MỤC LỤC
Mục
1
NỘI DUNG
Trang
MỞ ĐẦU
1
1.1
Lí do chọn đề tài
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
1
1.3
Đối tượng nghiên cứu
2
1.4
Đặc điểm chung về nhà trường
2
2.2.3
2.3
2.4
2.4.1
Tình hình chung về công tác quản lý học sinh bán trú ở trung
học cơ sở Na Mèo
Một số biện pháp quản lý bán trú nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động của học sinh bán trú
4-5
6
7-12
Kết quả áp dụng biện pháp quản lý giáo dục học sinh bán trú
13
Đối với học sinh
13
2.4.2
Đối với bản thân
1.1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, thực trạng học sinh bỏ học giữa chừng ở các cấp học trên địa
bàn huyện Quan Sơn vẫn còn xảy ra thường xuyên và đáng kể. Tỷ lệ học sinh đi
học chuyên cần còn thấp, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và tỉ lệ phổ cập
giáo dục trung học cơ sở. Hiện tượng này, thường xảy ra với đối tượng học sinh
ở các bản sâu, bản xa trường học, điều kiện kinh tế khó khăn, điều kiện đến
trường học phải qua sông, suối, có em phải đi bộ từ nhà đến trường gần chục
km. Mặc dù đã được tuyên truyền và tư vấn nhiều về tầm quan trọng của việc
học và tương lai của con trẻ nhưng nhiều gia đình còn xem nhẹ việc học, không
quan tâm đến việc học tập của con em mình, họ xem việc đi học là tốn kém và
mất thời gian làm việc nhà, ý thức cho con học lên cao của người dân ở các bản
sâu, bản xa chưa cao, việc con cái bỏ học giữa chừng để tham gia lao động kiếm
tiền không làm các bậc phụ huynh lo lắng; Điều kiện kinh tế địa phương còn
nghèo nàn, hiện tượng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước vẫn
còn, nên không ít gia đình không đủ sức lo cho con đi học; Chính quyền địa
phương chưa thực sự quan tâm và đầu tư đúng mức đối với công tác giáo dục,
vẫn còn hiện tượng phó mặc cho nhà trường. Cũng một vấn đề gây khó khăn cho
các em ở các bản xa đến trường đi học không thể đi về trong ngày được, đặc biệt
là ngày thời tiết xấu. Đa số học sinh phải ở trọ nhờ nhà dân gần trường, điều
kiện thiếu thốn, lệ thuộc, các em ở trọ lại không có người chăm sóc, hướng dẫn
sinh hoạt, cũng như việc quản lí các em học tập.
Từ năm 2011 trường trung học cơ sở Na Mèo được chuyển đổi thành loại
trường Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. Loại hình trường bán trú giúp
cho học sinh ở các bản xa trường không thể đi về trong ngày được. Điều kiện địa
lý, giao thông đi lại vất vả, phần đa học sinh phải qua sông, suối. Trường được
xây dựng 14 phòng ở dành cho học sinh. Đây là một bước mở ra trước mắt cho
các em học sinh thuộc diện khó khăn ở các bản xa trường.
Khi có phòng ở cho các em bản xa nhà trọ lại, tưởng rằng đã có phần ổn
định song lại phát sinh ra muôn vàn khó khăn: tình trạng lộn xộn, mất an ninh
trật tự trong khu bán trú; tình trạng thiếu nước sinh hoạt công trình vệ sinh, công
- Phương pháp toán học
3
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
- Về lý luận:
Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục ở góc độ hẹp, đó là quá trình
người quản lý dựa vào các quy luật khách quan vốn có của đơn vị để tác động có
tính hướng đích đến cán bộ, giáo viên, học sinh,…nhằm thực hiện mục tiêu đề
ra. Như vậy, hoạt động quản lý là sự phân công, hợp tác lao động; là sự chăm
sóc, giữ gìn, sửa sang và sắp xếp, đổi mới để đưa nhà trường phát triển.
- Về thực tiễn:
Để thực hiện các biện pháp quản lý giáo dục học bán trú trong nhà trường
thì mỗi cá nhân, tổ chức cần phải nâng cao vai trò, trách nhiệm của bản thân cá
nhân và tập thể về nhiệm vụ mà mình phụ trách.
