Tiểu Luận Tìm hiểu về tổ chức thương mại quốc tế wto - Pdf 26

ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
I. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ
GIỚI WTO:
1. Lịch sử hình thành và phát triển WTO:
Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai vẫn còn chưa kết thúc, các nước đã nghĩ
đến việc thiết lập các định chế chung về kinh tế để hỗ trợ công cuộc tái thiết sau
chiến tranh. Hội nghị Bretton Woods triệu tập ở bang New Hampshire (Hoa Kỳ)
năm 1944 nhằm mục đích này. Kết quả của Hội nghị Bretton Woods là sự ra đời của
2 tổ chức tài chính: Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (nay gọi là Ngân hàng
Thế giới - WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Một tổ chức chung về thương mại
cũng được đề xuất thành lập với tên gọi Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO).
Phạm vi đề ra cho ITO là khá lớn, bao trùm lên cả các vấn đề việc làm, đầu
tư, cạnh tranh, dịch vụ, vì thế việc đàm phán Hiến chương (hiểu cách khác là Điều
lệ) của ITO diễn ra khá lâu. Trong khi đó, vì mong muốn sớm cắt giảm thuế quan để
đẩy mạnh công cuộc tái thiết sau chiến tranh, năm 1946, một nhóm 23 nước đã đàm
phán riêng rẽ và đạt được một số ưu đãi thuế quan nhất định. Để ràng buộc những
ưu đãi đã đạt được, nhóm 23 nước này quyết định lấy một phần về chính sách
thương mại trong dự thảo Hiến chương ITO, biến nó thành Hiệp định chung về
Thuế quan và Thương mại (GATT).
GATT có hiệu lực từ 1/1/1948 như một thoả thuận tạm thời trong khi chờ
ITO được thành lập. Nhưng ITO không ra đời: mặc dù Hiến chương ITO đã được
thông qua tại Havana (Cuba) tháng 3/1948, nhưng việc Quốc hội Hoa Kỳ trì hoãn
không phê chuẩn Hiến chương làm cho các nước khác cũng không phê chuẩn, dẫn
đến ITO không trở thành hiện thực. Do vậy, GATT trở thành cơ cấu đa phương duy
nhất điều chỉnh thương mại quốc tế cho đến khi WTO ra đời.
Có thể nói, trong 48 năm tồn tại của mình, GATT đã có những đóng góp to
lớn vào việc thúc đẩy và đảm bảo thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại thế giới. Số
lượng các bên tham gia cũng tăng nhanh. Cho tới trước khi Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1/1/1995, GATT đã có 124 bên ký kết và
đang tiếp nhận 25 đơn xin gia nhập. Nội dung của GATT ngày một bao trùm và quy
mô ngày một lớn: bắt đầu từ việc giảm thuế quan cho tới các biện pháp phi thuế,

ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
2. Mục tiêu hoạt động WTO:
Với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới,
WTO thừa nhận các mục tiêu của GATT trong đó có 3 mục tiêu chính như sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới phục vụ
cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường.
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và
tranh chấp thương mại giữa các thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương
mại đa phương, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; bảo đảm
cho các nước đang phát triển đặc biệt là các nước kém phát triển được hưởng những
lợi ích thực chất từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế.
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành
viên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động đối thiểu.
3. Chức năng của WTO:
Theo như Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO, tổ chức này có năm chức
năng cơ bản như sau:
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại
đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các
nước thành viên thực hiện nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa
phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO.
- Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc
thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương.
- Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo
đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của
WTO.
- Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc hoạch định những chính
sách và dụ báo về xu hướng phát triển tương lai của nèn kinh tế toàn cầu.
Trang 3

công nghiệp phát triển.
- Các khoản nghĩa vụ đóng góp của WTO ít hơn so với các nước phát triển.
- Thời gian để điều chỉnh chính sách kinh tế và thương mại liên quan dài hơn.
5. Sự giống và khác nhau giữa WTO và GATT
5.1. Điểm giống nhau:
- Đều là hệ thống quy định quốc tế chung điều tiết mọi hoạt động thương
mại của các nước tham gia ký kết
- Đều là diễn đàn thương lượng đa phương lớn nhất để thảo luận việc từng
bước tự do hóa thương mại quốc tế về hàng hóa, dịch vụ
- Đều là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên,
bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định
- Đều xây dựng khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa
phương giữa các nước thành viên
- Đều có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên
- Đều lấy nguyên tắc tối huệ quốc MFN – Most Favoured Nation là nguyên
tắc pháp lý quan trọng nhất – nếu một nước dành cho một thành viên một sự đối xử
ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành
viên khác
- Đều thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ
Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân hàng Thế Giới trong việc hoạch định những chính
sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu
- Cả hai đều đưa ra quy định một số ngoại lệ (exception) và miễn trừ (waiver)
quan trọng đối với nguyên tắc MFN khi áp dụng với các nước đang phát triển
Trang 5
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
5.2. Điểm khác nhau:
GATT WTO
1. Không có thể chế, chỉ có ban thư ký
nhỏ
1. Là một tổ chức hoạt động như 1 doanh

