SKKN Một số biện pháp giúp học sinh yếu lớp 4C2 trường tiểu học Sơn Hiệp học tốt môn Toán phần số học - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YẾU LỚP 4C2 TRƯỜNG TIỂU HỌC
SƠN HIỆP HỌC TỐT MÔN TOÁN PHẦN SỐ HỌC”
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Một trong các mục tiêu mới và quan trọng của việc dạy học môn Toán ở tiểu học
hiện nay là giúp học sinh tích cực ứng dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán vào
giải quyết tình huống thường gặp trong đời sống hàng ngày.
Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cũng là một trong các giải
pháp được nhiều người quan tâm, nhằm đưa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học mới vào nhà trường tiểu học như: Dạy cá nhân, dạy học theo nhóm và dạy học thông
qua các trò chơi học tập dành cho môn Toán. Để giúp cho học sinh yếu nói chung và
lớp 4C2 nói riêng của Trường tiểu học Sơn Hiệp học tốt phần số học, thích đến trường
đồng thời giúp các em hiểu bài, nhớ bài được lâu hơn thì một trong những phương pháp
dạy học phù hợp nhất với học sinh yếu là phương pháp tổ chức dạy học thông qua các
trò chơi học tập.
Trò chơi học tập là một phương pháp cung cấp kiến thức hoặc củng cố khắc sâu
nội dung kiến thức của bài thông qua một trò chơi. Có thể tận dụng trò chơi học tập để
giúp các em nắm vững cách tính cộng trừ nhân chia trong phần số học toán lớp 4.
Trò chơi học tập là hình thức hoạt động rất phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của
học sinh tiểu học. Trò chơi phù hợp, gắn với nội dung bài, hấp dẫn sẽ có tác dụng tốt với
việc luyện phát âm của học sinh. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, trò chơi học
tập được coi là một nội dung học tập, một hoạt động không thể thiếu trong mỗi giờ học.
Như chúng ta đã biết bậc tiểu học là bậc học đầu tiên vô cùng quan trọng, trong
việc hình thành và phát triển nhân cách, văn hóa trong nhà trường cũng như trong xã
hội. Ngoài ra nó còn tạo nền móng ban đầu cơ bản và bền vững cho các em tiếp tục học
1
Sỏng kin kinh nghim
cỏc bc hc tip theo, hỡnh thnh c s ban u, ng nột ban u ca nhõn cỏch,
cng nh nhng gỡ thuc v hnh vi o c . . . c hỡnh thnh t lp 1 n lp 5 v
s theo sut cuc i hc tp ca cỏc em, nh c ỳng, vit ỳng chớnh t, k nng thc

kiến thức đã học vào những trờng hợp có liên quan vào đời sống thực tiễn của học sinh.
Mụn Toỏn l mụn hc úng mt vai trũ rt quan trng trong vic hỡnh thnh v
phỏt trin nhõn cỏch cho cỏc em. Qua vic dy , hc mụn Toỏn giỳp cho HS luyn tp ,
cng c , vn dng cỏc k thut v thao tỏc thc hnh cỏc kin thc ó hc , rốn luyn k
nng tớnh toỏn. Qua vic dy , hc mụn Toỏn ngi GV d dng phỏt hin c rừ hn
nhng gỡ HS ó lnh hi v nm chc , nhng gỡ HS cha nm chc cú bin phỏp giỳp
HS phỏt huy hoc khc phc. Qua vic dy , hc mụn Toỏn GV giỳp HS tng bc phỏt
trin nng lc t duy , rốn luyn phng phỏp v k nng suy lun , phỏn oỏn , Qua
vic dy , hc mụn Toỏn HS rốn luyn c ý chớ khc phc khú khn , thúi quen xột
oỏn cú cn c , tớnh cn thn , chu ỏo , c th , lm vic cú k hoch , cú kim tra kt
qu cui cựng . Tng bc hỡnh thnh v rốn luyn thúi quen v kh nng suy ngh c
lp , khc phc cỏch ngh mỏy múc , rp khuụn , xõy dng lũng ham thớch , tỡm tũi ,
Hc sinh yu kộm v Toỏn l nhng hc sinh cú kt qu v mụn Toỏn thng
xuyờn di mc trung bỡnh . Do ú vic lnh hi tri thc , rốn luyn k nng cn thit
i vi nhng hc sinh ny tt yu ũi hi tn nhiu cụng sc v thi gian hn so vi
nhng hc sinh khỏc . Vỡ vy ngi GV cn phi nm vng cỏc c im ca hc sinh
yu t ú ra cỏc gii phỏp phự hp nhm khc phc tỡnh trng yu kộm trong hc
Toỏn ca hc sinh .
2. Thc trng:
V phớa hc sinh ti trng Tiu hc Sn Hip s tip cn ting Vit ca hc sinh
dõn tc ch thụng qua s tip cn ỏp t.
Vn ting Vit ca hc sinh dõn tc khi hc ting Vit l khụng cú, hoc ch cú
mt s vn ting Vit ớt i. Cỏc em ó quen giao tip v t duy bng ting m ca
3
Sáng kiến kinh nghiệm
mình. Ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ - ngôn ngữ thứ nhất - đối với việc tiếp thu ngôn ngữ
thứ hai có thể ở mức độ tiêu cực khác nhau tuỳ thuộc vào sự tương đồng hay khác biệt
giữa hai ngôn ngữ. Nhưng nói chung, khi học tiếng Việt, học sinh dân tộc không thể
ngay một lúc, một lần mà phải làm quen dần với tiếng Việt từ ngữ âm đến ngữ nghĩa,
ngữ pháp.

