Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu......................................................................................... 3
I. Khái quát chung............................................................................. 5
1. Gi ới thiệu về luật biển quốc tế..................................................... 5
2. Khái quát chung về nguyên tắc tự do biển cả và nguyên tắc đất
thống trị biển.................................................................................................6
II. Vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và nguyên tắc đất thống trị
biển .......................................................................................................13
1. Nguyên tắc tự do biển cả...............................................................13
1.1. Vai trò..........................................................................................13
1.2. Đánh giá......................................................................................26
2. Nguyên tắc đất thống trị biển.......................................................27
2.1. Vai trò..........................................................................................27
2.2. Đánh giá......................................................................................33
3. Mối quan hẽ giữa hai nguyên tắc..................................................33
III. Thực tiễn của việc áp dụng nguyên tắc tự do biển cả và nguyên tắc
đất thống trị biển..........................................................................................34
1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tự do biển cả .............................34
2. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc đất thống trị biển.......................38
IV. Kết luận........................................................................................48
1
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
LỜI MỞ ĐẦU
Biển chiếm gần 71% bề mặt trái đất của chúng ta và ngày càng có một vai
trò quan trọng trong đời sống của các quốc gia, các dân tộc. Biển có một mạng lưới
giao thong thuận tiện ,một nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và quý giá đối với
đời sống của con người.Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và
nhu cầu phát triển kinh tế của các dân tộc đã thúc đẩy các quốc gia tích cực tham
các quốc gia thông qua nguyên tắc “đất thống trị biển”.Chính những điều đó đã góp
phần không nhỏ trong sự phát triển loài người.
3
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
I. KHÁI QUÁT CHUNG:
1. Giới thiệu về luật biển quốc tế:
1.1. Khái niệm:
Luật biển là một trong những ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
quốc tế xuất hiện từ thời xa xưa và có vai trò quan trọng trong đời sống quan hệ
quốc tế.Lúc đầu mới hình thành,luật biển tồn tại dưới dạng những tập quán quốc tế
chỉ được một số ít quốc gia thừa nhận và vận dụng.Về sau,trải qua thời gian dài hợp
tác và đấu tranh giữa các quốc gia, Luật biển ngày càng phát triển và hoàn thiện tạo
nên môi trường pháp lý cho cộng đồng quốc tế trong việc quản lí, khai thác và sử
dụng biển có hiệu quả, điển hình là sự ra đời của các công ước quốc tế lớn về luật
biển như công ước quốc tế về luật biển năm 1958,năm 1982 và các quy phạm tập
quán hiện hành.
Luật biển trước hết là một ngành luật điều chỉnh trong việc sử dung và quản
lý không gian biển.Ở khía cạnh này luật biển quy định quyền hạn và nghĩa vụ của
các quốc gia(có biển hoặc không có biển), điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các
quốc gia và các chủ thể khác ở những vùng biển với các chế độ pháp lý khác
nhau.Mặt khác, luật biển cũng là một ngành luật mang tính chức năng.Các chức
năng này phát triển và thay đổi cùng với sự phát triền các quan hệ quốc tế trong lĩnh
vực biển.Một thời gian dài các chức năng này gắn liền với việc thực thi chủ quyền
trên một vùng biển hẹp như chiến tranh và xung đột vũ trang,đăng kí quốc tịch cho
tàu thuyền,…dần dần các thẩm quyền nhà nước được mở rộng ra phía biển và được
bổ sung thêm những chức năng mang tính cộng đồng như:bào vệ môi trường biển,
nghiên cứu khoa học biển,…
Một cách khái quát có thể định nghĩa Luật biển quốc tế là một ngành luật
độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm những nguyên tắc, quy phạm điều
quốc gia đối với biển cả bị loại bỏ.
5
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
Luận cứ của học thuyết này bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của biển cả, đó là
tính động, tính lỏng, tính thống nhất, tính không cạn kiệt của tài nguyên (theo quan
niệm của thời kỳ đó) và Luật tự nhiên. Cách tiếp cận của thuyết Biển tự do là để đi
đến khẳng định, các quốc gia có quyền tự do thương mại quốc tế thông qua đường
biển. Theo lập luận của thuyết biển tự do thì biển cả được để mở, không hạn chế về
hàng hải.
Sau thế chiến thứ hai, quá trình pháp điển hóa luật quốc tế diễn ra mạnh mẽ,
quan điểm tự do biển cả cũng từ đó mà được các học giả, các tuyên bố đơn phương
của các quốc gia và thực tiễn khẳng định và phát triển:
- Tại phiên họp thứ 22 của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào 17/08/1962,
Arvid Pardo Đại sứ Malte đã đưa ra tư tưởng coi vùng đáy đại dương nằm ngoài
vùng tài phán quốc gia là di sản chung của nhân loại.
- Nghị quyết 2479 (XXV) ngày 17/12/1970 có nội dung tuyên bố về các
nguyên tắc quản lý đáy biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm
ngoài ranh giới quyền tài phán quốc gia.
