I. ĐỘ TIN CẬY
1. Khái niệm:
- Độ tin cậy là xác suất để một phần máy hoặc thiết bị thực hiện được đầy
đủ chức năng của nó trong một khoảng thời gian định trước trong những điều kiện
hoạt động mặc định (từ nhà sản xuất)
- Độ tin cậy hệ thống là tổng hợp chức năng số lượng các thành phần và độ
tin cậy của các thành phần trong dây chuyền cấu thành.
2. Phương pháp xác định độ tin cậy của toàn hệ thống:
Hệ thống điều hành sản xuất bao gồm một chuỗi các thành phần có mối
quan hệ riêng biệt nhau, mỗi thành phần thực hiện một công việc cụ thể. Nếu có
bất kỳ một trong các thành phần bị hỏng với bất kỳ lý do gì thì toàn bộ hệ thống có
thể hỏng theo, ví dụ một dây chuyền lắp ráp kỹ thuật hay một dây chuyền sản xuất
sản phẩm…
Để xác định độ tin cậy của toàn hệ thống, đơn giản ta sử dụng phương pháp
tính toán độ tin cậy của hệ thống (R
s
)
R
s
= R
1
.R
2
.R
3
…R
n
Với: R
i
: là độ tin cậy của thành phần thứ i (i=1, 2, 3,…, n)
R
II. BẢO TRÌ
1. Khái niệm:
Bảo trì là một tập hợp các hoạt động bao gồm bảo quản trang thiết bị của một
hệ thống nhằm duy trì và phục hồi chúng đúng trật tự làm việc đã được định rõ.
Bảo trì được đặc trưng bằng các hoạt động phát hiện hư hỏng, kiểm tra và sữa
chữa.
Hư hỏng là sự suy thoái (hư hỏng một phần) hoặc ngừng hoạt động của một
thiết bị trong việc hoàn thành một chức năng yêu cầu.
2. Phân loại:
Bảo trì được chia thành 2 loại là bảo trì phòng ngừa và bảo trì hư hỏng
– Bảo trì phòng ngừa: bao gồm thực hiện việc kiểm tra thường kỳ và bảo
quản giữ các phương tiện còn tốt. Bảo trì phòng ngừa gồm 2 loại: bảo trì
phòng ngừa có hệ thống và bảo trì phòng ngừa có điều kiện
+ Bảo trì phòng ngừa có hệ thống: là công tác bảo trì được thực hiện theo một
hạn định thiết lập trước tùy thời gian và số lượng thiết bị sử dụng.
+ Bảo trì phòng ngừa có điều kiện: là công tác bảo trì được thực hiện khi có
sự cố được xác định trước bằng cách đo, chẩn đoán.
Ứng dụng khi:
+ Ít có biến động trong thời gian sử dụng, chúng ta biết được khi nào cần bảo
trì
+ Có một hệ thống khả năng cung cấp dư thừa khi có đề xuất cần bảo trì.
+ Bảo trì phòng ngừa được áp dụng khi chi phí bảo trì phòng ngừa ít tốn kém
hơn chi phí sữa chữa khi máy móc bị hư hỏng.
– Bảo trì hư hỏng: là sửa chữa khi thiết bị hư hỏng và việc sửa chữa phải
được thực hiện khẩn cấp hoặc ưu tiên thiết yếu.
Ứng dụng: Khi độ tin cậy không đạt được và bảo trì phòng ngừa không
thích hợp hoặc không được thực hiện.
3. Mục tiêu của bảo trì:
– Mục tiêu của bảo trì và sự tin cậy là giữ được khả năng của hệ thống trong
khi các chi phí kiểm soát được, hay nói cách khác là đưa thiết bị về trạng
phòng ngừa
Tổng chi phí
Chi phí
nhiều tiền và nhân lực vào bảo trì phòng ngừa sẽ giảm được số lượng sản phẩm hư
hỏng. Nhưng đến mức độ nào đó, chi phí bảo trì hư hỏng sẽ ít hơn chi phí bảo trì
phòng ngừa và đường cong tổng chi phí sẽ hướng lên. Xung quanh điểm tối ưu
này, công ty sẽ chờ đợi xảy ra hư hỏng rồi mới sửa chữa chúng.
b. Lựa chọn phương án bảo trì tối ưu:
- Bước 1: Tính toán số lượng hư hỏng kỳ vọng (căn cứ vào lịch sử quá
khứ),
- Bước 2: Tính toán chi phí hư hỏng kỳ vọng cho mỗi tháng khi không có
hợp đồng bảo trì phòng ngừa
- Bước 3: Tính toán chi phí bảo trì phòng ngừa
- Bước 4: So sánh 2 lựa chọn và chọn phương án bảo trì có chi phí thấp
hơn.
III. THẨM ĐỊNH SỰ TIN CẬY VÀ BẢO TRÌ:
Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện bảo trì:
Hiệu quả theo định nghĩa cổ điển:
Hiệu quả = kết quả đầu ra / đầu vào
Hiệu quả đối với trường hợp bảo trì:
Hiệu quả = đơn vị sản phẩm/số giờ bảo trì
Hiệu quả được thể hiện bằng năng suất của lực lượng bảo trì trên số lượng
trang thiết bị được bảo trì
Hiệu quả = số giờ công bảo trì/chi phí đầu tư trang thiết bị bảo trì
Hiệu quả của cá nhân và tập thể được thể hiện trong việc so sánh với các
giờ tiêu chuẩn
Hiệu quả = số giờ thực tế để thực hiện bảo trì/ số giờ chuẩn để thực hiện bảo trì