2
2
2
2
3
3
3
3
3
4
5
5
6
6
13
14
15
15
15
17
MỤC LỤC
PHẦN I : ĐẶT VẤN
ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
…………………………………………………………
2. Mục đích nghiên cứu
………………………………………………………
3. Đối tượng nghiên
cứu………………………………………………………
4. Nhiệm vụ nghiên
học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đối với công tác chủ nhiệm lớp
cũng vậy, muốn cho các em hoc sinh có ý thức tốt, có nề nếp tốt thì ngay từ
khi mới vào bậc THPT, chúng ta đã phải định hướng trước cho các em trong
hành động, trong lời nói, cách ứng xử
Là một giáo viên chủ nhiệm (GVCN) trẻ mới ra trường, được nhà trường
phân cho nhiệm vụ chủ nhiệm lớp, tôi luôn trăn trở, lo lắng: không biết mình
có làm được không? làm như thế nào? Đặc biệt đối với những lớp có chất
lượng đầu vào kém (thường đi đôi với ý thức kém) thì công việc này lại càng
khó khăn và nặng nề hơn.
Thiết nghĩ, nếu ngay từ đầu chúng ta không ổn định nề nếp ngay, không
đưa các em vào khuôn khổ thì lớp học sẽ hỗn loạn, các em sẽ phát triển tính
tự do trong hành động và lời nói. Nếu sau đó mới chấn chỉnh nề nếp thì sẽ rất
2
vất vả và khó khăn. Mà muốn ổn định nề nếp sớm, theo tôi trước hết mỗi lớp
nên có một bảng nội quy rõ ràng, quy định cụ thể những quyền lợi và nghĩa
vụ của chính các em. Các em sẽ không mất thời gian để tìm hiểu mà có sẵn
các quy định, làm cơ sở cho các hành vi và cách ứng xử của mình. Đồng thời,
nếu chúng ta gắn việc thực hiện nội quy lớp với việc xếp loại hạnh kiểm học
sinh thì nó sẽ có tác dụng thiết thực hơn và hiệu quả mang lại sẽ cao hơn.
Một lớp có nội quy tốt sẽ tác dụng thúc đẩy các em học tập và rèn luyện
đồng thời giúp các em tránh được những sai phạm, giúp các em trở thành con
ngoan, trò giỏi. Nội quy giống như một cuốn sách, một lối mòn chỉ lối cho
các em khi mới bỡ ngõ bước vào ngôi trường THPT.
Các biện pháp để xây dựng nề nếp lớp rất phong phú, tuy nhiên ở đây tôi
cho rằng biện pháp xây dựng nội quy lớp là cơ bản và cấp thiết nhất đối với
việc học tập, rèn luyện của HS và là cơ sở vững vàng cho việc rèn luyện ở các
lớp tiếp theo. Vì vậy tôi chọn đề tài: “ Xây dựng nội quy lớp học góp phần
nâng cao chất lượng quản lý và giáo dục học sinh của giáo viên chủ nhiệm” .
2. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở tìm hiểu các đặc điểm của học sinh THPT, các nội quy nhà
2. Cơ sở thực tiễn.
Khi mới bước vào THPT thì các em trong cùng một lớp được tập hợp từ
nhiều xã phường khác nhau, tâm lí, hành vi cũng khác nhau. Nếu không thống
nhất lớp thành một khối chung thì các em rất dễ bị ảnh hưởng tính xấu của
nhau, nhiều em bắt chước học đòi những hành vi xấu của bạn. Để có thể
thống nhất lớp thành một khối chung thì cần có những quy định chung
giúp các em biết như thế nào là nên, là không nên. Khi đó, nội quy lớp là
công cụ quan trọng hàng đầu để định hướng cho các em hành động.
Nếu trong quá trình thực hiện nội quy các em được hướng dẫn tỉ mỉ,
được sự quan tâm theo dõi của thầy cô, bạn bè thì các em sẽ dần hình thành
4
những hành vi tốt, thực hiện theo qui định chung của tập thể lớp đề ra. Sau
này sẽ hình thành ‘‘đường mòn” cho các em ý thức tự học và tự rèn luyện.