Trong quản lí và giáo dục học sinh bán trú thì mỗi cá nhân trong hệ thống
cần phải xem mình là một nhà giáo dục, kể cả nhân viên bảo vệ, nhân viên nấu
ăn vì mục tiêu của quản lí bán trú là quản lí và giáo dục học sinh ổn định và phát
triển toàn diện, giáo dục các em biết ăn, ở, sinh hoạt, lao động, biết tự lâp.
Từ đó làm thay đổi thực trạng của giáo dục ở các bản sâu, xa trường,
những vùng đặc biệt khó khăn theo chiều hướng tiến bộ.
- Các chức năng trong quản lý bán trú.
* Xây dựng kế hoạch:
Là chức năng cơ bản của quản lý, là việc cụ thể hóa những mục tiêu
chung thành hoạt động thực tiễn, định ra các chỉ tiêu phấn đấu, đề ra phương
pháp, biện pháp, điều kiện để thực hiện, vạch ra tiến trình, thời gian, địa điểm
hoàn thành công việc.
Căn cứ vào tình hình của trường, nhiệm vụ năm học, các chỉ thị hướng
+ Dân cư:
Xã biên giới Na Mèo là một xã nghèo, xã thuộc chương trình 30A, xã có
10 thôn bản người, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái, Mường và một bản người
H Mông và một số ít người Kinh định cư buôn bán.
Xã có tỉ lệ dân cư ở mức trung bình so với các xã trong huyện. Tổng số
3872 nhân khẩu trong đó có 940 hộ, phần lớn người dân có đời sống kinh tế khó
khăn, trình độ văn hóa, dân trí chưa cao.
Mặc dù Nhà trường luôn được sự quan tâm giúp đỡ của các ban ngành,
đoàn thể, của Đảng ủy, chính quyền địa phương nhưng do đời sống nhân dân
còn nhiều khó khăn, hơn nửa nhận thức của cha mẹ học sinh phần lớn còn hạn
chế nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của nhà trường
2.2.2. Đặc điểm chung về nhà trường.
- Trường THCS Na Mèo được thành lập 8/2000 trên cơ sở tách ra từ khu
lẻ của trường THCS Sơn Thủy. Do điều kiện kinh tế địa phương thuộc xã nghèo
biên giới của huyện Quan Sơn, nên điều kiện cơ sở vật chất thiếu về mọi mặt.
- Từ khi thành lập đến nay, với sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ, giáo
viên, nhân viên và các em học sinh trường đã đạt được một số kết quả nhất định.
- Năm 2011 trường trung học cơ sở Na Mèo được chuyển đổi thành loại
hình trường Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Na Mèo. Đây là một
bước mở cho giáo dục xã Na Mèo thay đổi theo chiều hướng phát triển, xóa bỏ
được tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ học giữa chừng.
Tình hình đội ngũ nhà giáo.
Tổng số
17
CBQL
3
Nam
Số lớp học
Số học sinh
trú
5
Khối 6
2
48
10
Khối 7
2
48
25
Khối 8
2
53
26
Khối 9
2
51
21
Tổng: 04
08
200
82
Tổng số học sinh toàn trường là 200 em, sĩ số trung bình so sánh với các
trường trong huyện và có số học sinh bán trú 82 em, với số lượng học sinh bán
trú này, nếu không có kế hoạch và biện pháp khoa học thì sẽ gây phúc tạp và
kém hiệu quả trong công tác quản lý bán trú.
1,8
Trên 80% hiệu quả mô hình
2016 –2017
191
03
1,6
Trên 97% bán trú
(Theo số liệu thống kê của Trường)
- Theo số liệu điều tra cho thấy, trong những năm chưa có loại hình bán trú tỉ
lệ học sinh đi học chuyên cần còn thấp; tỉ lệ học sinh bỏ học giữa chừng còn quá
cao.
- Khi đã thực hiện mô hình trường bán trú nhưng công tác quản lý chưa hiệu
quả nên tỉ lệ chuyên cần vẫn còn thấp, tỉ lệ học sinh bỏ học ở các bản xa có giảm
nhưng vẫn còn cao.
Tỉ lệ phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ năm 2008 – 2018.
