Tiểu luận các chính sách phát triển kinh tế - Pdf 26

Tiểu luận

Các chính sách phát triển kinh tế

Tuthienbao.com
Chính sách tài chính tiền tệ
1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ

tài chính (các cổ phiếu, các phần vốn góp vào công ty, …) và các hợp đồng tài chính phái
sinh (các quyền chọn, hợp đồng tương lai….) . Như vậy, ổn định thị trường tài chính,
trước hết là sự ổn định sức mua của đơn vị tiền tệ quốc gia. Sự ổn định này có thể hiểu cả
trên hai mặt. Thứ nhất, giá cả hàng hóa – dịch vụ không biến động. Thứ hai, tỷ giá của
nội tệ so với ngoại tệ mạnh không biến động.
Ổn định thị trường ngoại hối: Với tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái trong thương
mại quốc tế, ổn định tỷ giá trở thành mục tiêu quan trọng của CSTT. Ổn định tỷ giá mang
lại cơ hội trao đổi ngoại thương cho các chủ thể của nền kinh tế, dễ dàng hơn trong việc
hoạch định được hoạt động trao đổi trong tương lai.
Việc phân nhỏ các mục tiêu ổn định trong mục tiêu cuối cùng nhằm mong muốn sự
phối hợp hoạt động của các cơ quan, các sở ban ngành các cấp để có thể cùng hoàn thành
mục tiêu một cách đúng đắn và chính xác nhất.
1.2.2 Nhóm mục tiêu tăng trưởng
Tăng công ăn việc làm: Trong nền kinh tế thị trường, khi sức lao động trở thành
hàng hóa thì hiện tượng thất nghiệp là hiện tượng tất yếu xảy ra. Do vậy, đảm bảo công
ăn việc làm là một yêu cầu bức thiết và thường trực của các quốc gia. Việc làm nhiều hay
ít, tăng hay giảm, nói chung phụ thuộc vào tình hình tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế
được mở rộng và phát triển thì việc làm được tạo ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm, và
ngược lại khi nền kinh tế trì trệ thì công ăn việc làm giảm, thất nghiệp tăng. Tuy nhiên
cũng cần lưu ý rằng, khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của cải tiến kỹ thuật thì
việc làm có thể không tăng mà còn giảm.
Tăng trưởng kinh tế: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt với mục tiêu việc
làm cao. CSTT có thể tác động đồng thời hai mục tiêu này. Khi cung ứng tiền tệ tăng lên,
trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh
doanh, Nhà nước và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nhiều hơn, làm tăng sản
lượng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, khi cung tiền tệ giảm, trong ngắn hạn, lãi suất
tăng sẽ hạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhà nước và doanh
nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nhiều hơn, làm tăng sản lượng và tăng trưởng kinh
tế. Ngược lại, khi cung tiền tệ giảm, trong ngắn hạn, lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, thu
hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhà nước và doanh nghiệp cầu ít lao động hơn, làm

