I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân tộc Việt Nam có lịch sử lâu đời. Từ xưa, nhân dân ta đã coi trọng việc
lấy lịch sử để giáo dục thế hệ trẻ trong việc dựng nứoc và giữ nước. Năm 1941,
khi về nước Lịch sử nước ta” mở đầu bằng hai câu.
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Có thể khẳng định rằng, tác dụng của môn lịch sử không chỉ cung cấp kiến
thức về quá khứ mà còn có tác dụng về tình cảm, phẩm chất, đạo đức, quan điểm
chính trị, về nhận thức tư tưởng và khả năng hành động.
Thế nhưng trong nhiều năm qua, do những nguyên nhân khách quan và chủ
quan, chất lượng học tập lịch sử ngày càng giảm sút, đến mức báo động. Trong
thời gian gần đây, các cơ quan truyền thông đang nêu lên một thực trạng mà cả
xã hội quan tâm, đó là sự xuống cấp của bộ môn lịch sử trong ngành giáo dục:
Thái độ thờ ơ của học sinh đối với môn lịch sử và kết quả trong các kì tuyển
sinh, hàng ngàn bài thi môn lịch sử của học sinh không có điểm (điểm 0), những
bài thi “cười ra nước mắt” Với thực trạng đáng lo ngại đó, là một người giáo
viên giảng dạy môn lịch sử, tôi cảm thấy chạnh lòng và thấy mình cũng phải có
trách nhiệm. Thực trạng đó, khiến tôi suy nghĩ nhiều, làm sao để khắc phục tình
trạng đó và nâng cao nhận thức, kết quả học tập môn lịch sử.
Qua kinh nghiệm 12 năm công tác giảng dạy môn lịch sử và tìm hiểu thực
tế, tôi mạnh dạn quyết định viết đề tài: “Một vài biện pháp giúp học sinh phát
triển kỹ năng tự học và ghi nhớ kiến thức lịch sử cấp THPT”.
2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tên đề tài đã nói rõ phần nào về đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
sáng kiến kinh nghiệm. Đề tài trình bày những vấn đề về vai trò của giáo viên
1
trong dạy học môn lịch sử cÊp THPT và những biện pháp giúp học sinh phát triển
kĩ năng tự học và ghi nhớ kiến thức lịch sử. Người giáo viên phải xác định được
đối tượng người học và tìm hiểu cũng như nắm bắt, phân tích được tình hình
thực trạng để từ đó có những cách thức biện pháp trong đổi mới phương pháp
vấn đề tồn tại: Chúng ta thấy rằng từ sau chương trình đổi mới sách giáo khoa
“dung lượng” kiến thức nhiều mà “thời lượng” thì quá ít
Thứ ba, từ những nguyên nhân dẫn đến học sinh “ngán” - không hứng
thú với môn lịch sử, học lịch sử chỉ là để đối phó trong thi cử, nên đa số học
sinh, học lịch sử theo phương pháp “thuộc lòng” “máy móc” và còn nhiều
nguyên nhân khác nữa.
Chính những vấn đề đó mà có những bài thi của học sinh “cười ra nước
mắt”, những bài thi điểm 0.
2. CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1. Khái niệm.
* Khái niệm về Kỹ năng:
Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn {Từ điển
tiếng Việt}
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Các định nghĩa thường bắt
nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm của mỗi cá nhân. Tuy nhiên hầu
hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng
tri thức khoa học vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một
hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định
hướng rõ ràng.
3
Vậy, Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một
hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm)
nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
*Khái niệm về Tự học:
Người ta cũng có nhiều quan niệm về tự học, có người cho rằng: Tự học là
học riêng một mình ?
Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình học tập hoặc
hợp tác với bạn (nhóm) học, không có sự giảng dạy một cách trực tiếp của giáo
viên tự bản thân tìm tòi, lao động bằng tri óc để nắm bắt, hiểu một vấn đề, một
sự vật hiện tượng
giáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng thì giáo dục ý thức tự học một
cách thường xuyên theo một phương pháp khoa học cho HS là một nhiệm vụ
nặng nề của người thầy. Chỉ có dạy cách học và học cách tự học, tự học sáng tạo
mới đáp ứng được yêu cầu cao của sự phát triển xã hội.
Học sinh THPT đang trong lứa tuổi phát triển mạnh về thể chất hình thành
những phẩm chất mới về trí tuệ, nhân cách thuận lợi để hình thành năng lực tự
học vì vậy giáo viên phải rèn luyện năng lực tự học để từng bước hình thành kỹ
năng tự học cho họ, đây cũng là vấn đề cốt lõi trong đổi mới cách dạy học hiện
nay.
Trong xu thế phát triển của thời đại và công cuộc cải cách giáo dục của Bộ
Giáo dục và đào tạo, ngành giáo dục hiện nay xác định học sinh là trung tâm, là
người chủ động tích cực và sáng tạo, người giáo viên chỉ đóng vai trò là người
điều khiển hướng dẫn học sinh học tập Với việc xác định học sinh là trung tâm,
giáo viên là người điều khiển, hướng dẫn học sinh thì người giáo viên đóng vai
trò hết sức quan trọng, đó là người giáo viên phải nắm vững kiến thức của toàn
5
bộ chương trình và phải lập được kế hoạch giảng dạy khoa học mang tính bao
quát và cụ thể - đặc biệt là giáo án trong từng tiết dạy
2.3. Một số lưu ý khi học sinh tự học.
Việc tự học của học sinh là rất quan trọng và đóng vai trò cao trong kết
quả học tập của học sinh. Tuy nhiên, khi mới áp dụng cách học này học sinh còn
gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ và nhiều khi cảm thấy không hiệu quả bằng cách
học truyền thống là thầy đọc - trò chép và về nhà chỉ việc học thuộc lòng những
gì thầy cô cho ghi tại lớp. Cho nên, trong quá trình tự học, học sinh cần lưu ý
một số vấn đề.
- Trước hết, học sinh cần nắm rõ thế nào là tự học; tự học là một chu trình
3 giai đoạn: Tự nghiên cứu, tìm tòi- Tự thể hiên- Tự kiểm tra và điều chỉnh. Chu
trình này thực chất là con đường phát hiện vấn đề, định hướng cách giải quyết và
giải quyết vấn đề học tập.
- Thứ hai, học sinh cần xác định mục tiêu, nội dung học tập. Mục tiêu là
thường có ý nghĩa dân tộc và quốc tế, ý nghĩa dân tộc thường có hai ý nhỏ là kết
thúc cái gì và mở ra cái gì; ý nghĩa quốc tế cũng có hai ý nhỏ là tác động đến thù
và bạn như thế nào. Cụ thể, khi học về ý nghĩa thắng lợi của cuộc mạng tháng
Tám 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) hay cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước (1954-1975) chúng ta đều nhận thấy những điểm chung như
vậy.
Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng Pháp (1945-1954), có các ý: Đảng và
Bác Hồ, nhân dân, hậu phương và quốc tế.
Trên cơ sơ các ý cơ bản đã chọn, lập dàn ý sơ đồ hóa kiến thức, học sinh
tập diễn đạt theo ngôn ngữ của mình. Khi mới học theo phương pháp này học
sinh sẽ gặp nhiều khó khăn như trình bày bài dòng,vấp váp và có khi thiếu chính
7
xác, có thể diễn đạt sai kiến thức. Tuy nhiên, khi đã tập học theo cách này nhiều,
thuần thục trở thành kỹ năng thì rất dễ học, dễ nhớ và nhớ lâu. Nhà giáo dục
Geoffrey Petty người Anh cho rằng: “Đọc vở ghi chép hay nghe những lời tóm
tắt chưa đủ, chính tập nhớ lại mới có tác dụng. Các kỹ năng trí tuệ và thể chất
cũng được lưu giữ tốt nhất bằng cách dùng đi dùng lại, chứ không phải bằng
những phương pháp thụ động”. Khi học tập bằng phương pháp này học sinh
cũng cần tự tổ chức các buổi học nhóm- chỉ cần hai học sinh truy bài cho nhau
để kiểm tra nhau và tự điều chỉnh.
