Mục lục
Mục lục 1
I.Tổng quan về rừng 1
1.Vai trò của rừng 2
2.Phân loại rừng 2
II.Hiện trạng khai thác rừng trên thế giới 3
III.Tài nguyên rừng ở Việt Nam 3
IV.Thuật Ngữ Chi Trả Dịch Vụ Môi Trường 7
1.Khái niệm: 7
2.Đối tượng tham gia 7
V.Nhu cầu hình Thành Chi Trả Dich Vụ Môi Trường Rừng Ở Việt Nam 7
VI.Nội dung chi trả dịch vụ môi trường 8
1.Xác định các đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng: 8
2.Xác định các đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng 9
3.Công thức tính tiền chi trả cho chủ rừng 9
VII.Chi trả dịch vụ môi trường rừng thí điểm ở Lâm Đồng và Sơn La 10
1.Giới thiệu: 10
2.Sơn La: 10
a.Kết quả: 11
b.Hạn chế: 11
3.Lâm Đồng: 12
a.Kết quả: 12
I. Tổng quan về rừng
Rừng là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất là
rừng ẩm nhiệt đới. Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một
yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên, có vai trò cực kỳ quan trọng
trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai.
Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế - xã hội mà còn
có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường. Diện tích đất có rừng của một quốc
gia tối ưu phải đạt 45% tổng diện tích.
1
Theo độ giàu nghèo ta phân biệt:
• Rừng giàu: có trữ lượng gỗ trên 150 m3/ha.
• Rừng trung bình: có trữ lương gỗ từ 80 -150 m3/ha.
• Rừng nghèo: có trữ lượng gỗ dưới 80 m3/ha.
Theo các tính toán mới đây, năng suất trung bình của rừng trên toàn thế
giới đạt đến 5 tấn chất khô/ ha/ năm. Tuy nhiên con số này rất khác nhau tùy theo
loại rừng và nơi phân bố của chúng:
2
II. Hiện trạng khai thác rừng trên thế giới
Hình 1: sự phân bố các loại rừng theo vĩ độ và khí hậu.
Trước đây rừng chiếm diện tích khoảng 60 triệu km², đến 1958 chỉ còn
44,05 triệu km² đến năm 1973 còn 37,37 triệu km². Hiện nay diện tích rừng ngày
càng giảm do tác động của con người và chỉ còn khoảng 29 triệu km².Tốc độ mất
rừng trong những năm gần đây càng ngày càng gia tăng mạnh, dự đoán đến năm
2020 khoảng 40% rừng còn lại bị phá hủy nghiêm trọng.
III. Tài nguyên rừng ở Việt Nam
Năm 1945, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, chiếm 43,8% diện tích đất đai,
đến những năm đầu thập niên 1990 diện tích này đã giảm tới con số 7,8 triệu ha
với độ che phủ chỉ còn 23,6% tức là đã ở dưới mức báo động (30%). Tốc độ mất
rừng ở Việt Nam trong những năm 1985 - 1995 là 200.000 ha/năm. Trên nhiều
vùng trước đây là rừng bạt ngàn thì nay chỉ còn là đồi trọc, diện tích rừng còn lại
rất ít, chẳng hạn như vùng Tây Bắc chỉ còn 2,4 triệu ha, Tây Nguyên chỉ còn 2,3
triệu ha. Rừng miền Đông Nam Bộ còn lại khá hơn song đang bị tập trung khai
thác. Rừng ngập mặn ven biển trước năm 1945 phủ một diện tích 400.000 ngàn ha
nay chỉ còn gần một nửa (200.000 ha) chủ yếu là thứ sinh và rừng trồng. Diện tích
đất trống đồi núi trọc đang chịu xói mòn nặng lên đến con số 13,4 triệu ha.
Theo báo cáo về hiện trạng rừng toàn quốc năm 2006 vừa được Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc hiện là 38%.
Tính đến cuối năm 2006 diện tích đất có rừng trên toàn quốc là gần 13 triệu ha,
trong đó rừng tự nhiên là 10,4 triệu ha; rừng trồng là 2,5 triệu ha. Phân loại theo
những vùng rất cần có rừng như vùng núi Tây Bắc thì độ che phủ lại chỉ 27%.
Biểu đồ độ che phủ rừng ở các vùng miền trong cả nước
6
IV. Thuật Ngữ Chi Trả Dịch Vụ Môi Trường
1. Khái niệm:
Là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc pháp
lý và với hợp đồng này thì một hay vài người mua chi trả cho hệ sinh thái
xác định bằng cách trả tiên mặt hay các hổ trợ cho một hoăc nhiều người bán
và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất
định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thoả
thuận.