Đặc biệt đối với những em có ý thức kém, không chịu cố gắng mà không
có qui định rõ ràng cụ thể thì rất khó làm cho các em đi vào khuôn khổ. Các
em tự cho mình cái quyền được làm những điều không nên làm. Nhiều em sau
khi phạm lỗi trả lời hết sứ thản nhiên: Em không biết có qui định đó, Em nghĩ
như thế là không sai Việc đưa ra nội quy sẽ giúp các em biết mình đang ở
giới hạn nào. Nếu các em vi phạm thì chúng ta có cơ sở để khiến các em phải tự
nhận lỗi và sửa sai.
Lâu nay, đa số các giáo viên chỉ tuân theo nội quy nhà trường mà chưa căn
cứ vào đặc điểm riêng của lớp mình. Nếu có xây dựng nội quy lớp thì cũng sơ sài,
ít thực hiện nên hiệu quả thực hiện không cao. Một số lớp thực hiện nhưng cũng
không gắn với việc xếp loại học sinh. Vì vậy mà nội quy lớp chưa trở thành một
công cụ sắc bén trong quản lí và giáo dục học sinh, ít gây được ảnh hưởng sâu sắc
tới học sinh để hình thành ý thức tự giác học tập, rèn luyện cho học sinh.
3. Thực trạng việc thực hiện nội qui hiện nay của học sinh.
3.1. Thực trạng việc thực hiện nội qui hiện nay của học sinh.
Hiện nay, các em được học tập, rèn luyện trong môi trường giáo dục
ngày càng tốt hơn. Nhưng tình trạng học sinh vi phạm nội quy ngày càng gia
chỉ mang tính chất đối phó. Nhiều khi thấy bạn không làm (vì một lí do nào đó)
các em cũng thờ ơ, mặc kệ.
+ Các em lại tỏ ra chăm chỉ, hăng say khi có sự theo dõi của thầy cô, bạn
bè. Tư tưởng thích được khen, không muốn bị phê bình chiếm đa số ở các em.
Đặc biệt, khi được tuyên dương thì thường cố gắn hơn, khi phê bình thì thấy xấu hổ.
3.2. Nguyên nhân tình trạng vi phạm nội quy của học sinh.
Nguyên nhân của tình trạng vi phạm nội quy của học sinh thì có rất
nhiều, nhưng đây tôi chỉ muốn nêu một số nuyên nhân chính:
- Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt sự bùng nổ của công nghệ thông
tin và sự xâm nhập của cơ chế thị trường dẫn tới nhiều ảnh hưởng tiêu cực
6
trong cả suy nghĩ và hành động của các em. Các hiện tượng vi phạm đã kể ở
trên như nghiện, game, bỏ tiết, bỏ học đi chơi chính là các ví dụ cụ thể.
- Nhà trường nào cũng có những nội quy chung, nhưng nội quy nhà
trường lại áp dụng cho một lượng lớn học sinh mà không tính đến các đặc
điểm riêng của từng lớp nên hiệu quả áp dụng không cao. Đồng thời việc theo
dõi của GVCN không thể bao quát hết được các học sinh. Việc tổ chức thực
hiện gây khó khăn hơn cho lớp. Vì vậy, mỗi lớp cần có những nội quy cụ thể,
gẫn gũi với đặc điểm học sinh của lớp. Những nội quy này ngoài căn cứ vào
nội quy chung của nhà trường còn căn cứ vào tính hình lớp chủ nhiệm để phù
hợp hơn, cụ thể hơn mang lại hiệu quả thực hiện cao hơn.
4. Biện pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện nội quy.
* Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện nội quy thì theo tôi biện pháp
quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được nội quy lớp để cho các em thực
hiện, đồng thời nếu gắn việc thực hiện nội quy với việc xếp loại hạnh kiểm
học sinh sẽ mang lại hiệu quả thực hiện cao hơn và chính xác hóa được quá
trình đánh giá, xếp loại hạnh kiểm học sinh.
* Nhưng xây dựng nội quy lớp như thế nào để các em tuân thủ thực hiện
và phát huy tính tích cực? Để xây dựng nội quy lớp thì tôi đã căn cứ vào nội
quy nhà trường và gắn với các đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh như sau:
- Trong giờ học luôn có tinh thần hăng say xây dựng bài, không chây lười, ỷ lại.
2. Về nề nếp.
- Không xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thầy cô giáo, cán bộ nhân viên
nhà trường
- Thực hiện đi học đúng giờ. Đúng trang phục nhà trường quy định.
- Trong giờ học không làm việc riêng, nói chuyện, đánh nhau, ngủ gật… làm
ảnh hưởng tới lớp.