cùng nhau tiến hành nhiều đợt đàm phán để ký kết thêm những thỏa thuận thương
mại mới. Mỗi đợt đàm phán như vậy được gọi là một "vòng đàm phán." Nhìn
chung, những thỏa thuận thương mại trong các vòng đàm phán đó ràng buộc các
nước ký kết phải tiến hành giảm thuế xuất, nhập khẩu cũng như giảm bớt các hàng
rào thương mại phi thuế khác đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu. Mức độ giảm thuế
Trang 6
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
khác nhau tùy theo từng nước cũng như từng loại hàng hóa. 8 vòng đàm phán của
GATT là:
6.1 Vòng Geneva (1947): bao gồm 23 nước tham gia, GATT bắt đầu có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1948.
6.2 Vòng Annecy (1949): bao gồm 13 nước tham gia.
6.3 Vòng Torquay (1951): bao gồm 38 nước tham gia.
6.4 Vòng Geneva (1956): bao gồm 26 nước tham gia. Tại vòng này đã đạt
được những kết quả liên quan đến việc giảm thuế, đề ra chiến lược cho chính sách
của GATT đối với các nước đang phát triển, nâng cao vị thế của họ với tư cách là
những thành viên tham gia GATT.
6.5 Vòng Dillon (1960-1961): bao gồm 26 nước tham gia. Vòng này chủ
yếu bàn về việc giảm thuế. Được đặt tên theo Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ C.
Douglas Dillon.
6.6 Vòng Kenedy (1964-1967): bao gồm 63 nước. Nội dung thảo luận
cũng vẫn là việc giảm thuế, nhưng lần đầu tiên đàm phán giảm thuế theo một
phương pháp áp dụng chung cho tất cả các loại hàng hóa chứ không đàm phán giảm
thuế cho từng loại hàng hóa một như các vòng trước. Hiệp định chống bán phá giá
được ký kết (nhưng tại Hoa Kỳ không được Quốc hội nước này phê chuẩn).
6.7 Vòng Tokyo (1973-1979): Bao gồm 102 nước. Thảo luận về việc
giảm các hàng rào phi thuế cũng như giảm thuế đối với các sản phẩm chế tạo. Tăng
cường và mở rộng hệ thống thương mại đa phương.
6.8 Vòng Uruguay (1986-1994):
- Bao gồm 125 nước tham gia. Đây là vòng đàm phán cuối cùng và cũng là

1996: Dịch vụ vận tải hàng hải: kết thúc đàm phán về mở cửa thị trường (tiến
hành vào ngày 30-6-1996, hoãn lại tới năm 2000, sau chuyển sang chương trình
phát triển Doha)
Dịch vụ và môi trường: xác định thời hạn báo cáo kết quả của nhóm công tác
(hội nghị bộ trưởng tháng 12 năm 1996)
Dịch vụ công: tiến hành đàm phán
1997: Hạ tầng viễn thông: kết thúc đàm phán (15-2); Dịch vụ tài chính: kết
thúc đàm phán (30- 12); Sở hữu trí tuệ: thiết lập hệ thống đóng dấu và đăng ký mã
vùng đối với các sản phẩm rượu vang: tiến hành đàm phán, trở thành một bộ phận
trong chương trình đàm phán vì sự phát triển Doha
Trang 8
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
1998: Hàng dệt may: một giai đoạn mới bắt đầu vào ngày 1-1; Dịch vụ: (các
biện pháp khắc phục kịp thời): áp dụng kết quả đàm phán liên quan đến các biện
pháp khắc phục kịp thời (trước 1-1-1998, hoãn lại đến tháng 3-2004); Luật về xuất
xứ sản phẩm: chương trình làm việc đi đến sự thống nhất tương đối giữa luật về xuất
xứ sản phẩm của các quốc gia (20-7-1998); Thị trường công: mở những cuộc đàm
phán mới để cải thiện hệ thống luật và thủ tục (trước năm 1998); Giải quyết tranh
chấp: xem xét kỹ về luật và thủ tục giải quyết tranh chấp (trước năm 1998)
1999: Sở hữu trí tuệ: bắt đầu xem xét một số ngoại lệ đối với việc cấp bằng
sáng chế và bảo vệ đa dạng thực vật
2002: Nông nghiệp: bắt đầu tiến hành đàm phán, thuộc Chương trình phát
triển Doha; Dịch vụ: Bắt đầu một loạt các cuộc đàm phám mới, thuộc chương trình
phát triển Doha; Ràng buộc thuế quan: xem xét lại khái niệm ‘nhà cung cấp chính’
tại điều 28 trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại về quyền của người
tham gia đàm phán đối với việc sửa đổi ràng buộc; Sở hữu trí tuệ: Lần đầu tiên đã
có kiểm tra định kỳ (2 năm một lần) việc thực thi hiệp định
2002: Dệt may: bắt đầu giai đoạn đầu tiên (1-1)
2005: Dệt may: áp dụng hoàn toàn trong khuôn khổ GATT và chấm dứt thời
gian hiệu lực của hiệp định (1-1)