- Chi trả dịch vụ hệ sinh thái là sự bồi thường cho việc cung cấp các
dịch vụ hệ sinh thái này
- Sự bồi thường hoặc hổ trợ này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức
(tiền mặt, hỗ trợ hiện vật, miễn thuế, đảm bảo quyền hưởng dụng…)
2. Đối tượng tham gia
Người bán là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) tạo ra các hàng hoá và
dịch vụ hệ sinh thái thông qua việc quản lý hệ sinh thái.
Người mua là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) phải trả cho các lợi
ích từ việc nhận được hàng hoá và dịch vụ hệ sinh thái.
V. Nhu cầu hình Thành Chi Trả Dich Vụ Môi Trường Rừng Ở
Việt Nam
Có cuộc sống an lành, muốn sống tốt thì phải chi trả tiền, phải tổ chức
trồng rừng, bảo vệ rừng để rừng sản xuất ra các giá trị sử dụng làm chức
năng phòng hộ môi trường, cung ứng cho con người thụ hưởng. Những
người lao động lâm nghiệp (gọi là các chủ rừng), trực tiếp đầu tư vốn, lao
động để trồng rừng, bảo vệ rừng tức là sản xuất ra của cải vật chất gọi là các
giá trị sử dụng của rừng.
- Các giá trị sử dụng này được cung ứng cho mọi thành viên trong xã
hội thụ hưởng, thì các chủ rừng phải được chi trả, hoàn lại phần vốn,
rừng.
* Các tổ chức cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hại
đối với rừng (khai khoáng, khai thác lâm sản, sản xuất gạch ngói, gốm sứ,
khai hoang, thải công nghiệp, khói ô tô, xe máy; …).
* Nguồn thu từ hỗ trợ, đóng góp của các nước, các tổchức trong nước
và quốc tế
3. Công thức tính tiền chi trả cho chủ rừng
Trong Quyết định số 380/QĐ-TTg (10/4/2008) về việc ban hành
Chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng có nêu lên một công
thức xác định số tiền chi trả cho chủ rừng như sau:
Tổng số tiền chi
trả cho người
được chi trả dịch
vụ trong năm
(đồng)
=
Định mức chi
trả bình quân
cho 1 ha rừng
(đồng/ ha)
x
Diện tích rừng
do người được
chi trả dịch vụ
quản lý, sử
dụng (ha)
x
Hệ
số
Chính phủ cho phép họ hạch toán chi phí chi trả dịch vụ MTR vào giá thành sản
xuất. Kết quả khả quan cho thấy các công ty đều bày tỏ quan điểm đồng ý thực
hiện nghĩa vụ chi trả hàng năm trên có sở hai lần/năm, vào tháng Bảy và tháng
Một năm tiếp theo.
2. Sơn La:
Tại Sơn La bên sử dụng dịch vụ được xác định là các nhà máy Thuỷ điện
Hoà Bình, nhà máy thuỷ điện Suối Sập, công ty Cấp nước Phù Yên và công ty Cấp
nước Mộc Châu, bên cung cấp dịch vụ là các chủ rừng trên địa bàn 2 huyện thí
điểm Mộc Châu và Phù Yên. Mức chi trả của từng công ty được xác định dựa trên
tổng lượng điện/tổng lượng nước kinh doanh hàng năm trong đó đối với 1Kwh là
20 đồng, 1m3 nước là 40 đồng và bình quân/ha là 100.432 đồng.
Việc thu tiền sử dụng dịch vụ MTR cũng được thực hiện theo cơ cấu phân
cấp hiện thời. Ở cấp quốc gia, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) thu các
khoản chi trả của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình vì nhà máy thuộc khu vực hạ lưu
của 5 tỉnh trong đó có Sơn La. Trong khi đó, ở cấp tỉnh, quỹ bảo vệ và phát triển
rừng Sơn La thu tiền chi trả của 03 công ty còn lại đóng trên địa bàn tỉnh.