Các công cụ tài chính được phép giao dịch trên nghiệp vụ TTM bao gồm các loại
GTCG phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, TPCP (tín phiếu kho bạc,
trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát
hành công trái) và trái phiếu chính quyền địa phương do Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí
Minh và TP Hà Nội phát hành.
- Điều kiện chung để các công cụ tài chính được tham gia giao dịch nghiệp vụ TTM:
Có thể giao dịch đươc; Được phát hành bằng đồng VN; Lưu ký tại NHNN; Thời hạn còn
lại của GTCG tối đa là 91 ngày (Đối với trường hợp mua, bán hẳn) và phải dài hơn thời
hạn mua, bán (Đối với trường hợp mua hoặc bán có kỳ hạn).
- Điều kiện cá biệt đối với trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ và trái phiếu chính quyền
địa phương do Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội phát hành:
+ Là các trái phiếu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của TCTD; TCTD phải chịu trách
nhiệm thanh toán trong trường hợp trái phiếu bị rủi ro.
+ Các trái phiếu được bán trong trường hợp NHNN mua có kỳ hạn đồng thời bị hạn
chế khối lượng giao dịch trong 1 lần (tối đa bằng 50% của giá trị giao dịch tái cấp vốn).
+ Số tiền TCTD được nhận khi bán trái phiếu: Tối đa bằng 80% (Đối với trái phiếu
đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát hành) và tối đa bằng 70% (Đối với trái phiếu chính quyền địa
phương do Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội phát hành) giá trị trái phiếu
tại thời điểm định giá.
Phương thức giao dịch:
- Mua hoặc bán hẳn GTCG (mua hoặc bán hết thời hạn còn lại của GTCG).
- Bán và cam kết mua lại GTCG (giao dịch có kỳ hạn), bao gồm:
+ NHNN bán GTCG và cam kết mua lại sau một thời gian nhất định.
+TCTD bán GTCG và cam kết mua lại sau một thời gian nhất định theo yêu cầu của
NHNN.
Phương thức đấu thầu
- Đấu thầu khối lượng: NHNN thông báo cho TCTD mức lãi suất đấu
thầu và có thể thông báo hoặc không thông báo trước khối lượng GTCG cần mua hoặc
bán trong từng phiên đấu thầu.
-Đấu thầu lãi suất: NHNN có thể thông báo hoặc không thông báo

- Trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát triển phát hành, Trái phiếu chính quyền địa
phương do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội, Tp Hồ Chí Minh phát hành (được sử dụng
trong hình thức chiết khấu có kỳ hạn).
Phương thức chiết khấu:
- Phương thức trực tiếp: Các ngân hàng đem “Giấy đề nghị chiết khấu
GTCG” trực tiếp đến Sở Giao dịch NHNN.
- Phương thức gián tiếp: Các ngân hàng giao dịch thông qua mạng vi tính hoặc qua
Fax tới Sở Giao dịch NHNN (trường hợp qua Fax, gửi bản chính theo đường bưu điện).
1.3.3 Dự trữ bắt buộc
Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải giữ lại do
NHNN quy định, gửi tại NHNN, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay
mà thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của khách hàng
để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Tuthienbao.com
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân
tiền tệ trong cơ chế tạo tiền của NHTM. Mặt khác, khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc
thì khả năng cho vay của các NHTM giảm (tăng) làm lãi suất cho vay tăng (giảm) từ đó
làm cho lượng tiền cung ứng giảm (tăng).
Đặc điểm nghiệp vụ: Đây là công cụ mang nặng tính quản lí nhà nước nên giúp
NHNN chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất
mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng
rất lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện
chậm chạp, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh
của các NHTM.
1.3.4 Hạn mức tín dụng
Khái niệm: Hạn mức tín dụng là việc NHNN quy định tổng mức dư nợ của các
NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định (thường là
một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình. Việc định ra hạn mức
tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng
trưởng, lạm phát…) sau đó NHNN sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể cho

định kinh tế vĩ mô.

Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, NHNN trực tiếp quyết định các mức lãi suất
như: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất OMO, trần lãi
suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc 4 đối tượng ưu tiên đối
với nền kinh tế của các TCTD.Các TCTD được quy định lãi suất thỏa thuận đối với tiền
gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượng khác
ngoài 4 đối tượng ưu tiên; lãi suất cho vay trung dài hạn cho tất cả các đối tượng khách
hang.
Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của NHNN được điều hành theo cơ
chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, biên độ giao động +/- 2%
để điều tiết thị trường, lãi suất cơ bản và lãi suất thị trường mở được ấn định biến động
trong biên độ giữa lãi suất tái cấp vốn(trần) và lãi suất chiết khấu(sàn).
Các lãi suất điều hành của NHNN và lãi suất huy động vốn của NHTM được điều
chỉnh giảm xuống theo xu hướng giảm thấp của CPI (3/2012-10/2012), đảm bảo nguyên
tắc thực dương, nguồn vốn huy động 10 tháng tăng +14.2%, thanh khoản của hệ thống
Ngân hành được cải thiện bằng nguồn vốn hút vào từ nền kinh tế chứ không phải từ
nguồn tái cấp vốn như năm 2011.
Từ tháng 6/2011-10/2012:Mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp lý
hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: Lãi suất tái chiết khấu< lãi suất huy động vốn dưới
12 tháng < lãi suất tái cấp vốn; “sàn” là lãi suất tái chiết khấu; “Trần” là lãi suất tái cấp
vốn; Biên độ 1-2%, lãi suất huy động vốn của TCTD biến động trong biên độ nói trên.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD đối với tiền gửi VND cố
định 3% và không thay đổi.
Việc NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian
dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6
tháng 2012. Công cụ tỷ lệ DTBB không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh
toán và cho vay của TCTD.Vì vậy hạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Năm 2011, NHNN đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng chung cho toàn hệ thống các
TCTD, không phân bổ hạn mức theo từng TCTD
Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho từng
NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị
điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các quy định.Theo đó, các
nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn mức như sau: Nhóm thứ 1 tăng
trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%;
nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4 thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng
trưởng tín dụng.
2.2 Các tác động của chính sách tiền tệ tại Việt Nam hiện nay
Những thành công đạt được từ việc thực hiện chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhà nước áp dụng thời gian qua đã góp phần kiểm
soát thành công lạm phát và ổn định giá trị tiền đồng. Không dễ dàng gì khi đưa lạm phát
từ mức 23% xuống còn 6,5% như hiện tại, đồng thời, giảm lãi suất từ mức 15% xuống
7%. Có thể thấy, tỷ giá cũng đã được giữ ổn định, dự trữ ngoại hối đang ngày càng gia
tăng. Đó là những nhiệm vụ khó khăn nhưng Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) đã làm được. Những thành tựu đó đã giúp cải thiện niềm tin của các nhà
đầu tư cũng như của dân chúng về sự ổn định của nền kinh tế. Không ai kỳ vọng lạm phát
sẽ dừng lại ở mức 0%, khi cảm thấy chắc chắn rằng lạm phát sẽ được kiểm soát ở mức 6-
8%, các nhà đầu tư sẽ có cơ sở thực tế để đưa ra các quyết định. Như vậy, sự ổn định là
một yếu tố rất quan trọng. Tuy nhiên, điều quan trọng hiện nay là làm sao để sự ổn định
tạo tác động lên nền kinh tế.
Khi nói đến vấn đề tăng trưởng tín dụng và khả năng hấp thụ vốn tại Việt Nam hiện
nay, chúng ta cần chú ý đến 2 khía cạnh, cung và cầu. Về khía cạnh nguồn cung, mặc dù
thanh khoản của các ngân hàng đã dồi dào, nhưng họ vẫn khá dè dặt khi cho các doanh
nghiệp cũng như cá nhân vay vốn do lo ngại những khoản vay đó sẽ trở thành nợ xấu. Do
đó, họ chạy đua tìm kiếm những nhóm khách hàng “chất lượng” để chào mời những
khoản vay lớn. Trong khi đó, các nhóm còn lại phải gồng mình tìm kiếm nguồn vốn. Về
phía nguồn cầu, nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với vấn đề niềm tin. Tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế chỉ đạt 5%, thấp hơn nhiều so với mức 7% hay 7,5% mà người ta kỳ