Kết quả tuyển
Tỷ lệ Phổ cập GDTHCS
Năm
Ghi chú
sinh vào lớp 6
(Đối tượng 15-18 tuổi)
2008
97%
78,2
Chưa thực hiện
mô hình bán trú
2009
97,3%
77,4%
Tốt
Khá
Giỏi
Khá
T.Bình
Yếu
Kém
bán SL % SL % SL % SL %
SL %
SL % SL %
trú
76,
23,
4,1
97
74
23
0 0 6 6,2 78 80,4 9 9,3 4
3
7
Chất lượng giáo dục hai mặt hạnh kiểm – văn hóa của năm học trước còn
thấp (học sinh bán trú).
2.2.3. Tình hình chung về công tác quản lý học sinh bán trú ở trung
học cơ sở Na Mèo
* Thuận lợi:
+ Được sự quan tâm và chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo nhà trường về công
tác bán trú, có sự kiểm tra thường xuyên của lãnh đạo địa phương.
+ Đa số giáo viên trẻ, khỏe nhiệt tình đủ điều kiện để tham gia quản lý các
hoạt động của học sinh bán trú.
+ Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước về chế độ chính sách dành cho
quan tâm đúng mức đến hoạt động này, thậm chí còn xem nhẹ, bỏ qua, chỉ giao
phó cho giáo viên quản lý khu bán trú của nhà trường tự tổ chức điều khiển hoạt
động do đó những hoạt động quản lý này còn gặp rất nhiều khó khăn và lúng
túng, hình thức và chỉ đạo quản lý một cách máy móc rập khuôn, không có sự
sáng tạo. Năm học 2015- 2016 hoạt động quản lý học sinh bán trú đã được lãnh
đạo nhà trường chỉ đạo sát sao, cụ thể hơn nên hoạt động này đã đi vào nề nếp
và nhà trường đã thực sự tạo một môi trường học tập cho các em được tốt hơn.
2.3. Một số biện pháp quản lý bán trú nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
của học sinh bán trú.
Trước những khó khăn đó, nhà trường đã xác định: Quản lí học sinh bán
trú là quá trình quản lí hoạt động giáo dục trong nhà trường, là nhiệm vụ trọng
tâm, có ý nghĩa quyết định đến vấn đề nâng cao chất lượng dạy học trong
trường, hạn chế tình trạng học sinh bỏ học và duy trì kết quả chuẩn phổ cập giáo
dục.
Hiệu trưởng nhà trường đã ra quyết định thành lập Ban quản lí bán trú và
phân công giáo viên trực bán trú giúp đỡ các em. Với trách nhiệm là Phó Hiệu
Trưởng trực tiếp quản lí bán trú tôi đã tham mưu cho nhà trường thực hiện một
số biệp pháp để quản lí giáo dục học sinh bán trú có hiệu quả như sau:
Biện pháp 1: Xây dựng một kế hoạch hoạt động phù hợp đặc điểm tình
hình của nhà trường, của địa phương, phù hợp với nhiệm vụ trong khu bán
trú.
* Phân công nhiệm vụ.
- Phó Hiệu trưởng phụ trách chung: Lên kế hoạch hoạt động hàng tháng;
Kiểm tra và chỉ đạo chung; tổng hợp báo cáo và đề nghị kế hoạch hoạt động lên
lãnh đạo.
- Phân công giáo viên quản lí bán trú: Kiểm tra và theo dõi các hoạt động
cuả học sinh; các phòng ở, ban nam công, nữ công trong khu.
- Phân công giáo viên trực: Giáo viên trực làm nhiệm vụ theo dõi các
hoạt động và hướng dẫn học sinh
+ Trực từ 19 h 30 phút đến 21h 30.
hàng tuần.
- Giáo viên phụ trách bán trú có trách nhiệm nhận học sinh từ bản ra
trường vào chiều chủ nhật để thực hiện các hoạt động giáo dục và trả học sinh
về gia đình vào trưa thứ 7 hàng tuần.
- Giáo viên quản lí bán trú và học sinh bán trú nghiêm túc thực hiện lịch
hoạt động sau:
+ 05 h 30: Trưởng khu dậy mở nhạc tất cả dạy tập thể dục buổi sáng.
+ 06 h: vệ sinh cá nhân... vệ sinh phòng ở, khuôn viên, học sinh tự ăn
sáng tại bếp ăn.
+ 06h 30: xem lại bài học và chuẩn bị cho học chính khóa.
+ Trưa 11h: học sinh ăn trưa, nghỉ trưa, chiều lên lớp.
+ 16h 30 đến 17h 30: Tổ chức lao động vệ sinh và vệ sinh cá nhân.
