Header Page 1 of 133.
Mục lục
Tổng quan về rừng ...................................................................................................... 1
I.
1.
Vai trò của rừng ....................................................................................................... 2
2.
Phân loại rừng .......................................................................................................... 2
Hiện trạng khai thác rừng trên thế giới ....................................................................... 3
II.
III.
Tài nguyên rừng ở Việt Nam ................................................................................... 3
IV.
Thuật Ngữ Chi Trả Dịch Vụ Môi Trường ............................................................... 7
1.
Khái niệm: ................................................................................................................ 7
2.
Đối tượng tham gia .................................................................................................. 7
a.
Kết quả: .......................................................................................................... 11
b.
Hạn chế: ......................................................................................................... 11
Lâm Đồng: ............................................................................................................. 12
3.
a.
Kết quả: .......................................................................................................... 12
b.
Hạn chế: ......................................................................................................... 13
VIII.
Bài học và biện pháp: ......................................................................................... 13
1.
Những hạn chế của của việc áp dụng PES ở nước ta:............................................ 15
2.
Một số bài học kinh nghiệm................................................................................... 15
Rừng cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến, dược liệu, du lịch, giải trí...
Rừng là "lá phổi xanh" hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho
khu vực. Rừng tạo nên khoảng 16 tấn oxy/ ha/ năm (rừng thông 30 tấn, rừng trồng
3 - 10 tấn). Mỗi người một năm cần 4.000kg O2 tương ứng với lượng oxy do
1.000 - 3.000 m2 cây xanh tạo ra trong năm.
Rừng giúp giảm nhẹ Hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu trên toàn cầu.
Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3 - 5oC. Rừng
bảo vệ và ngăn chặn gió bão, giảm thiểu lũ lụt, gió bão, hạn hán,...
2. Phân loại rừng
Rừng có nhiều chức năng quan trọng, dựa vào đó mà người ta chia rừng
thành 3 loại tuỳ thuộc vào chức năng cơ bản nhất:
Rừng phòng hộ: bảo vệ đất, nước, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều
hoà khí hậu
Rừng đặc dụng: Bảo tồn ĐDSH, thiên nhiên, mẫu chuẩn, gen, nơi học tập,
nghiên cứu, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, nghỉ ngơi, du lịch sinh
thái
Rừng sản xuất: Sản xuất kinh doanh gỗ, lâm sản phi gỗ, động vật rừng và
BVMT sinh thái.
Theo độ giàu nghèo ta phân biệt:
Rừng giàu: có trữ lượng gỗ trên 150 m3/ha.
Rừng trung bình: có trữ lương gỗ từ 80 -150 m3/ha.
Rừng nghèo: có trữ lượng gỗ dưới 80 m3/ha.
Theo các tính toán mới đây, năng suất trung bình của rừng trên toàn thế
giới đạt đến 5 tấn chất khô/ ha/ năm. Tuy nhiên con số này rất khác nhau tùy theo
loại rừng và nơi phân bố của chúng:
2
Footer Page 2 of 133.
Tính đến cuối năm 2006 diện tích đất có rừng trên toàn quốc là gần 13 triệu ha,
trong đó rừng tự nhiên là 10,4 triệu ha; rừng trồng là 2,5 triệu ha. Phân loại theo
chức năng sử dụng thì rừng đặc dụng là 2,2 triệu ha; rừng phòng hộ là gần 5,3
triệu ha; rừng sản xuất là 5,4 triệu ha./.
Bảng: Diễn biến diện tích rừng ở Việt Nam qua các năm (đơn vị tính 1.000.000
ha).
Diện tích 1945 1976 1980 1985 1990 1995 1999 2002 2004
3
Footer Page 3 of 133.
Header Page 4 of 133.