3.2. So sánh .
So sánh cũng là cách học hiệu quả để ghi nhớ kiến thức, trong lịch sử có
những đơn vị nội dung kiến thức tương đồng hoặc tương phản Học sinh có thể
so sánh về đơn vị nội dung kiến thức, về sự kiện, số liệu, các nhân vật lịch sử, so
sánh về thuật ngữ gần giống nhau nhưng nội dung hoàn toàn khác nhau so sánh
theo cặp phạm trù hoặc lập bảng và điều đó giúp học sinh tránh tình trạng “râu
ông nọ cắm cằm bà kia” trong trình bày - diễn đạt. Với cách học này, học sinh
chúng ta đưa các nội dung kiến thức lại gần với nhau từ đó nhận rõ hai nội dung
đơn vị kiến thức đó có điểm gì chung nhất và điểm khác biệt nào cần nhớ rõ, từ
đó học sinh có thể học một mà biết được hai và đạt hiệu quả cao hơn.
1.Áp dụng thành tựu KHKT
2.Con người được coi là vốn quý
nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu
(Con người)
3.Chi phí cho quốc phòng thấp
4.Các công ty Nhật năng động, có
tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm
lực và tính cạnh tranh cao
5.Vai trò lãnh đạo, quản lý có hiệu
quả của Nhà nước
6.Tận dụng các yếu tố bên
ngoài:nguồn viện trợ
Từ bảng so sánh trên, học sinh có thể nhận thấy rằng nguyên nhân phát triển
kinh tế Mỹ và Nhật Bản sau năm 1945 cơ bản là giống từ 1,3,4,5 (6), chỉ có
nguyên nhân thứ 2 là có sự khác biệt: Mỹ (điều kiện tự nhiên thuận lợi); Nhật
Bản (Con người là vốn quý- kỷ luật lao động, năng động, sáng tạo, giàu nghị
lực )
9
Trong quá trình học và tự học chúng ta cần có sự so sánh để dễ dàng chiếm
lĩnh tri thức; ví dụ: Cương lĩnh chính trị (2/1930) với Luận cương (10/1930);
Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) với Hiệp định Pari (27/1/1973), Tổ chức Liên
Hợp quốc với tổ chức ASEAN
Học lịch sử có rất nhiều số liệu và ngày tháng khó nhớ, nhưng chúng ta nếu
biết vận dụng tìm những điểm chung tương đối và đưa ra so sánh thì một số sự
kiện ghi nhớ rất đơn giản. Ví dụ, từ khi Đức đánh bại Pháp (22/6/1940) đến khi
Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941) là đúng một năm trời và một năm cũng là thời
gian từ khi tướng Nava được cử làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông
Dương (7/5/1953) đến khi tướng Đờ Cátơri đầu hàng ở Điện Biên phủ
(7/5/1954). Số người chết và bị thương trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ
hai lần lượt là: Lần 1: 10 - 20 triệu ; lần 2: 60 - 90 triệu
nhớ các yếu tố này phải có trật tự, logic và phải chính xác nữa. Vì vậy, trong quá
trình học, mỗi häc sinh cần tùy vào khả năng và hoàn cảnh để ghi nhớ sao cho
hiệu quả. Chẳng hạn, để nhớ được lâu các sự kiện và các mốc thời gian trong
một bài học, có thể ghi ra một tờ giấy hoặc sổ tay để khi cần thiết có thể tranh
thủ học.