+ Tối: 17h 30: ăn cơm tối.
+ 18 h – 19h 30: xem ti vi ( thời sự)
+ 19h 30 đến 21h 30: học bài cũ và chuẩn bị bài cho buổi học ngày mai.
+ 21h30 đến 22h30: xem phim và những tin tư liệu như; tư liệu về Hồ
Chí Minh do GS Hoàng Chí Bảo kể.., tư liệu về các nhân vật nổi tiếng... Xem
những bộ phim mang tính giáo dục cao tại phòng xem phim của trường.
* Xây dựng nội quy khu bán trú;
- Đối với học sinh;
+ Luôn giữ gìn vệ sinh khu bán trú;
+ Thực hiện giờ ăn, ngủ, sinh hoạt, thể dục đúng quy định;
+ Giữ gìn và bảo vệ tài sản cá nhân, tài sản của nhà trường;
+ Phải có ý thức tiết kiệm điện, nước..
9
+ Người thân đến thăm, hoặc người lạ vào khu phải báo ngay cho ban
quản lý bán trú;
Khu bán trú được xem là một gia đình lớn. Trong đó, thầy cô quản lý là cha
mẹ, học sinh là những đứa con yêu quý. Thời tiết thay đổi, ốm đau xảy ra là một
việc không thể tránh khỏi. Vì vậy, phải làm tốt một số vấn đề khi các em bị ốm,
đau xảy ra.
- Xây dựng tủ thuốc bán trú, bổ sung thường xuyên và phong phú các
chủng loại thuốc, dụng cụ sơ cứu đơn thuần.
- Làm tốt công tác phối hợp với trạm y tế xã để sơ cứu và khám chữa kịp
thời khi có vấn đề về bệnh, dịch xảy ra với học sinh.
- Phối hợp với trạm y tế kiểm tra sức khỏe định kì cho các em học sinh
vừa đảm bảo quyền lợi, vừa ngăn chặn kịp thời dịch bệnh cho học sinh bán trú.
10
- Mục đích: Bảo vệ sức khỏe cho học sinh, sơ cứu kịp thời khi xay ra,
ngăn chặn các mầm dịch bệnh xâm nhập học đường.
Biện pháp 4: Đa dạng hoá các hình thức hoạt động trong khu, phù hợp
nhu cầu và hứng thú của học sinh, phù hợp với điều kiện nhà trường.
Để đổi mới được những nội dung, hình thức hoạt động, đa dạng hoá các
loại
hình hoạt động quản lý phải phát huy được những năng lực, sáng tạo của ban
quản lý bán trú, biết mở rộng, phát huy tính dân chủ, khuyến khích học sinh
tham gia bàn bạc, trao đổi, sáng tạo để tìm ra những hình thức hoạt động quản lý
mới, bổ sung hoặc điều chỉnh nội dung hoạt động quản lý cho phù hợp với điều
kiện và khả năng thực hiện của từng khối lớp trong khu bán trú nhà trường.
Phát huy vai trò tự quản và quyền tham gia hoạt động của học sinh bán trú
là
cơ sở quan trọng đối với việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh bán trú trong học tập và rèn luyện.
Xây dựng một tập thể có tổ chức, hoạt động theo một kế hoạch cụ thể đã
được nhà trường phê duyệt.
Biện pháp 6: Tham mưu xây dựng cơ sở vật chất, chính sách hỗ trợ
cho khu bán trú:
- Để đảm bảo việc ăn, ở, sinh hoạt cho các em thì cơ sở vật chất phải đảm
bảo.
- Thiếu bếp ăn, nhà vệ sinh, nhà phơi quần áo, khu bể nước, kéo theo
muôn vàn khó khăn. Vì vậy lãnh đạo nhà trường cần phải:
- Tham mưu với các cấp chính quyền tiếp tục đầu tư xây dựng khu bán trú
như: giếng nước, bếp ăn, công trình vệ sinh...Khu bán trú phải kín cổng, cao
tường cách biệt với bên ngoài để không ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt của
các em, hạn chế không để người lạ tự do đi lại trong khu vực.
- Tạo mọi điều kiện về kinh phí cho hoạt động quản lý, tạo điều kiện tốt
về thời gian, chế độ, cơ chế đánh giá để giáo viên quản lý tốt bán trú trường học.