tìm ở thương các em còn khó khăn trong chuyển đổi đơn vị đo khối lượng, đơn vị đo độ
dài vì các em chưa nhớ được tên các đơn vị đo, đơn vị nào đứng trước, đơn vị nào dứng
sau.
Giáo viên: Vì học sinh thường xuyên nghỉ học nên một số giáo viên thụ động
trong quá trình kèm cho các em. Thời gian dành cho các em học sinh yếu ở trên lớp quá
ít. GV chưa có được sự phối hợp nhịp nhàng với phụ huynh, với nhà trường. GV chưa
có được sự phối hợp nhịp nhàng với học sinh vì một số học sinh chưa nghe lời cô, về
nhà không chịu học bài. Chưa sử dụng nhiều hình thức tổ chức học tập để gây hứng thú
cho học sinh, Chưa mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy học để giúp các em nắm kiến
thức toán .
Các điểm trường còn xa chỗ ở của các em , các em không có phương tiện đi học
nên thường xuyên nghỉ học. Đồ dùng dạy học , phương tiện dạy học còn thiếu. Cở sở vật
chất còn thiếu thốn. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, địa phương, giáo viên chưa
thật sự nhịp nhàng.
Phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình . Hoàn cảnh
kinh tế gia đình khó khăn các em phải trường xuyên nghỉ học để phụ giúp gia đình . Sự
nhận thức về việc học của con em mình còn hạn chế .
Theo khảo sát chất lượng đầu năm (năm học: 2013 – 2014), học sinh yếu khối lớp
4 là 22 học sinh, riêng lớp 4C2 tổng số học sinh là 17 em, học sinh yếu là 7 học sinh,
chiếm tỉ lệ 41,2%.
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Bảng danh sách học sinh yếu lớp 4C2 gồm có các tên sau:
STT Họ và tên Điểm
1 Mấu Quốc Hưng 4
2 Cao Văn Quyến 3
3 Cao Trần Uy 4
4 Bo Bo Bảo 3
5 Tro Thị Duyên 2
6 Bo Bo Thị Mỹ Lan 3