10
a. Kết quả:
Tính đến cuối năm 2010, ba trong số bốn công ty đã chuyển các khoảng
thanh toán đầu tiên của năm 2009 với tổng cộng hơn 60 tỷ đồng. Trong đó Nhà
máy Thủy điện Hòa Bình vẫn chưa thanh toán các khoản tiếp theo mặc dù đã có
yêu cầu bằng văn bản từ phía Quỹ BVPTR. Công ty còn lại - Nhà máy Thủy điện
Suối Sập - đã không đủ khả năng thanh toán do kinh doanh thua lỗ. Hơn nữa, chủ
rừng hay các nhà cung cấp dịch vụ MTR ở địa phương vẫn chưa lên tiếng yêu cầu
các nhà máy thanh toán theo kế hoạch đã cam kết, mặc dù họ được hưởng lợi đáng
kể từ khoản chi trả này. Họ đã không lên tiếng ngay cả khi họ đã từng tham gia
vào nhiều chiến dịch, hoạt động nâng cao nhận thức cũng như các sự kiện, diễn
đàn tham vấn về PFES. Họ cũng đã nhận được tờ rơi, thông tin và được nghe phổ
biến về PFES thông qua các chương trình truyền thanh, truyền hình ở địa phương.
Các nhà quản lý rừng dường như chưa hoàn toàn nhận thức được quyền lợi
xôi, cách trung tâm xã cả ngày đường như ở các xã trong vùng thí điểm của sơn la.
Vậy là… người dân thì không nhận được tiền, còn quỹ thì vẫn chẳng thể giải
ngân!
Thực tế thực hiện thí điểm ở Sơn La cho thấy cơ cấu thể chế PFES hiện nay
chưa hoàn toàn hướng tới các mục tiêu lâu dài nhằm kết nối người cung cấp dịch
vụ (chủ rừng) với người sử dụng dịch vụ. Hạn chế lớn nhất là nhận thức chưa đầy
đủ của chủ rừng, phương pháp tiếp cận theo định hướng chỉ đạo, thiếu sự phối kết
hợp giữa các Bộ, ngành và các cơ quan hữu quan, vấn đề thực thi còn hạn chế
cũng như sự hiểu biết không đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ của cả người cung
cấp và người sử dụng dịch vụ.
Đối với Sơn La, nên xem lại cách chi trả cũng như là thông báo cho người
dân rõ ràng về cách nhận tiền, thời gian hoạt động chi trả của ngân hàng nên thông
báo rõ ràng cho người dân. Nâng cao hơn nữa ý thức bảo vệ rừng và nâng cao kiến
thức của người dân.
3. Lâm Đồng:
a. Kết quả:
Tại Lâm Đồng, chương trình thí điểm đã nhận được sự đồng thuận cao của
các bên liên quan và hiện nay các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim và Đại Ninh đang
chi trả khoảng 55 tỷ đồng (~2,8 triệu USD) cho hơn trong đó hơn 8.000 hộ dân
bảo vệ rừng được hưởng thu nhập bình quân từ 8,1 đến 8,7 triệu đồng/năm, cao
gấp ba lần so với thu nhập nhận khoán trước đây để bảo vệ hơn 203 nghìn ha rừng.
Qua 2 năm triển khai thí điểm, từ nguồn quỹ bảo vệ phát triển rừng trên 107 tỷ
đồng, tỉnh Lâm Đồng đã dành phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng cũng như
chi trả cho người dân, hộ gia đình, cộng đồng thôn, buôn nhận giao khoán.
Đến nay, đã có gần 10.000 hộ dân, trong đó gần 7.000 hộ là đồng bào dân
tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách này. Cũng từ
đó, công tác quản lý bảo vệ rừng ở đây hiệu quả hơn, giảm được 50% vụ vi phạm
lâm luật. Nhiều hộ dân làm đơn xin được nhận khoán thêm diện tích rừng để bảo
vệ, phát triển. Người dân tuần tra, kiểm tra rừng thường xuyên hơn, đơn vị chủ
12
VIII. Bài học và biện pháp:
Kinh nghiệm thực hiện từ Sơn La cho thấy cần thiết phải thay đổi phương
pháp tiếp cận truyền thống theo hình thức chỉ đạo và kiểm soát sang cơ cấu phân
cấp quản lý nhằm thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và chịu trách nhiệm giữa người
cung cấp và người sử dụng dịch vụ. Có thể tạo ra sự thay đổi này bằng cách tăng
13
cường cơ cấu tổ chức hiện có thông qua thúc đẩy mối quan hệ phối kết hợp của
các cơ quan chủ quản ở cấp Trung ương (Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Bộ
Tài chính) và ở cấp địa phương (giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ).
Điều đó bao gồm tăng cường phân cấp và trao quyền quản lý cho người dân địa
phương như những đối tác thực hiện, tạo điều kiện hình thành và phát triển thị
trường, qua đó cho phép ký kết các hợp đồng tự nguyện dựa trên kết quả thực
hiện, áp dụng quy chế khen thưởng và tính trách nhiệm trong quá trình thực hiện.