Mục đích: Đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho học sinh bán trú. Hiện nay
nhà trường đã làm công tác xã hộ hóa và làm được bếp nấu, nhà ăn, giếng nước
đảm bảo cho sinh hoạt.
Biện pháp 7: Làm tốt công tác an ninh trật tự trong khu vực bán trú.
Trật tự, an ninh khu bán trú là một vấn đề nóng cần phải quan tâm; thanh
niên bên ngoài thường xuyên vào trộm cắp, trêu tán học sinh nữ, gây ảnh hưởng
đến hoạt động, ăn nghỉ, học tập, sinh hoạt trong khu bán trú. Để đảm bảo an
ninh, trật tự khu bán trú được tốt thì:
- Thành lập đội xung kích bao gồm: cán bộ giáo viên và học sinh nhằm
bảo vệ tài sản cũng như trật tự ở khu bán trú.
- Phối hợp với Công an, Đồn biên phòng lên phương án chuẩn bị đối phó
với sự cố bất thường xảy ra như: thanh niên bên ngoài vào gây rối để đảm bảo an
ninh trật tự cho khu bán trú, giúp các em an tâm học tập.
- Học sinh thực hiện nghiêm túc nội quy khu bán trú, các hoạt động đi vào
nề nếp, không có học sinh vi phạm, tránh được sự lôi kéo của kẻ xấu từ bên
ngoài xâm nhập vào.
Mục đích: Tạo cho các em có một môi trường sống học tập, lao động,
sinh hoạt và hoạt động tập thể. Đẩy xa những mối đe dọa về bạo lực, trộm cắp...
Mục đích: Gia đình – nhà trường – địa phương cùng gắn trách nhiệm
chung trong giáo dục và tạo mọi điều kiện để học sinh được đến trường, được
tham gia các hoạt động giáo dục.
Biện pháp 9: Gần gũi, động viên và tạo cho học sinh có tư tưởng, tâm
lí ổn định để yên tâm học tập.
Đối với học sinh khu bán trú thì giáo viên vừa là người thầy, người cha,
người anh, người bạn của các em. Bởi lẽ, các em xa gia đình, bố mẹ, hàng ngày
được tiếp xúc nhiều với thầy, cô. Cho nên giáo viên luôn gần gũi, thường xuyên
tâm sự với các em để nắm bắt tâm tư nguyện vọng để chia sẽ cùng các em, cũng
như chăm sóc các em lúc ốm đau, lúc trái gió trở trời...
Định hướng cho các em một hướng đi đúng đắn, con đường lập nghiệp
cho tương lai bản thân các em là con đường học tập, lao động. Trang bị cho các
em kiến thức cơ bản, dạy bảo cho các em biết tự làm chủ bản thân, sống cuộc
sông độc lập khi xa gia đình, tạo cho các em có một niềm tin để yên tâm học tập.
Mục đích: Tạo cho học sinh có một tâm lí an toàn, ấm áp xem trường là
nhà, thầy cô là cha mẹ, bạn bè là anh em gần gũi, thân thiện, cùng nhau vươn
lên trong học tập.
Biện pháp 10: Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động quản lý bán trú.
* Đối với công tác kiểm tra.
Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch quản lí bán
trú, nắm bắt những vấn đề còn tồn tại để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với
thực tế.
Ghi nhận những ưu điểm, sự tiến bộ để kịp thời động viên khích lệ tạo cho
ban quản lí có tinh thần cao, tâm huyết với công việc.
* Đối với việc đánh giá kết quả hoạt động.
- Ban giám hiệu đánh giá một cách trung thực, khách quan, công bằng
không mang tính cá nhân.