+ Mức độ 2: Học sinh đọc được yêu cầu bài toán, xác định được yêu cầu bài toán
nhưng đặt tính chưa đúng, tính toán còn sai đối với các bài cộng, trừ, nhân, chia.
+ Mức độ 3: Xác định được yêu cầu đề bài, chưa thực hiện được các bài toán giải
đơn giản một phép tính.
Sau khi xác định mức độ yếu tôi phân chia theo nhóm mức độ và lên kế hoạch dạy
học cho từng nhóm mức độ yếu
Ở nhóm mức độ 1 tôi lập kế hoạch kèm cho học sinh 3 bài trong đó chú ý đến
phần xác định yêu cầu bài toán
Ví dụ: Bài toán yêu cầu Đặt tính rồi tính
Lần 1 tôi cho học sinh đọc nhẩm yêu cầu; lần 2 tôi cho đọc thành tiếng yêu cầu
bài; lần 3 tôi yêu cầu học sinh dùng bút chì vừa đọc và gạch chân dưới yêu cầu; lần 4 tôi
hỏi bài toán em vừa đọc yêu cầu làm gì? Qua 4 lần như vậy học sinh sẽ nhìn vào phần
minh gạch chân và nói được.
Sau khi học sinh xác định được yêu cầu bài toán đã cho, tôi hướng cho các em
bằng cách: bước đặt tính ta đặt như thế nào? Bước tính thì em dựa vào đâu để tính? Và
em tính bằng cách nào? Sau khi tính được kết quả em ghi kết quả ở đâu? Và ghi như thế
nào…
7
Sáng kiến kinh nghiệm
Với cách dẫn dắt cụ thể như vậy các em yếu ở nhóm mức độ 1 dần dần biết cách
thực hiện được.
Đối với nhóm yếu ở mức độ 2: Học sinh đọc được yêu cầu bài toán, xác định
được yêu cầu bài toán nhưng đặt tính chưa đúng, tính toán còn sai đối với các bài cộng,
trừ, nhân, chia.
Lần 1 tôi yêu cầu học sinh ghi phép tính ra giấy nháp và thực hiện: Khi thấy học
sinh đặt phép tính chưa ngay ngắn các số, các hàng với nhau tôi yêu cầu học sinh dùng
bút chì chỉ vào từng số và nêu được số nào ở hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị và yêu cầu
học sinh đặt lại phép tính theo cột dọc và các hàng thẳng với nhau (thực hiện đặt tính 3
lần và thi đua trong nhóm ai đặt tính đúng và nhanh được khen .)
Lần 2 tôi yêu cầu học sinh tính kết hợp với việc thuộc các bảng cộng , trừ , nhân ,

2. Tổ chức thi đua các nhóm yếu ở 3 mức độ yếu bằng cách tổ chức các trò
chơi và câu đố vui để học.
Một trong các mục tiêu mới và quan trọng của việc dạy học môn Toán ở tiểu học
hiện nay nói chung và môn Toán lớp 4 phần số học nói riêng là giúp học sinh tích cực
ứng dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán vào giải quyết tình huống thường gặp
trong đời sống hàng ngày. Đổi mới hình thức tổ chức dạy học cũng là một trong các giải
pháp được nhiều người quan tâm, nhằm đưa các hình thức tổ chức dạy học mới vào nhà
trường tiểu học như: Dạy cá nhân, dạy học theo nhóm và dạy học thông qua các trò chơi
toán học. Để giúp cho học sinh yếu lớp 4C2 thích học toán, thích đến trường đồng thời
giúp các em hiểu bài, nhớ bài được lâu hơn thì một trong những hình thức tổ chức dạy
học phù hợp nhất với đối tượng học sinh là hình thức dạy học thông qua các trò chơi
toán học.
Các thời điểm thích hợp để tổ chức trò chơi học tập cho học sinh yếu:
1. Sau khi hoàn thành một bài học: cách này có ưu điểm là kích thích được hứng
thú học tập của học sinh, giờ học tránh được không khí suy nghĩ căng thẳng, trở thành
giờ toán vui hết sức sinh động.
9
Sáng kiến kinh nghiệm
2. Sau khi hoàn thành một nhóm các chủ đề: với cách này sẽ giúp cho học sinh hệ
thống lại kiến thứcmột cách sinh động và hiệu quả.
Cần chú ý là việc tiến hành mỗi trò chơi không quá kéo dài để trẻ mất đi sự hứng
thú. Khi tổ chức các trò chơi phải sắp xếp các tình huống chơi sao cho tất cả mọi học
sinh của nhóm (hoặc lớp) đều được tham gia.
Cụ thể: Các trò chơi nhằm củng cố khái niệm: Đọc, viết, cấu tạo các số (Tự
nhiên; phân số)
1.1. Trò chơi 1: Ai đúng? Ai sai?
Yêu cầu: Nắm vững cách đọc, cách viết, cấu tạo các số tự nhiên đến lớp triệu.
Đối tượng chơi: Học sinh lớp 4 trong khoảng 5-7 phút.
Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị cho mỗi đội 10 tờ giấy khổ A4 để trắng, 5 bút lông.
Cô phát cho mỗi em 2 tờ giấy và 01 cây bút (chuẩn bị vào 1 tờ, ghi cách đọc của đội bạn