• Hàng phi nông nghiệp: giảm thuế và hàng rào phi thuế.
• Sở hữu trí tuệ: giải quyết mối liên hệ giữa sở hữu trí tuệ và y tế, chỉ
dẫn địa lý, nới lỏng quy định về sở hữu trí tuệ phục vụ cho việc phát
triển
• Thương mại và đầu tư: Xem xét lại Hiệp định Đầu tư (TRIMS)
• Thương mại và chính sách cạnh tranh: minh bạch, không phân biệt đối
xử, hợp tác tự nguyện, hỗ trợ phát triển nguồn lực
• Mua sắm chính phủ: thủ tục minh bạch
• Tạo thuận lợi hóa cho thương mại: Xem xét lại và diễn giải chi tiết các
Điều V, VIII và X của GATT 1994.
• Xem xét lại quy định của WTO về chống phá giá và chống trợ cấp
(Điều VI GATT 1994)
• Xem xét lại quy định của WTO về các hiệp định thương mại khu vực
(Điều XXIV GATT 1994)
Trang 10
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
• Xem xét lại quy định của WTO về cơ chế giải quyết tranh chấp
• Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường: phân biệt giữa các biện
pháp bảo vệ môi trường với các rào cản thương mại, dán nhãn sản phẩm
bảo vệ môi trường, trợ cấp ngư nghiệp.
• Thương mại điện tử
• Các ưu đãi dành cho các nước đang phát triển bao gồm các vấn đề về
các nền kinh tế có quy mô nhỏ, các nền kinh tế chậm phát triển, nợ
chính phủ, chuyển giao công nghệ, hợp tác và hỗ trợ phát triển nguồn
lực, các ưu đãi đặc biệt và khác biệt.
 Lịch trình vòng đàm phán Doha:
Tháng 11, năm 2001, đàm phán tại Doha: Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư
của WTO, các bộ trưởng nhất trí khởi động một vòng đàm phán thương mại mới,
trong đó lấy các nhu cầu phát triển làm nòng cốt.
Tháng 9, năm 2003, đàm phán tại Cancún: Kết thúc Hội nghị Bộ trưởng lần