(ha)
Tổng diện 14,30 11,16 10,60 9,89
9,17
9,30
10,99 11,78
tích
Rừng
0,00
0,01
0,42
0,58
0,74
1,05
1,52
1,91
trồng
Rừng tự 14,30 11,07 10,18 9,30
Hình 3. 6: Chất lượng rừng Việt Nam qua các năm 1990, 1995 và 2000
Tuy diện tích rừng có tăng lên trong hơn 10 năm gần đây, nhưng chất lượng
của rừng lại giảm đi, diện tích rừng giàu còn rất ít chỉ hơn 10%, diện tích rừng
nghèo thì ngày càng tăng lên. Bên cạnh đó, tỷ lệ này không đồng đều, tỷ lệ che
phủ của rừng ở những vùng đồng bằng đương nhiên là thấp, nhưng đặc biệt là có
những vùng rất cần có rừng như vùng núi Tây Bắc thì độ che phủ lại chỉ 27%.
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
47%
55%
39%
34%
33%
27%
C¶ n- í c Vï ng B¾c Vï ng T©y
vµ §«ng
B¾c
B¾c bé
8%
§«ng
Nam Bé
Vï ng T©y
Nam Bé
Header Page 7 of 133.
IV.
Thuật Ngữ Chi Trả Dịch Vụ Môi Trường
1. Khái niệm:
Là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện có ràng buộc pháp
lý và với hợp đồng này thì một hay vài người mua chi trả cho hệ sinh thái
xác định bằng cách trả tiên mặt hay các hổ trợ cho một hoăc nhiều người bán
và người bán này có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất
định cho một giai đoạn xác định để tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái thoả
thuận.
- Chi trả dịch vụ hệ sinh thái là sự bồi thường cho việc cung cấp các
dịch vụ hệ sinh thái này
- Sự bồi thường hoặc hổ trợ này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức
(tiền mặt, hỗ trợ hiện vật, miễn thuế, đảm bảo quyền hưởng dụng…)
2. Đối tượng tham gia
Người bán là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) tạo ra các hàng hoá và
dịch vụ hệ sinh thái thông qua việc quản lý hệ sinh thái.
Người mua là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) phải trả cho các lợi
ích từ việc nhận được hàng hoá và dịch vụ hệ sinh thái.
1. Xác định các đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng:
* Tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và cá nhân có tư cách
pháp nhân, được giao rừng tự nhiên, nhận khoán quyền sử dụng rừng tự
nhiên ổn định lâu dài để bảo vệ, phát triển rừng, được chi trả phù hợp với giá
trị của rừng
* Tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và cá nhân có tư cách
pháp nhân, được giao đất, giao và khoán rừng sản xuất
* Các loại rừng được áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng là:
8
Footer Page 8 of 133.
Header Page 9 of 133.
-Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
-Rừng sản xuất
2. Xác định các đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng
* Các tổ chức cá nhân được hưởng lợi từ rừng (khai thác thuỷ lợi,
thuỷ điện, Du lịch sinh thái, du lịchvăn hoá, nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên
cứu khoa học, học tập…).
* Những người sống trên đất nước Việt Nam được hưởng thụ môi
trường trong lành từ rừng đem lại (ngăn chặn thiên tai, dịch bệnh, tạo không
khí trong lành).
* Nguồn kinh phí đã hình thành từ trước như thuỷ lợi phí, Thuế tài
nguyên, hàng năm được trích chuyển trả lại cho các dịch vụ môi trường
rừng.
* Các tổ chức cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hại
đối với rừng (khai khoáng, khai thác lâm sản, sản xuất gạch ngói, gốm sứ,
Header Page 10 of 133.
VII.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng thí điểm ở Lâm Đồng và
Sơn La
1. Giới thiệu:
Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng cho một
chương trình quốc gia về chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Hai trong những
văn bản quan trọng nhất là Quyết định 380/TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng
Chính phủ về thí điểm PFES ở hai tỉnh Sơn La, nơi đầu nguồn của hệ thống sông
Đà và tỉnh Lâm Đồng, nơi đầu nguồn của hệ thống sông Đồng Nai, và Nghị định
số 99 ngày 24/9/2010 của Chính phủ về thực hiện PFES trên phạm vi cả nước. Dự
án thí điểm về chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được triển khai tại tỉnh Sơn La
với sự hỗ trợ của cơ quan Hợp tác kỹ thuật CHLB Đức (GTZ), tại tỉnh Lâm Đồng
với sự hỗ trợ của tổ chức Winrock International. Vì thế, Việt Nam đã trở thành
một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện PFES, sau Mexico và
Costa Rica.