11
Sáng kiến kinh nghiệm
Với các quân bài được viết bằng số hoặc bằng chữ như sau:1.3. Trò chơi 3:
Yêu cầu: Nắm vững cách đọc, cách viết chữ số La mã, nhận dạng và nhẩm nhanh
giá trị của các số được ghi bởi các chữ số La Mã ( trong phạm vi 20 ).một số thập phân
đã cho.
Đối tượng chơi: Học sinh lớp 3,4 trong khoảng 5- 10 phút.
Chuẩn bị: Giáo viên chọn 2 đội, mỗi đội 5 em tham gia, các em điểm danh từ 1
đến 5 và xếp hàng đối diện, mỗi bạn có một bảng con và phấn viết. Hàng xếp theo sơ đồ:
Đội 1 giáo viên Đội 2
5 4 3 2 1 1 2 3 4 5
Luật chơi: GV cho 2 đội bốc thăm để xem đội nào được viết trước để đội kia đọc;
và bắt đầu tính giờ
Lần 1: Giả sử: đội 1 viết trước; khi đó bạn số 1 của đội 1 viết vào bảng con giơ
cho cả lớp xem rồi đưa cho bạn số 1 của đội 2 đọc cho cả lớp nghe, tiếp tục như thế cho
hết các cặp chơi. Đổi vai trò ngược lại đối với đội 2.
Lần 2: GV cho các bạn đội 2 đọc một số (trong phạm vi 100) và yêu cầu các bạn
có số tương ứng ở đội 1 phải viết ngay số bạn vừa đọc ( sau khi nghe đọc 3 lần ). Khi
12
1
3

9
4

3
2

giáo viên hô bắt đầu và tính giờ , thì cả hai đội cùng lần lượt từng bạn đi lên điền một số
thích hợp vào chỗ chấm của một phép tính, điền xong chạy ngay về vỗ tay vào bạn tiếp
theo, cứ thế cho đến bạn cuối cùng.
Cách đánh giá: Đội xong trước và có kết quả đúng là đội thắng cuộc chú ý đội
phạm quy ( bạn trên bảng chưa về, bạn ở dưới đã lên).
Ngoài việc sử dụng các trò chơi nêu trên, tôi còn dùng các câu đố vui để giúp các
em học yếu toán lớp 4 C2 Trường tiểu học Sơn Hiệp học tốt môn Toán phần số học.
Ví dụ:
13
Sỏng kin kinh nghim
a. em vit tip b. Nhng s ó vit
Vo dóy s sau: 0;15;30; S no chia ht
5 s ni nhau Cho c ba; nm?
Tỡm mau ko l S no chia thờm
Xong sau bn ci Cho hai v chớn?
Gii phỏp 3: Khi dy hc chng phõn s giỏo viờn chỳ ý cỏch hng dn
cho hc sinh cỏch ghi nh tớnh ỳng.
- Tụi hệ thống lại một số kiến thức có liên quan trong khi dạy bốn phép tính (phép
cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia) phần phân số cho học sinh. Trang bị cho học sinh
hệ thống những kiến thức cơ bản về khái niệm, quy tắc, tính chất phân số, thực hiện bốn
phép tính về phân số. Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các phép tình về phân số và t
duy thuật toán của học sinh. Luyện tập cho học sinh giải các bài toán có liên quan đến
kiến thức phần phân số mà học sinh dễ hiểu sai, tránh đợc những sai lầm trong khi làm
bài tập. Tập dợt cho học sinh lập kế hoạch giải toán theo 4 bớc, thực hiện kế hoạch giải
toán và kiểm tra kết quả khi giải các dạng toán có liên quan đến phân số.
- Chú ý đi sâu vào phân tích kỹ những sai lầm trong từng bài tập. Đa ra những bài
tập thể nghiệm , tạo ra các bẫy để học sinh bộc lộ những sai lầm của mình, trên cơ sở
đó kịp thời khắc phục sai lầm. Khi dạy học giải toán giáo viên nên thực hiện đầy đủ các
bớc một cách cụ thể để học sinh nắm kiến thức một cách đầy đủ, vững vàng. Khi dạy
xong phép trừ cũng nh phép chia giáo viên nên hớng dẫn các em thử lại kết quả dựa vào