Quan trọng hơn hết là cần thay đổi nhận thức, quan điểm coi người dân địa
phương là nguồn lao động giá rẻ, mà cần coi họ là những đối tác bình đẳng và là
lực lượng chính trong bảo vệ, quản lý và phát triển rừng.
Ngoài phân cấp, việc tăng cường vai trò và phân quyền cho chủ rừng thông
qua đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng sẽ tác động tích cực tới quá trình xây
dựng thể chế PFES. Cần tiếp tục giao những diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện
do các ban quản lý rừng và công ty lâm nghiệp đang quản lý cho hộ gia đình, cá
nhân và cộng đồng địa phương để quản lý, bảo vệ, đồng thời đảm bảo quyền sử
dụng đất rừng của họ.
Nâng cao nhận thức cho tất cả các bên liên quan từ các nhà hoạch định
chính sách ở cấp quốc gia tới các công ty sản xuất kinh doanh và các chủ rừng ở
địa phương, theo kế hoạch Bộ NN&PTNT xây dựng trong mối quan hệ phối hợp
của GIZ và các bên liên quan trong nước và quốc tế khác.
Ngoài các thông tư liên bộ hướng dẫn thực hiện Nghị định, cần xây dựng
thông tư liên bộ giữa Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương trong đó quy định cụ
thể chức năng, nhiệm vụ, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan nhằm đẩy
mạnh phân cấp cho phép hình thành những mối quan hệ trực tiếp giữa Ban quản lý
nghiệm:
• Làm thế nào để người mua, bán dịch vụ môi trường ký kết thoả thuận
một cách tự nguyện trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
• Điều kiện chi trả và việc cung cấp dịch vụ trong điều kiện cho phép,
điều kiện về phương thức sử dụng đất, các hoạt động của người bán và/
hoặc quản lý nguồn tài nguyên quy mô hợp đồng.
• Thời hạn và hình thức ký kết hợp đồng.
• Mức độ của các cam kết liên quan đến từng mối quan hệ nhân quả cụ
thể để duy trì tính liên tục của dịch vụ (tránh làm giàm, suy thoái hay
mất khả năng cung cấp dịch vụ của tài nguyên).
• Hình thức chi trả, ví dụ như thanh toán bằng tiền mặt để tuỳ ý sử dụng,
đầu tư vào các dịch vụ công hay quỹ uỷ thác phục vụ các hoạt động cụ
thể nào đó.
• Mức chi trả trong mối liên hệ với chi phí cơ hội của người bán và chi
phí lựa chọn dịch vụ của người mua.
15
2. Một số bài học kinh nghiệm
• Đối với chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn
• Chỉ ra chi phí và lợi ích từ việc bảo vệ phòng hộ đầu nguồn là một yêu
cầu quan trọng để thuyết phục người mua tham gia.
• Việc thực thi pháp luật của chính phủ là cấn thiết chứ không phải chỉ
dựa vào hợp đồng mang tính tự nguyện giữa người mua và người bán.
• Hỗ trợ ban đầu là cần thiết để tạo sự chuyển biến các phương thức sử
dụng đất.
Đối với chức năng bảo vệ cảnh quan
• Một khoản tiền khá lớn có thể được tạo ra từ hoạt động du lịch thông
qua thu phí người sử dụng các dịch vụ cung cấp. hệ thống thu vé vào
cổng nên đa dạng hơn để phù hợp với các đối tượng khách du lịch khác
nhau.
• Số tiền thu được chuyển cho các cơ quan quản lý để bảo vệ môi trường.
ngành công nghiệp.
Để có thể thương mại hoá cacbon cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ như các
chính sách, xây dựng năng lực và đặc biệt là nâng cao nhận thức về biến đổi khí
hậu.
Tiến hành các nghiên cứu thí điểm về RUPES tập trung vào các cơ chế chi
trả nhằm giải quyết các vấn đề nghèo đói. Các mô hình này có thể gồm:
• Tăng cường sự an toàn về hưởng dụng đất
• Tạo cơ hội để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết
định.
• Trả công lao động cho việc bảo vệ dịch vụ môi trường với mức tối
thiểu tương đương với chi phí cơ hội mà người dân bỏ ra để thực
hiện các hoạt động tương tự như chặt gỗ.
• Tăng cường khả năng tiếp cận các quỹ đầu tư như quỹ tính dụng nhỏ
cho các hoạt động có tiềm năng sinh lợi.
• Tăng cường năng lực knh doanh để bán các dịch vụ môi trường như
một sản phẩm hàng hoá, ví dụ như tạo thương hiệu sinh thái.
17