13
Tỷ lệ
TS học
Năm học
chuyên
Ghi chú
sinh
Số lượng Tỷ lệ
cần
2016 –
Đang thực hiện
2017
191
0
0%
Trên 97%
quản lí tốt mô
hình bán trú
2017 - 2018
200
0
0%
Trên 98%
Kết quả hai mặt giáo dục ( theo số liểu sơ kết HKI năm học 2017 – 2018)
Hạnh kiểm
Học lực
Tổng
số HS
Tốt
Khá
Giỏi
theo chiều hướng tích cực. Làm thay đổi chất lượng cuộc sống, tinh thần văn
hóa, xã hội của địa phương và đặc biệt là thay đổi được thực trạng giáo dục của
địa phương mà lâu nay chưa có biện pháp tháo gỡ như:
- Giữ vững kết quả phổ cập Giáo dục THCS:
Kết quả tuyển sinh Tỷ lệ Phổ cập GDTHCS
Năm
Ghi chú
vào lớp 6
(Đối tượng 15-18 tuổi)
2017
100%
85,3%
Đang thực hiện quản
4/2018
100%
87,3%
lí tốt mô hình bán trú
( số liệu cập nhật từ báo cáo phổ cập giáo dục THCS năm 2017 và quý I 2018)
Khi thực hiện quản lý khoa học, hiệu quả mô hình trường bán trú cho ta
thấy rõ hiệu quả mang lại của mô hình là: tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần tăng
cao; tỉ lệ học sinh bỏ học giảm; tỉ lệ phổ cập giáo dục THCS ổn định và có chiều
hướng tăng lên. Điều đó khẳng định có sự chuyển biến tích cực trong công tác
chỉ đạo, quản lý giáo dục học sinh bán trú ở nhà trường PTDT Bán trú THCS Na
Mèo.
Trong năm học 2017 – 2018 này và những năm học tiếp theo nhà trường
đang được Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nhà ăn, bếp nấu, công trình
vệ sinh cho học sinh bán trú. Khi đã được đầu tư đầy đủ về cơ sở vật chất và làm
tốt công tác quản lí khoa học thì chất lượng giáo dục của Nhà trường sẽ được
thay đổi và phát triển một cách toàn diện. Thực hiện theo chiến lược phát triển
Qua quá trình tìm hiểu và thực hiện công tác quản lí và giáo dục học sinh
bán trú, tôi nhận thức được rằng quản lý và giáo dục học sinh bán trú là một hoạt
động đa dạng và phong phú cùng với các hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt
động khác gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, xen kẽ nối tiếp nhau được tiến
hành đồng thời ở trường bán trú để tạo nên một kết quả tổng hợp góp phần đào
tạo người học sinh phát triển toàn diện về các mặt: Đức, trí, thể, mĩ.
Trên đây là những biện pháp chỉ đạo và quản lý giáo dục học sinh bán trú ở
Trường Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Na Mèo mà tôi tìm hiểu và áp
dụng trong thời gian qua. Tôi tin tưởng rằng có hướng đi đúng đắn, cùng sự nỗ
lực phấn đấu của bản thân, tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên của nhà trường,
chắc chắn rằng Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Na Mèo có
những bước phát triển, có kinh nghiệm quản lý vững chắc trong những năm tiếp
theo góp phần nâng cao tỉ lệ chuyên cần của học sinh, xóa bỏ được tình trạng
học sinh bỏ học giữa chừng và đảm bảo được tỉ lệ phổ cập giáo dục trung học cơ
sở. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Mặt khác hình thành cho học sinh
có một phong cách mới, diện mạo mới, thích nghi và hòa nhập với cộng đồng.
Vì điều kiện thời gian tìm hiểu có hạn, kinh nghiệm chưa nhiều nên những vấn
đề được trình bày trong sáng kiến này không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy,
16
tôi rất mong được góp ý của hội đồng thẩm định, của đồng nghiệp để bản thân
đúc rút ra được kinh
nghiệm trong công tác quản lý nói chung và quản lý mô hình trường học bán trú
nói riêng.
3.2. Kiến nghị.
* Đối với Phòng Giáo dục- Đào tạo.
Tổ chức các hội thảo trao đổi kinh nghiệm quản lý học sinh bán trú giữa
các trường có học sinh bán trú.
2. Hồ sơ Phổ cập giáo dục THCS của nhà trường từ năm 2008 đến năm 2018
3. Thông tư 24/2010/TT/BGDĐT ngày 02 tháng 8 năm 2010 về quy chế tổ
chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú.
4. Điều lệ trường THCS.
5. Nghị quyết 08/NQ-HU ngày 20/9/2017 của Ban thường vụ Huyện ủy
Quan Sơn về đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo huyện
Quan Sơn đến năm 2020.
6. Báo cáo tổng kết về kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của xã
Na Mèo năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ phát triển năm 2018.
18
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trương Ngọc Tĩnh
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng, trường PTDTBT THCS Na
Mèo
Kết quả
Cấp đánh
đánh
giá xếp loại giá xếp Năm học đánh
TT
Tên đề tài SKKN
(Phòng, Sở, loại (A,
giá xếp loại
Tỉnh...)
B, hoặc