trong việc duy trì tỷ giá ổn định trong năm 2012 và những tháng đầu năm 2013. Niềm tin
của người dân vào tiền đồng tăng cao được thể hiện qua sự chuyển dịch tiền gửi tiết kiệm
từ vàng và ngoại tệ sang tiền đồng.
NHNN đã theo sát thị trường ngoại hối và can thiệp ngay khi thị trường có các biến
động nhỏ như việc sử dụng dữ trữ ngoại hối Nhà nước để nhập khẩu vàng nguyên liệu,
sản xuất vàng miếng tăng cung, can thiệp bình ổn thị trường vàng. Chính cách thức này
đã giúp han chế sự biến động mạnh của thị trường mà lại không tốn dự trữ quốc gia cho
việc can thiệp.
Những hạn chế của chính sách tiền tệ hiện nay
Tuy NHNN đã thực hiện các công cụ của CSTT một cách linh hoạt, kịp thời giúp thị
trường tiền tệ đi vào bình ổn nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số mặt hạn chế:
Luật NHNN 2010 đã quy định mục tiêu duy nhất của CSTT là ổn định giá trị
đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, nhưng trong các văn bản chỉ đạo, điều
hành CSTT thể hiện phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu có mức ưu tiên như
nhau như: mức cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và
đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD.Do đó các giải pháp và công cụ điều hành
CSTT nhiều khi phải ưu tiên giải quyết các mục tiêu trước mắt nhằm hỗ trợ tăng
trưởng để ổn định kinh tế vĩ mô, nên kết quả chưa đảm bảo được tính bền vững và
mục tiêu trung dài hạn
Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được kết quả khi chỉ số lạm phát xuống
mức thấp dưới 1 con số nhưng kết quả chỉ mang tính thời điểm, chưa ổn định và
bền vững.Khả năng kiểm soát lạm phát theo mục tiêu còn nhiều thách thức và khó
khăn dài hạn.
Những yếu tố và nguyên nhân cơ bản từ nội tại nền kinh tế làm cho lạm phát
bùng phát trở lại vẫn chưa được giải quyết;nhiều biến số tác động đến khối lượng
tiền trong lưu thông vượt ra khỏi tầm kiểm soát của NHNN;nguồn lực tài chính
của Nhà nước chưa đủ mạnh để can thiệp điều chỉnh có hiệu quả quan hệ cung cầu
vốn trên thị trường tiền tệ.
Việc lựa chọn sử dụng các công cụ của CSTT chưa phân định được rõ ràng
theo chức năng, vai trò chủ yếu của từng công cụ; làm triệt tiêu hoặc hạn chế phát

hàng đủ mạnh cả về năng lực hoạch định và thực thi chính sách, năng lực quản lý, năng
lực điều hành kinh doanh, đủ mạnh về trình độ công nghệ và kỹ thuật hiện đại để thích
ứng với cơ chế thị trường, trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh
tế của đất nước và sớm hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế.
- Trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước cần tìm ra điểm
dung hòa giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ, để đi đến chỗ kết hợp hài hòa các mục
tiêu kinh tế vĩ mô.Do giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Tăng trưởng, lạm phát và công ăn
việc làm đôi khi có mâu thuẫn với nhau. Vì vậy trong quá trình điều hành kinh tế vĩ mô
nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng, không nên cực đoan một phía, nhấn mạnh một
chiều. Nếu có sự ổn định giá cả, ổn định tiền tệ mà nền kinh tế chỉ dậm chân tại chỗ,
không phát triển được thì sự ổn định đó coi nh vô nghĩa, lại rất mong manh và sẽ mất đi
nhanh chóng. Ngược lại, nếu tăng trưởng mà không ổn định thì sẽ mất đi điều kiện để
phát triển, sẽ dẫn đến tình trạng kinh tế hỗn loạn và thậm chí còn thụt lùi. Vì vậy tìm ra
điểm dung hòa giữa các mục tiêu không chỉ là kỹ thuật, mà còn là nghệ thuật điều hành
chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước.
-Việt Nam là một nước nghèo quá độ lên sản xuất lớn. Tăng trưởng nhanh và bền
vững là lối thoát duy nhất để tránh nguy cơ tụt hậu, nhưng bên cạnh đó nền kinh tế Việt
Nam vừa đi qua cuộc khủng hoảng, còn nhiều bất ổn và tiềm ẩn lạm phát cao, thì ổn định
cũng là mục tiêu rất quan trọng. Vấn đề đặt ra là trong quá trình thực hiện mục tiêu chính
sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước phải tìm ra điểm dung hòa để vừa đảm bảo kiềm chế
lạm phát, vừa đa nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với nhịp độ cao.Để tìm được
điểm dung hòa thì cần phải có sự điều chỉnh của ngân hàng nhà nước ở bình diện vĩ mô.
Tùy từng thời gian, hoàn cảnh cụ thể mà sự điều chỉnh từng mục tiêu là cần thiết và
không đồng đều nhau. Nhưng phải quán triệt nguyên tắc: Các mục tiêu ngắn hạn phải
phục vụ cho mục tiêu dài hạn, còn mục tiêu dài hạn phải chi phối các mục tiêu ngắn hạn.
Ngân hàng nhà nước phải tập trung vào việc nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế và toàn dụng
nhân công, tuy nhiên vẫn chú ý đến việc kiềm chế lạm phát. Đây chính là điểm dung hòa
giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Điều này chứng tỏ nghệ thuật điều hành chính sách tiền
tệ là làm sao tạo ra sức tác động tối đa đến mục tiêu chủ yếu nhất, trong khi không làm
tổn hại quá mức đến mục tiêu khác của toàn bộ hệ thống kinh tế vĩ mô.