8
- Ra chào cờ, tập thể dục giữa giờ các ngày thứ 2,4,6 nhanh nhẹn, đúng giờ,
không ra muộn không được ở lại lớp học. (Chỉ cử 1 bạn ở lại coi lớp là người
làm trực nhật buồi hôm đó).
- Không nói tục, chửi bậy, gây gổ, đánh nhau hoặc có những hành vi không
phù hợp trong trường học.
3. Về lao động, vệ sinh.
- Thực hiện vệ sinh lớp học theo sự phân công của GVCN và cán bộ lớp,
không làm ẩu, làm bẩn, làm chậm.
- Các ngày thứ 3, 5, 7 hàng tuần tiến hành lao động theo khu vực lớp đã được
giao, không được ra làm muộn. Làm xong phải mang dụng cụ vào lớp học
(HS nào làm mất sẽ phải đền bù cho lớp).
- Các buổi lao động cộng sản phải tham gia đầy đủ trừ trường hợp ốm đau, có
lí do chính đáng thì phải viết đơn xin nghỉ có ý kiến phụ huynh, nạp trực tiếp
cho GVCN.
Trên cơ sở trên, lớp đưa ra một số tiêu chí, cộng và trừ điểm cùng với một
số hình thức khen thưởng, kỉ luật học sinh.
Mỗi tuần, mỗi bạn sẽ có 100 điểm, nếu vi phạm sẽ bị trừ điểm, làm tốt
sẽ được cộng điểm.
II. Cách cộng điểm
1. Học tập:
Với tất cả các môn nếu xây dựng bài tốt hoặc làm bài kiểm tra được 9
điểm thì sẽ cộng thêm 5 điểm cho mỗi con điểm 9. Nếu được 10 điểm sẽ cộng
* Nếu điểm < 90 thì học sinh đó phải khắc phục ngay những khuyết điểm đã
mắc phải đồng thời bị phạt trực nhật 1 tuần.
- Về hạnh kiểm trong tháng:
+ Nếu trong tháng có 2 tuần điểm từ 81-90 thì học sinh bị xếp hạnh kiểm khá.
+ Nếu 3 tuần điểm 81-90 thì học sinh đó bị xếp loại hạnh kiểm trung bình
+ Nếu 4 tuần điểm từ 81-90 thì học sinh đó bị xếp loại yếu.
10
* Nếu điểm < 80 thì phải khắc phục ngay khuyết điểm đồng thời phạt trực
nhật 2 tuần và GVCN trực tiếp gọi điện thoại về thông báo cho phụ huynh.
- Về hạnh kiểm trong tháng:
+ Nếu trong tháng có 1 tuần có điểm <80 thì bị xếp hạnh kiểm khá,
+ Nếu trong tháng có 2 tuần có điểm <80 thì bị xếp hạnh kiểm loại trung bình,
+ Nếu trong tháng có 3 tuần trở lên có điểm <80 bị xếp hạnh kiểm loại yếu.
* Việc xếp loại hạnh kiểm của từng tháng sẽ là cơ sở cho xếp loại hạnh kiểm cả kì
như sau:
- Điểm trung bình trong học kì <80 không được xếp hạnh kiểm loại khá.
- Điểm trung bình trong học kì từ 81-90 không được xếp hạnh kiểm loại tốt.
- Điểm trung bình trong học kì > 90 trở lên xếp hạnh loại tốt.
- Nếu có những vi phạm nghiêm trọng (ví dụ đánh nhau gây thương tích ) thì vẫn
có thể không căn cứ vào điểm trung bình để xếp loại hạnh kiểm mà GVCN chuyển
lên hội đồng kỉ luật nhà trường xử lí.
2. Khen thưởng:
+ Nếu điểm >100 thì học sinh đó được cộng cho tháng sau 3 điểm.
+ Nếu điểm từ 115 trở lên thì học sinh đó sẽ được miễn trực nhật trong tháng.
Đặc biệt, nếu lọt vào tốp 3 người có số điểm cao nhất trong tháng thì sẽ được
hội phụ huynh lớp trao thưởng.
+ Nếu được nhà trường tuyên dương, khen thưởng thì được cộng 5 điểm cho
tháng sau, được miễn trực nhật trong tháng đó và được lớp tặng 1 món quà.