Tại nhiều diễn đàn đối thoại chính sách quốc gia, đã có nhiều ý kiến thảo
luận đưa ra xoay quanh vấn đề thu tiền sử dụng dịch vụ MTR, đặc biệt là mức độ
sẵn lòng chi trả của các công ty sử dụng dịch vụ cũng như việc xác định mức chi
trả hợp lý. Các nhà hoạch định chính sách cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết phải
đền bù công sức của chủ rừng – những người tham gia quản lý bảo vệ rừng và coi
đó như một yếu tố đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời giảm bớt gánh nặng ngân
sách nhà nước đầu tư vào bảo vệ và quản lý rừng. Nhiều đợt khảo sát và các cuộc
họp đã được tổ chức để giúp người sử dụng dịch vụ MTR hiểu rõ lý do vì sao họ
phải trả tiền; tìm hiểu, tham vấn với họ về mức chi trả dự kiến đồng thời đề nghị
Chính phủ cho phép họ hạch toán chi phí chi trả dịch vụ MTR vào giá thành sản
các nhà máy thanh toán theo kế hoạch đã cam kết, mặc dù họ được hưởng lợi đáng
kể từ khoản chi trả này. Họ đã không lên tiếng ngay cả khi họ đã từng tham gia
vào nhiều chiến dịch, hoạt động nâng cao nhận thức cũng như các sự kiện, diễn
đàn tham vấn về PFES. Họ cũng đã nhận được tờ rơi, thông tin và được nghe phổ
biến về PFES thông qua các chương trình truyền thanh, truyền hình ở địa phương.
Các nhà quản lý rừng dường như chưa hoàn toàn nhận thức được quyền lợi
và lợi ích tiềm năng của chương trình PFES. Giống như trước đây, họ thụ động
chờ đợi Chính phủ can thiệp và mang lại lợi ích cho mình.
Nhà máy Thủy điện Hòa Bình chưa sẵn lòng trả tiền dịch vụ MTR
Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc Nhà máy Thủy điện Hòa Bình hiểu rõ
những tác động tích cực từ việc bảo vệ rừng đầu nguồn. Ông nói: “Chúng tôi hoàn
toàn nhận thức được rằng rừng được bảo vệ và quản lý tốt sẽ giúp nhà máy của
chúng tôi hoạt động hiệu quả hơn”. Tuy nhiên, nhà máy chỉ tiến hành giải ngân
các khoản thanh toán khi có yêu cầu từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Trong khi đó, EVN không trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ
NN&PTNT), mà trực thuộc Bộ Công Thương. Như vậy, tỉnh Sơn La sẽ chỉ nhận
được các khoản thanh toán sử dụng dịch vụ MTR từ Nhà máy Thủy điện Hòa
Bình, nếu Thủ tướng Chính phủ yêu
cầu EVN đề nghị Nhà máy Thủy điện Hòa Bình thực hiện nghĩa vụ chi trả.
b. Hạn chế:
Cũng như một số chương trình PFES khác trên thế giới, cơ chế thí điểm ở
tỉnh Sơn La chưa kết nối trực tiếp người cung cấp và người sử dụng dịch vụ MTR
trên cơ sở ký kết hợp đồng thỏa thuận. Thay vào đó, nhiều cơ quan quản lý nhà
nước các cấp tham gia ở các cấp trung gian như Ban quản lý PFES ở các cấp được
thiết lập để thực hiện chức năng điều phối và Ngân hàng Chính sách Xã hội tham
gia thực hiện các giao dịch tài chính, chuyển tiền cho chủ rừng.Chưa xác định
được diện tích của từng chủ rừng đã khiến cho công tác chi trả dịch vụ môi trường
rừng ở đây bị đình trệ. Với 54.000 chủ rừng của 254 xã thuộc 9 huyện, Sơn La cần
một nguồn kinh phí cũng tương đương với số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng
Tại Lâm Đồng, chương trình thí điểm đã nhận được sự đồng thuận cao của
các bên liên quan và hiện nay các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim và Đại Ninh đang
chi trả khoảng 55 tỷ đồng (~2,8 triệu USD) cho hơn trong đó hơn 8.000 hộ dân
bảo vệ rừng được hưởng thu nhập bình quân từ 8,1 đến 8,7 triệu đồng/năm, cao
gấp ba lần so với thu nhập nhận khoán trước đây để bảo vệ hơn 203 nghìn ha rừng.