ngay, góp phần nâng cao hiệu lực điều tiết vĩ mô của chính sách tiền tệ
quốc gia.
3.2. Nhóm giải pháp liên quan đến việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ
Yêu cầu nâng cao hiệu lực và chất lợng của quá trình thực thi chính sách tiền tệ đòi
hỏi phải nhanh chóng hoàn thiện và tiếp tục phát triển hệ thống các công cụ của chính
sách tiền tệ. Những năm trước mắt, phải tạo ra được hệ thống công cụ bám sát và phục vụ
đắc lực cho quá trình đổi mới chính sách tiền tệ.
Để thực hiện được việc này, nhà nước cần kiên trì với chủ trương sử dụng các công
cụ chính sách tiền tệ theo định hướng thị trường, tức điều tiết các hoạt động kinh tế qua
thị trường hay nói cách khác là nhà nước can thiệp thị trường để thị trường điều tiết các
hoạt động kinh tế.
- Cần theo dõi, bám sát diễn biến thị trường để có sự điều chỉnh lãi suất cơ bản và
biên độ phù hợp làm cho lãi suất cơ bản thực sự đóng vai trò là tín hiệu để điều tiết lãi
suất thị trường. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để bỏ biên độ của lãi suất cơ bản, tiến tới
tự do hoá lãi suất đồng Việt Nam.
- Thực hiện điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn phù hợp với diễn biến thị
trường. Về nguyên tắc lãi suất tái cấp vốn phải là lãi suất cao nhất và lãi suất tiền gửi của
các ngân hàng thương mại phải là lãi suất thấp nhất. Bên cạnh đó cần sử dụng linh hoạt
lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất đấu thầu trái phiếu và tín phiếu.
- Cần sử dụng một cách linh hoạt tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo tín hiệu thị trường nhằm
tác động tới việc gia tăng tổng phương tiện thanh toán và kích thích tăng trưởng tín dụng
tác động tới diễn biêns lãi suất thị trường theo định hướng điều hành chính sách tiền tệ.
Thời gian tới ngân hàng nhà nước cần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với đồng ngoại tệ để
tăng nguồn huy động ngoại tệ đối với các ngân hàng thương mại, nhằm giảm tình trạng
găm giữ ngoại tệ trong dân và các tổ chức kinh tế.
- Cần hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở bằng việc rà soát lại quy chế về nghiệp vụ
thị trường mở nhằm mở rộng thời hạn còn lại của các chứng từ có giá, từ đó tạo điều kiện
để cung ứng vốn cho các tổ chức tín dụng, qua đó các tổ chức tín dụng có điều kiện can
thiệp tốt hơn vào thị trường để ổn định tỷ giá. Mặt khác, ngân hàng nhà nước cũng cần
thay đổi quy chế để mở rộng đối tợng nhằm tăng số lợng thành viên tham gia, đa dạng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status