Khi học ôn, học sinh cần sử dụng kỹ năng tái hiện và xác lập mối quan hệ giữa
bài đang học với kiến thức của các bài đã học để không rơi vào việc quên kiến
thức cũ, chẳng hạn khi học lịch sử giai đoạn từ 1961- 1975, ta nên so sánh ba
chiến lược chiến tranh theo tiến trình học tập để khắc sâu kiến thức. Trong học
ôn môn Lịch sử, không phải ai cũng có khả năng nhớ chi tiết các ngày tháng, con
số. Do đó, mỗi học sinh nên tập cho mình cách ghi nhớ mang tính “tương đối”.
Tức là trong sự kiện hoặc một chiến dịch nào đó, ta không nhất thiết phải nhớ cụ
11
thể ngày, giờ mà chỉ cần nhớ tháng, năm hoặc là khoảng thời gian trong năm xảy
ra sự kiện đó. Ví dụ: đầu năm 1945, cuối năm 1945, thu-đông năm 1947 Tuy
nhiên những sự kiện lớn, quan trọng của tiến trình lịch sử thì bắt buộc phải nhớ
như: Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03-02-1930), ngày Bác Hå đọc
bản Tuyên ngôn độc lâp (02-9-1945) hoặc ngày giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước (30- 4-1975)…
3.6. Hệ thống hóa lại kiến thức.
Sau khi học bài xong, học sinh cần kiểm tra và hệ thống hóa lại kiến thức bài
học một lần nữa, nếu cảm thấy chưa đạt thì phải có biện pháp khắp phục ngay.
Đây là khâu quan trong đối với các môn khoa học xã hội, bởi nếu ta học xong
mà không hệ thống hóa kến thức sẽ dẫn đến tình trạng “học trước quên sau”,
“râu ông nọ cắm cằm bà kia” Thao tác này cũng giúp cho thí sinh có cách nhìn
tổng thể, khách quan về các chặng đường, giai đoạn lịch sử và rút ra những kỹ
năng nắm bắt, so sánh, lý giải. Từ đó, sẽ giải quyết được những yêu cầu của nội
dung bài học.
3.7. Thực hành, luyện tập.
Thực hành luyện tập được ví như chiếc cầu “đưa tri thức chuyển tới năng
Kết quả học tập môn lịch sử của học sinh khối 11 năm học 2010-2011
T
T
Lớp
Số
HS
Xếp loại học lực
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
1 11A1 40
1 3% 8 20% 26 65 5 12% 0 0
2 11A2 36
0 0 5 14% 24 67% 7 19% 0 0
3 11A3 39
0 0 6 15% 25 65% 8 20% 0 0
Kết quả học tập môn lịch sử của học sinh khối 11 năm học 2011-2012
13
T
T
Lớp
Số
HS
Xếp loại học lực
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
1 11C1 42
1 2% 12 29% 25 59% 4 10% 0 0
2 11C2 39
0 0 9 23% 24 69% 3 8% 0 0
3 11C3 41
Thiệu Hóa, Ngày 26 tháng 4 năm 2012
Người viết
Lê Minh Thành
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo khoa lịch sử lớp 10;11;12- nhà xuất bản giáo dục
2.Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá thụng tin, 2001,
3.Hồ chí Minh toàn tập
4.Phương pháp dạy học lịch sử
( tác giả: Phan Ngọc Liên; Trần Văn Trị) NXB giáo dục
5.Tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình SGK.NXB giáo dục.
6.Các tài liệu khác có liên quan.
MỤC LỤC
16
I. Phần mở đầu Trang 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1-2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
II. Phần nội dung 2
1. Thực trạng 2
1.1. Thuận lợi 3
1.2. Khó khăn 2-3
2. Cơ sở lý luận 3
2.1. Khái niệm 3-4
2.2. Sự cần thiết phải phát triển kỹ năng tự học của học sinh trong nhà trường
phổ thông 5-6
2.3. Một số lưu ý khi học sinh tự học 6
3. Biện pháp 6
3.1. Tìm ý cơ bản và tập diễn đạt các ý bằng ngôn ngữ của mình 6-7
3.2. So sánh 8-10