Qua 2 năm triển khai thí điểm, từ nguồn quỹ bảo vệ phát triển rừng trên 107 tỷ
đồng, tỉnh Lâm Đồng đã dành phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng cũng như
chi trả cho người dân, hộ gia đình, cộng đồng thôn, buôn nhận giao khoán.
Đến nay, đã có gần 10.000 hộ dân, trong đó gần 7.000 hộ là đồng bào dân
tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách này. Cũng từ
đó, công tác quản lý bảo vệ rừng ở đây hiệu quả hơn, giảm được 50% vụ vi phạm
lâm luật. Nhiều hộ dân làm đơn xin được nhận khoán thêm diện tích rừng để bảo
12
Footer Page 12 of 133.
Header Page 13 of 133.
vệ, phát triển. Người dân tuần tra, kiểm tra rừng thường xuyên hơn, đơn vị chủ
rừng, hộ nhận khoán rừng và chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ hơn. Tình
trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép ở hai tỉnh đã giảm
đáng kể. Lâm Đồng cũng là tỉnh đầu tiên thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng
và cho đến nay Quỹ đã ký hợp đồng với 768 hộ gia đình với kinh phí khoảng 25 tỷ
đồng (~1,2 triệu USD) để bảo vệ 35.000 ha rừng. Sau hai năm thí điểm, tỉnh Lâm
Đồng đã rất thành công với mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng ở xã Đa
Nhim, huyện Lạc Dương. Mỗi hộ đồng bào Cơho ở Đa Nhim được ban quản lý
rừng phòng hộ khoán bình quân 20ha rừng đầu nguồn của hồ thuỷ điện Đa Nhim
để bảo vệ. Với mức chi 400.000 đồng/ha/năm, mỗi hộ nhận 8 triệu đồng/năm, chia
cho bình quân năm người/hộ thì mỗi người được gần 135.000 đồng/tháng. Đây là
nguồn thu nhập ổn định trong cơ cấu thu nhập của họ vì phần từ sản xuất nông
Header Page 14 of 133.
cấp quản lý nhằm thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và chịu trách nhiệm giữa người
cung cấp và người sử dụng dịch vụ. Có thể tạo ra sự thay đổi này bằng cách tăng
cường cơ cấu tổ chức hiện có thông qua thúc đẩy mối quan hệ phối kết hợp của
các cơ quan chủ quản ở cấp Trung ương (Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Bộ
Tài chính) và ở cấp địa phương (giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ).
Điều đó bao gồm tăng cường phân cấp và trao quyền quản lý cho người dân địa
phương như những đối tác thực hiện, tạo điều kiện hình thành và phát triển thị
trường, qua đó cho phép ký kết các hợp đồng tự nguyện dựa trên kết quả thực
hiện, áp dụng quy chế khen thưởng và tính trách nhiệm trong quá trình thực hiện.
Quan trọng hơn hết là cần thay đổi nhận thức, quan điểm coi người dân địa
phương là nguồn lao động giá rẻ, mà cần coi họ là những đối tác bình đẳng và là
lực lượng chính trong bảo vệ, quản lý và phát triển rừng.
Ngoài phân cấp, việc tăng cường vai trò và phân quyền cho chủ rừng thông
qua đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng sẽ tác động tích cực tới quá trình xây
dựng thể chế PFES. Cần tiếp tục giao những diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện
do các ban quản lý rừng và công ty lâm nghiệp đang quản lý cho hộ gia đình, cá
nhân và cộng đồng địa phương để quản lý, bảo vệ, đồng thời đảm bảo quyền sử
dụng đất rừng của họ.