+ Ngoài ra, nếu học sinh nào có sáng kiến nâng cao chất lượng học tập hoặc
nề nếp thì sẽ được hội phụ huynh trao thưởng như tốp 3 học sinh có điểm cao
8
9
+ Lớp phó lao động theo dõi việc thực hiện lao động, vệ sinh của các học
sinh trong tuần mà GVCN đã phân công. Cuối tuần, lớp phó lao động đưa ra
nhận xét chung, nhận xét cụ thể việc thực hiện của từng bạn trong tuần đó
theo bảng dưới đây. Điều này bắt buộc các em và chính đội ngũ ban cán sự
phải phải thực hiện nghiêm túc.
STT Họ và tên Thời gian thực hiện
(sớm, muộn, đúng giờ)
Chất lượng thực hiện
( bẩn, sạch )
1
2
3
4
5
6
7
12
+ Lớp phó học tập theo dõi việc thực hiện nề nếp học tập của các bạn
trong lớp. Cuối tuần nêu nhận xét chung và tình hình cụ thể cho giáo viên chủ
nhiệm.
STT Họ và tên Điểm tốt Điểm kém
1
2
3
4
5
6
+ Lớp trưởng bao quát toàn bộ tình hình chung của lớp ,tham gia theo dõi
+ Thời gian sau từ tháng 2 trở đi thì số điểm <80 đã giảm đi, số điểm >100
tăng lên.
+ Có tới 5 tháng không có em nào có điểm < 100, có tháng chỉ có 1 em có
điểm từ 91-100.
Dựa vào số điểm của mỗi học sinh để đánh giá, xếp loại hạnh kiểm cho học
sinh trong tháng. Kết quả thu được như sau:
Tháng Tốt (%) Khá (%) TB (%) Yếu (%)
1 88 9,6 2,4 0
2 92,9 7,1 0 0
3 97,6 2,4 0 0
4 100 0 0 0
5 100 0 0 0
6 100 0 0 0
7 100 0 0 0
8 100 0 0 0
9 100 0 0 0
10 100 0 0 0
- Từ bảng số liệu trên ta thấy:
+ Thời gian đầu khi các em mới làm quen với nội quy thì các em vi phạm
nhiều dẫn tới số học sinh xếp hạnh kiểm loại tốt còn rất hạn chế. Thậm chí có
cả học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình.
+ Các tháng tiếp theo từ tháng 2 trở đi thì số học sinh xếp hạnh kiểm tốt tăng
lên, số học sinh xếp loại khá giảm dần và không còn học sinh bị xếp loại trung
bình và yếu.
14
+ Tuy có tháng các em xếp loại trung bình nhưng trong cả học kì các em lại
cố gắng lên nên không có em nào bị xếp hạnh kiểm loại trung bình trở xuống
trong cả học kì và cả năm.
- So với các lớp cùng khối mà không thực hiện nội quy lớp, không gắn nội
quy lớp với việc xếp loại hạnh kiểm thì nề nếp của lớp tôi tốt hơn mặc dù chất
thay đổi và nắm bắt tâm từ tình cảm nguyện vọng của các em để sao các em
thật sự yên tâm học tập. Đặc biệt cần chọn đội ngũ ban cán sự lớp có uy tín và
năng lực, có như vậy thì các tổ viên trong tổ mới lắng nghe và chịu sự điều
hành của tổ trưởng.
+ Nhân điểm hình tiên tiến của lớp, để các em khác cố gắng phấn đấu bằng bạn.
+ Kết hợp với cha mẹ học sinh, thường xuyên thông tin về gia đình dưới
nhiều hình thức về tình hình học tập và rèn luyện của các em.
+ Nắm vững tâm lí từng học sinh để có biện pháp tác động phù hợp cho từng
đối tượng.
* Việc xây dựng nội quy lớp và gắn việc thực hiện nội quy với xếp loại
hạnh kiểm học sinh có tác dụng tích cực giúp các em luôn nỗ lực cố gắng.
Tuy nhiên, theo tôi không có phương pháp nào vạn năng cho mọi đối
tượng học sinh, mà trong quá trình chủ nhiệm chúng ta nên kết hợp nhiều
phương pháp với nhau để mang lại hiệu quả cao nhất.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Điều lệ trường THPT.
2. Điều lệ trường THPT Ba Đình.
3. Luật giáo dục 2005 có sửa đổi bổ sung 2009.
4. Quy chế 40 của bộ giáo dục.
17