các nền kinh tế mới nổi, về cắt giảm thuế nhập khẩu khi mở cửa thị trường hàng phi
nông sản.
Theo ông Remigi Winzap, trưởng phòng WTO thuộc Ủy ban Nhà nước Thụy
Sĩ về kinh tế (SECO), WTO đã đặt cược cả uy tín của tổ chức này vào các hiệp định
của vòng đàm phán Đôha. Ông phân tích: “Nếu các quốc gia thành viên WTO
không kết thúc được vòng đàm phán Đôha, WTO sẽ tiếp tục vận hành trên cơ sở các
hiệp định năm 1994. Theo đó, các tổ chức quốc tế này có nguy cơ đánh mất đi uy tín
cũng như chức năng chính đáng của nó trong bối cảnh thế giới của thế kỷ 21”.
“WTO cần phải đối phó với những thách thức mới, đặc biệt là về khí hậu, năng
lượng hay đầu tư. Ngoài ra, các cường quốc kinh tế vẫn tiếp tục thông qua các luật
lệ trái với các hiệp định của WTO vì các lý do chính sách đối nội của họ. Điều này
sẽ dẫn tới ngày càng nhiều các tranh chấp thương mại phức tạp và khó giải quyết”.
Viễn cảnh trên đã tiếp sức cho ông Lamy tăng gấp đôi nỗ lực của mình nhằm
thuyết phục các phái đoàn, các quốc gia cứng rắn nhất. Mặc dù vậy, vòng đàm phán
Đôha vẫn có thể thất bại cay đắng và kéo theo đó là sự sụp đổ của WTO.
Chưa đầy một tuần nữa, 153 quốc gia thành viên WTO sẽ nhận được các văn
bản mới của dự thảo hiệp định. Ông Lamy hy vọng sau kỳ nghỉ lễ Phục sinh, các
thành viên sẽ có được cái nhìn tổng thể về những lĩnh vực đạt được đồng thuận cũng
Trang 12
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
như những lĩnh vực còn bất đồng, để từ đó đưa ra những quyết định cho các giai
đoạn tiếp theo của vòng đàm phán. Nhưng không ai có thể chắc rằng về tương lai
của vòng đàm phán này.
Tuy nhiên, không ít đại diện cấp cao của nhiều cường quốc khẳng định quyết
tâm đẩy nhanh đàm phán để có thể kết thúc vòng Doha trong năm 2011. Thậm chí,
nhiều vị lãnh đạo các nước còn nói đến một thời hạn tham vọng hơn- kết thúc Vòng
vào tháng 7 tới.
Động thái này lại một lần nữa nhen nhóm tia hy vọng cho vòng Doha, vòng
đàm phán được khởi động cách nay đã 10 năm tại Qatar nhằm tiếp tục tự do hóa
thương mại trong khuôn khổ WTO nhưng đã rơi vào bế tắc do những bất đồng triền

viên đã xây dựng hơn 70 năm qua và nhấn mạnh tình trạng nghiêm trọng của tiến
trình đàm phán Doha hiện nay.
Người đứng đầu tổ chức thương mại toàn cầu nhấn mạnh, nếu vòng đàm
phán Doha thất bại, nền kinh tế thế giới sẽ bị đe dọa, đặc biệt là đối với các nước
kém phát triển nhất và các nước nhỏ hơn phải phụ thuộc nhiều vào hệ thống thương
mại toàn cầu.
II. NỘI DUNG CHÍNH CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO:
Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh
các vấn đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của
Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại
Marrakesh, Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Bốn phụ lục đó bao gồm các hiệp
định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh
chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên, các thỏa thuận
tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại
diễn đàn chung. Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê
chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện
- Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)
- Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)
- Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí
tuệ (TRIPS)
- Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS)
- Hiệp định về Nông nghiệp (AoA)
- Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC)
Trang 14
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
- Hiệp định về Chống bán Phá giá
- Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp chống Trợ cấp
- Hiệp định về Tự vệ
- Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu
- Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS)

bóp méo thương mại nhất. Các hàng rào bảo hộ mậu dịch phi thuế quan như: hệ
thống giấy phép, hạn ngạch và các biện pháp hạn chế mậu dịch khác cần được bãi
bỏ.
- Các nước thuộc WTO phải giảm thuế quan và không tăng thuế nhập khẩu
để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại. Ví dụ trong lĩnh vực nông
nghiệp các nước công nghiệp phát triển cắt giảm bình quân 36% các dòng thuế và
mỗi dòng cắt giảm 15% mức thuế. Với các nước đang phát triển con số tương ứng là
24 và 10. Thời gian thực hiện cắt giảm là 10 năm bắt đầu từ 01/1995. trong lĩnh vực
công nghiệp các nước phát triển cắt giảm 40% thuế và đưa mức thuế nhập khẩu
hàng công nghiệp từ 6,3% bình quân xuống còn 3,8%. Thời gian cắt giảm thuế đối
với hàng công nghiệp đến 01/2000 phải thực hiện xong.
- Về áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu
Các biện pháp phi thuế cần được bãi bỏ, tuy nhiên trong trường hợp cần thiết
vẫn có thể áp dụng như: đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ văn hóa truyền thống,
môi trường, sức khoẻ cộng đồng… Nếu chính phủ vẫn duy trì biện pháp giấy phép
nhập khẩu thì WTO quy định cấp giấp phép nhập khẩu phải đơn giản, rõ ràng và dễ
dự đoán. Các Chính phủ phải công bố thông tin đầy đủ cho các nhà kinh doanh biết
giấp phép được cấp như thế nào và căn cứ để cấp. Khi đặt ra các thủ tục cấp giấy
phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục hiện tại, các thành viên phải thông báo
theo những quy định cụ thể cho WTO. Việc xét đơn nhập khẩu cũng phải tuân thủ
các qui định chặt chẽ.
- Công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các tổ chức và cá nhân
không phân biệt thành phần kinh tế của nước mình cũng như các tổ chức và cá nhân
của nước thành viên WTO trên lãnh thổ nước mình.
- Hạn chế trợ cấp tràn lan của Chính phủ và chống phá giá làm sai lệch
thương mại công bằng.
Trang 16
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
- Qui định giá trị tính thuế quan và giá giao dịch thực tế chứ không phải là
giá do các cơ quan quản lý nhà nước áp đặt …

