kịch bản đúng như lý thuyết về căn bệnh Hà Lan ở một nền kinh tế đang
phát triển. Vậy các nước phát triển có thể mắc bệnh Hà Lan hay không?
2. Anh quốc và căn bệnh Hà Lan.
Anh là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, không những là một quốc gia công
nghiệp và mà còn là một nước phát triển với thủ đô Luân Đôn được coi là trung tâm tài
chính toàn cầu.
Thập niên 70, nước Anh xuất hiện với vai trò là một nước sản xuất dầu mỏ và đó cũng là
nguyên nhân giải thích cho những gì xảy vớinền kinh tế nước này trong 5 năm 1976-
1981.
Đến giữa năm 1976, nước Anh chủ yếu là xuất khẩu dầu mỏ và đến năm 1980, Anh trở
thành nước xuất khẩu dầu mỏ với quy mô lớn. Vì sự gia tăng đột biến về lượng dầu xuất
kinh tế Anh. Cuối cùng, việc xuất khẩu các hàng hóa sản xuất từ nước Anh tình hình
chung năm 1984 vẫn giống như năm 1976.
19
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
Tóm lại, nước Anh với sự phát hiện và xuất khẩu dầu mỏ ở vùng biển Bắc đã dẫn đến sự
suy thoái của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng khác do giá không cạnh tranh cao. Và
điều này cho thấy căn bệnh Hà Lan có thể diễn ra ở bất cứ đâu, ngay cả ở một nền kinh tế
lớn như nước Anh. Do đó mà trong quá trình phát triển và thu hút mạnh mẽ nguồn vốn
FDI đổ vào trong nước, các quốc gia thế giới thứ ba cần nghiên cứu và học hỏi để tránh
những tác động mạnh mẽ từ căn bệnh Hà Lan.
20
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
Chương 3
THỰC TẾ VIỆT NAM VÀ CĂN BỆNH HÀ LAN
1. Hiện trạng của Việt Nam.
Là nước nông nghiệp, Việt nam đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, những
cuộc chiến tranh loạn lạc, đại đa số nông dân Việt nam phải sống cơ cực từ đời này sang
đời khác. Mọi chuyện đã bắt đầu thay đổi khi Việt nam thực hiện công cuộc đổi mới, mở
của nền kinh tế vào năm 1986. Sau gần 2 thập niên, đã có những tiến bộ thần kỳ, tỷ lệ hộ
đói nghèo từ gần 80% đã giảm còn 29% (theo chuẩn quốc tế), còn 12% (theo chuẩn quốc
gia). Với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế - xã hội cùng với những thành tích
đã đạt được, sự kỳ vọng vào một đời sống sung túc và nền kinh tế phát triển bền vững là
điều không xa. Nhưng vấn đề không hề đơn giản khi tình trạng đô thị hoá đang xảy ra ồ
oạt, nhiều đô thị (nhất là hai vùng kinh tế trọng điểm xung quanh Hà Nội và Tp.Hồ Chí
Minh) được mở rộng. Đất nông nghiệp trở thành đất công nghiệp, đất đô thị với mức giá
tăng chóng mặt. Những chuẩn mực đánh giá bị thay đổi, người ta không còn đánh giá sự
khá giả, giàu có qua mức thu nhập hàng tháng, qua những vụ mùa mà thay vào đó là sở
hữu bao nhiêu mét vuông, bao nhiêu lô đất. Sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp ít
được chú trọng hơn. Thay vào đó, người ta dồn nguồn lực cho việc đầu cơ đất đai, bất
động sản, bong bóng bất động sản ngày càng to hơn và nguy cơ đóng băng thị trường bất
đổ vào Việt Nam trung bình hằng năm là 3.8 tỷ USD. Những năm 1997-1999, chịu ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nguồn FDI sụt giảm mạnh (giảm gần
50%), chỉ đạt 1.82 tỷ USD/năm. Sau giai đoạn phục hồi chậm (2000-2003: trung bình
1.98 tỷ USD/năm), kể từ năm 2004, nguồn FDI tăng lên liên tục với tốc độ cao
(2004:115.38%, 2006:75%, 2007: 99%, 2008: 215%). Riêng năm 2008, trong bối cảnh
1
22
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
kinh tế Việt Nam và thế giới đang gặp nhiều khó khăn, FDI lại đạt mức kỷ lục 64.011 tỷ
USD.
Hình 3.2: Tốc độ tăng FDI qua các năm (Nguồn: )
Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý ở đây là phần lớn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là từ
các quốc gia (và vùng lãnh thổ) từ Châu Á như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng
Công,… Việt Nam chưa thu hút được nhiều đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển,
công nghệ nguồn. Các nước G8 chỉ chiếm 23.7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam
2
. (Xem
bảng 3.2)
Bảng 3.2: 10 đối tác đầu tư FDI lớn vào Việt Nam tính đến tháng 12, 2012
(Nguồn: )
Về việc sử dụng vốn FDI, điều đáng lo ngại là hầu hết các nhà đầu tư đều tập trung vào
những ngành thâm dụng lao động, khai thác tài nguyên (dệt may, công nghiệp nặng, khai
thác khoáng) chứ không phải những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao (Chíp
điện tử, màn hình LCD,…) hay xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục.
Khi các ngành công nghiệp nặng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đầu tư, tạo
được nguồn lợi nhuận sẽ thu hút được một lượng lớn lao động từ các ngành sản xuất khác
2
23
Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn
qua. Điều này hiển nhiên sẽ làm thu hẹp sản xuất các ngành sản xuất còn lại của nền kinh