S lng % S lng % S lng % S lng %
Toỏn 2 11.8 8 47.1 5 29.3 2 11.8
- p dng cỏc bin phỏp trờn , t l hc sinh yu Toỏn lp tụi gim rừ rt qua cỏc
t kim tra c th l : Kim tra cht lng u nm l : 41.2 % , kim tra gia hc kỡ I
l : 23.5 % , kim tra cui hc kỡ I l : 11.8 % .
15
Sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN 3 : KẾT LUẬN
1. Kết quả của việc ứng dụng Sáng kiến kinh nghiệm:
Là một giáo viên đã giảng dạy lớp 4 nhiều năm, tôi nghĩ cần phải tìm ra những
phương pháp giảng dạy tốt nhất đối với học sinh đại trà nói chung, và học sinh yếu nói
riêng. Sao cho với một lớp học với nhiều trình độ khác nhau giúp tất cả các em đều nắm
được những kiến thức căn bản và từ đó các em học tốt hơn ở những bài học sau. Giáo
viên phải có sự đầu tư nhất định thì mới mang lại hiệu quả cho việc giảng dạy.
Phần số học trong chương trình toán 4 là một trong những mảng kiến thức quan
trọng của tuyến kiến thức trọng tâm Phân số. Tuy nhiên, với đặc điểm tâm sinh lí của
học sinh yếu, việc lĩnh hội những kiến thức là vấn đề không đơn giản. Do vậy, tôi rất
mong sự góp ý chân tình của bạn lãnh đạo, chuyên môn, tổ khối và đồng nghiệp để tôi
có cái nhìn sáng suốt hơn, thấu đáo hơn nhằm giúp cho việc dạy dỗ của mình ngày càng
tốt đẹp hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.
2. Kết luận
- Tuy nhiên chúng ta biết rằng ở các bậc học phổ thông đặc biệt là bậc học Tiểu
học các môn học đều có liên quan mật thiết với nhau , bổ trợ cho nhau vì vậy muốn học
sinh học tốt môn Toán không chỉ tập trung lo cho môn Toán mà cần có sự phối hợp nhịp
nhàng giữa các môn học khác . Một học sinh chưa biết đọc hay đọc yếu thì không thể
học tốt môn Toán , hay một học sinh không có vốn sống thì càng lên cao càng khó có
thể hiểu được đề Toán … Vì vậy ngoài việc vận dụng những kinh nghiệm , những mẹo
riêng một cách khoa học người giáo viên cần phải có những hiểu biết chắc chắn về tâm
sinh lí của học sinh , về những nguyên tắc giáo dục , về phương pháp sư phạm cộng với

1. Cơ sở lý luận 2
2. Thực trạng 3
3. Một số biện pháp nhằm giúp học sinh yếu lớp 4C2 Trường tiểu học Sơn Hiệp học
tốt phần số học.
1. Giáo viên xác định mức độ học yếu về cộng trừ, nhân, chia, các số tự nhiên của
từng học sinh và sau đó phân chia từng mức độ cụ thể rồi lên kế hoạch dạy từng môn,
bài và cho từng hoạt động cụ thể 6
2. Tổ chức thi đua các nhóm yếu ở 3 mức độ yếu bằng cách tổ chức các trò chơi và
câu đố vui để học 9
* Giải pháp 3: Khi dạy học chương phân số giáo viên chú ý cách hướng dẫn cho học
sinh cách ghi nhớ để tính đúng…………………………………………………. 14
3. Những kết quả đạt được …………………………………………………… 15
PHẦN 3 : KẾT LUẬN
1. Kết quả của việc ứng dụng Sáng kiến kinh nghiệm ……………………. 16
2. Kết luận …………………………………………………………………. 16
3. Kiến nghị, đề xuất ………………………………………………………. 16
18
Sáng kiến kinh nghiệm
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status