Nâng cao nhận thức cho tất cả các bên liên quan từ các nhà hoạch định
chính sách ở cấp quốc gia tới các công ty sản xuất kinh doanh và các chủ rừng ở
địa phương, theo kế hoạch Bộ NN&PTNT xây dựng trong mối quan hệ phối hợp
của GIZ và các bên liên quan trong nước và quốc tế khác.
Ngoài các thông tư liên bộ hướng dẫn thực hiện Nghị định, cần xây dựng
thông tư liên bộ giữa Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương trong đó quy định cụ
thể chức năng, nhiệm vụ, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan nhằm đẩy
mạnh phân cấp cho phép hình thành những mối quan hệ trực tiếp giữa Ban quản lý
rừng đầu nguồn ở tỉnh và người sử dụng dịch vụ. Trong thông tư, cần quy định rõ
cơ quan Chính phủ) giữ lại các khoản thu từ các dịch vụ này.
Thiếu công cụ kinh tế và công cụ pháp lý cho PES trong các văn bản pháp
lý quy định về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ đầu nguồn và hấp thu
cacbon.
Dịch vụ môi trường và người mua, người bán được xác định rất rõ. Tuy
nhiên một số khía cạnh của PES còn nằm trong giai đoạn kế hoạch, chưa được thử
nghiệm:
Làm thế nào để người mua, bán dịch vụ môi trường ký kết thoả thuận
một cách tự nguyện trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
Điều kiện chi trả và việc cung cấp dịch vụ trong điều kiện cho phép,
điều kiện về phương thức sử dụng đất, các hoạt động của người bán và/
hoặc quản lý nguồn tài nguyên quy mô hợp đồng.
Thời hạn và hình thức ký kết hợp đồng.
Mức độ của các cam kết liên quan đến từng mối quan hệ nhân quả cụ
thể để duy trì tính liên tục của dịch vụ (tránh làm giàm, suy thoái hay
mất khả năng cung cấp dịch vụ của tài nguyên).
Hình thức chi trả, ví dụ như thanh toán bằng tiền mặt để tuỳ ý sử dụng,
đầu tư vào các dịch vụ công hay quỹ uỷ thác phục vụ các hoạt động cụ
thể nào đó.
Mức chi trả trong mối liên hệ với chi phí cơ hội của người bán và chi
phí lựa chọn dịch vụ của người mua.
2. Một số bài học kinh nghiệm
Đối với chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn
15
Footer Page 15 of 133.
Header Page 16 of 133.
giá nước.
Thu hút cộng đồng địa phương tham gia ký kết hợp đồng với các bên sử
dụng dịch vụ.
16
Footer Page 16 of 133.
Header Page 17 of 133.
Đảm bảo các hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với các cơ chế chi trả,
phải xây dựng được cơ chế rõ ràng cho cộng đồng địa phương trong việc hưởng
lợi từ việc quản lý tài nguyên được giao.
Hài hoà giữa các nhu cầu về lợi ích của địa phương và nhu cầu của quốc
gia.
Sử dụng cơ chế linh hoạt trong thương mại hoá cacbon của các dự án lâm
nghiệp cần được quan tâm để thu hút vốn. Bằng cách này, lồng ghép các dự án
phát triển lâm nghiệp với bảo vệ môi trường để có nguồn thu từ bán cacbon. Cơ
chế chi trả phí mang tính tự nguyện có thể làmột giải pháo để thu hút nguồn vốn từ
ngành công nghiệp.
Để có thể thương mại hoá cacbon cần có sự hỗ trợ từ Chính phủ như các
chính sách, xây dựng năng lực và đặc biệt là nâng cao nhận thức về biến đổi khí
hậu.
Tiến hành các nghiên cứu thí điểm về RUPES tập trung vào các cơ chế chi
trả nhằm giải quyết các vấn đề nghèo đói. Các mô hình này có thể gồm:
Tăng cường sự an toàn về hưởng dụng đất
Tạo cơ hội để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết định.
Trả công lao động cho việc bảo vệ dịch vụ môi trường với mức tối
thiểu tương đương với chi phí cơ hội mà người dân bỏ ra để thực
hiện các hoạt động tương tự như chặt gỗ.