cấp đưa ra các biện pháp tự vệ tạm thời kể cả biện pháp hạn chế số lượng để khắc
phục thiệt hại do hàng nhập khẩu ồ ạt gây nên.
WTO đòi hỏi nước áp dụng biện pháp tự vệ khẩn cấp phải có nghĩa vụ thông
báo các biện pháp mà mình áp dụng với các mặt hàng bị ảnh hưởng .
Các biện pháp tự vệ khẩn cấp không được áp dụng khi sản xuất trong nước
gặp khó khăn do năng lực cạnh tranh kém có nguyên nhân từ trình độ quản lý kém,
sử dụng công nghệ lạc hậu, giá thành sản phẩm trong nước cao …
- Hiệp định dệt may: ATC
+ Hiệp định đa sợi (MFA) ký kết 1974 là thực hiện đến trước thời điểm vòng
đàm phán Urugoay đây là hiệp định điều chỉnh thương mại quốc tế về mặt hàng dệt
may. Theo tinh thần của Hiệp định này các nước công nghiệp phát triển có quyền
thiết lập Quota để hạn chế nhập khẩu từ các nước đang phát triển.
+ Hiệp định dệt may (ATC) thay thế Hiệp định đa sợi được thảo luận ở vòng
đàm phán Urugoay và bắt đầu có hiệu lực từ 1995 và thực hiện xong vào năm
31/12/2004. Nội dung chính của ATC là : các nước thành viên WTO thông qua 4
giai đoạn giảm hạn ngạch và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn hạn ngạch vào đầu năm 2005.
+ Nếu Việt Nam là thành viên WTO thì từ năm 2005 hàng dệt may Việt Nam
xuất khẩu sang các nước không bị hạn chế bởi các quy định về hạn ngạch xuất khẩu
nữa.
2. Hiệp định chung thương mại dịch vụ – GATS – General
Agreement on Trade In Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ được đưa ra thương thảo ở vòng đàm
phán Urugoay và đã trở thành một hiệp định quan trọng của WTO.
- Mục tiêu của Hiệp định thương mại – DV
Mở cửa thị trường dịch vụ để kích thích cạnh tranh nhắm tạo ra nhiều dịch vụ
sẵn sàng hơn, rẽ hơn, chất lượng hoàn hảo hơn nhằm thoả mãn các nhu cầu kinh
doanh sản xuất, thương mại, và nâng cao mức sống nhân dân.
- Phạm vi áp dụng của Hiệp định thương mại – dịch vụ của WTO:
Ngoại trừ các dịch vụ được cung cấp thuộc phạm vi các hoạt động chức năng
của cơ quan Chính phủ, cụ thể là việc cung cấp dịch vụ đó không mang tính chất

ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
- Đối tượng điều chỉnh của Hiệp định Trips-Agreement on Trade Related
Acpects of intelectual Property Right :
• Bản quyền và các quyền có liên quan
• Nhãn hiệu hàng hoá
• Chỉ dẫn địa lý
• Kiểu dáng công nghiệp
• Sáng chế
• Thiết kế bố trí mạch thích hợp
• Bí mật thông tin thương mại
• Hạn chế các hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển
giao công nghệ
- Các nguyên tắc chính của Hiệp định Trips:
• Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Nguyên tắc này đỏi hỏi một nước thành viên của WTO giành những ưu đãi,
ưu tiên hoặc miễn trừ áp dụng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến hoạt động
thương mại cho công dân của một quốc gia thì cũng phải giành những điều kiện
tương tự cho các công nhân của tất cả các nước thành viên khác của WTO.
• Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)
Với nguyên tắc này mổi nước thành viên WTO cho các công dân của các
nước thành viên khác những đối xử không kém thuận lợi hơn về bảo bộ quyền sở
hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại so với công dân của nước mình.
Hai nguyên tắc kể trên có thể không phải áp dụng trong các trường hợp ngoại
lệ (quy định miễn trừ nghĩa vụ tuân thủ Hiệp định Trips của WTO)
- Các trường hợp ngoại lệ được quy định cụ thể trong:
• Công ước Paris (về bảo hộ sở hữu công nghiệp)
• Công ước Berne (về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật)
• Công ước Rome (về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất bản ghi
âm và các tổ chức phát thanh truyền hình)
Trang 20

III. VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI
THẾ GIỚI WTO:
1. Lịch sử gia nhập WTO của Việt Nam
1.1 Tiến trình Việt Nam gia nhập WTO phải trải qua 6 giai đoạn
• Giai đoan 1 : Nộp đơn xin gia nhập:
Việt Nam là quan sát viên của GATT (Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại) và chính thức nộp đơn gia nhập WTO ngày 4/1/1995
• Giai đoạn 2 : Gửi “Bị vong lục về chế độ ngoại thương của quốc gia”
Ngày 22/ 8 /1996 chúng ta đã hoàn thành “Bị vong lục về chế độ ngoại
thương của Việt nam” và gửi tới ban thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên
của ban công tác.
• Giai đoạn 3: Làm rõ chính sách thương mại của quốc gia xin gia nhập:
Tháng 7/1998, Việt Nam tiến hành phiên họp đa phương đầu tiên tới Nhóm
công tác về minh bạch hóa các chính sách kinh tế thương mại.
Tháng 11/1998 thực hiện phiên họp lần 2 minh bạch chính sách của Việt nam
trong các lĩnh vực thương mại hoá, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ.
Tháng 7/1999 tại phiên họp lần 3 về cơ bản đã hoàn thành giai đoạn làm rõ
chính sách thương mại Việt nam.
• Giai đoạn 4:
Đưa ra các bản chào ban đầu về thuế, bản chào ban đầu về lộ trình loại bỏ các
hang rào phi thuế, bản chào ban đầu về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ. để
tiến hành đàm phán với từng nước thành viên có yêu cầu đàm phán về từng nội
dung cho tới khi kết quả đàm phán thoả mãn mọi yêu cầu của các nước thành viên
WTO.
Từ ngày 02-12/12/2003 phiên thứ 7 đàm phán gia nhập WTO của Việt nam
tiến hành tại trụ sở của WTO. ở phiên đàm phán nay Việt Nam trình bản chào lần 3
về chính sách thương mại của Việt Nam. Kết quả của vòng này đã giúp Việt nam
tiến nhanh hơn vào WTO.
Trang 22
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU

Trang 23
ĐỀ TÀI 3: TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
1.2 Các mốc đánh dấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam
• 04-01-1995: Đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam được Đại hội đồng
tiếp nhận.
• 31-01-1995: Ban xem xét công tác gia nhập (WP) của Việt Nam được
thành lập với chủ tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO.
• 24-08-1995: Việt Nam nộp Bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam
và gửi tới Ban thư ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của Ban
công tác.
• Năm 1998-1999: Các phiên hỏi và trả lời với Ban xem xét công tác xét
duyệt.
• Đầu năm 2002: Việt Nam gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ
tới WTO và bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành
viên trên cơ sở bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ.
• 09-10-2004: Việt Nam và EU đạt thỏa thuận về việc Việt Nam gia nhập
WTO.
• 09-06-2005: Việt Nam và Nhật Bản đạt được thỏa thuận cơ bản về vấn đề
mở đường cho Việt Nam sớm gia nhập WTO.
• 12-06-2005: Việt Nam cử một phái đoàn đàm phán hùng hậu sang
Washington trước thềm chuyến thăm Mỹ chính thức của Thủ tướng Phan
Văn Khải với quyết tâm đi đến kết thúc đàm phán song phương.
• 18-07-2005: Việt Nam và Trung Quốc đạt được thỏa thuận về việc mở
cửa thị trường để Việt Nam gia nhập WTO.
• 31-05-2006: Ký thỏa thuận kết thúc đàm phán song phương với Mỹ –
nước cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương.
• 26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các
nước. Cuộc đàm phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng chừng không
thể kết thúc được cho đến phút chót.
Trang 24

bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23,9% .
Trang 25

Trích đoạn Thương mại hàng hóa (Cam kết về thuế nhập khẩu) Về bản quyền tác giả: Kiểu dáng công nghiệp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status