- Phán quyết của Tòa án pháp lý quốc tế: Nguyên tắc tự do thông
thương hàng hải và nghĩa vụ của mọi quốc gia không được sử dụng lãnh thổ của
mình nhằm mục đích chống lại quyền của các quốc gia khác (Vụ eo biển Corfou
ngày 09/04/1949 giữa Anh – Albani)
- Hội nghị pháp điển hóa lần thứ nhất của Liên hợp quốc về luật biển
năm 1958 tại Geneve đã cho ra đời hai công ước:
+ Công ước về biển cả (hiệu lực từ ngày 30/09/1962) với 52 quốc gia phê
chuẩn
+ Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật biển (hiệu lực từ
ngày 02/03/1966) với 36 quốc gia phê chuẩn.
- Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về luật biển được triệu tập tại
New York với nhiều vòng đàm phán, từ năm 1973 đến năm 1982. Ngày 10/12/1982,
lại trên biển cả và thẩm quyền tài phán đối với tàu thuyền khi hoạt động trên biển
7
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
cả.Tàu thuyền một nước nhất định không phải chịu sự tài phán của một quốc gia
khác, trừ quốc gia mà tàu mang quốc tịch, khi hoạt động trong vùng biển cả.
- Tự do hàng không: Đây là quyền tự do được bổ sung tiếp theo trong
quá trình phát triển Luật biển quốc tế, đồng thời được thừa nhận là nguyên tắc
chuyên biệt của luật hàng không quốc tế. Theo nguyên tắc này, trong vùng trời quốc
tế, các phương tiện bay của tất cả các quốc gia đều có quyền tự do hàng không.
Đồng thời, khi hoạt động ở vùng trời quốc tế, phương tiện bay chỉ chịu thẩm quyền
tài phán của quốc gia đăng tịch phương tiện bay, phát sinh từ cơ sở pháp lý của
nguyên tắc thẩm quyền phương tiện bay.Đây là thẩm quyền riêng biệt. Tuy vậy,
quyền tự do hàng không cũng có những giới hạn nhất định, đó là trong thời gian bay
trong không phận quốc tế, các phương tiện bay phải chấp hành và tuân thủ nghiêm
chỉnh các quy định, các yêu cầu về an ninh hàng không được ghi nhận trong điều
ước quốc tế về hàng không cũng như các văn bản do tổ chức hàng không quốc tế
ban hành. Tất cả các quốc gia phải áp dụng các biện pháp an ninh an toàn hàng
không cho các phương tiện bay của mình, tuân thủ nghiêm túc các quy định của luật
hàng không quốc tế.
- Tự do đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm: quyền tự do đặt dây cáp và
ống dẫn ngầm được vận dụng chủ yếu từ sau thế chiến thứ hai.Quyền này được hiểu
rộng hơn, là bao gồm cả việc bảo vệ và nghiêm cấm phá hoại dây cáp và ống dẫn
ngầm được đặt dưới biển.Quốc gia đặt dây cáp và ống dẫn ngầm có nghĩa vụ phải
đặc biệt quan tâm đến tình trạng của chúng đã được xây dựng ở dưới đáy biển,
không được gây cản trở cho quá trình sửa chữa các dây cáp và ống dẫn ngầm hiện
có.
- Tự do đánh bắt hải sản các quốc gia có quyền tự do đánh bắt tài
nguyên sinh vật biển.Tàu thuyền và công dân của mỗi quốc gia có thể sử dụng mọi
nguồn tài nguyên thiên nhiên của biển. Trên khu vực biển cả có thể đánh bắt hải sản
tùy theo khả năng của con người, vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn và với bất
nóng bỏng của thời đại liên quan đến các lợi ích về chính trị, kinh tế , an ninh quốc
phòng,… Đã có rất nhiều cuộc chiến trong việc phân chia lợi ích trên biển, các vấn
9
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
đề nảy sinh liên quan đến vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven
biển.
Trước đây, không hề có quan niệm nào về vấn đề “ đất thống trị biển “, mãi
cho đến năm 1969, khi 6 quốc gia vùng Bắc Cực tranh chấp vùng Biển Bắc. Lần
đầu tiên người ta bắt đầu quan tâm đến chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia
ven biển.
Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 đã chính thức ghi nhận vấn đề
này và nó trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng xác định chủ quyền và
quyền chủ quyền của quốc gia ven biển – nguyên tắc đất thống trị biển. Nhờ có
nguyên tắc này, mà người ta có thể xây dựng chế độ pháp lý quốc tế của các vùng
biển mà quốc gia có chủ quyền và quyền chủ quyền.
b. Nội dung:
Đất thống trị biển là sự thể hiện của học thuyết Res nullius.Theo nguyên tắc
này, các quốc gia ven biển được hưởng chủ quyền và quyền chủ quyền ở các vùng
biển lân cận.Điều 2 Công ước quốc tế về luật biển 1982 quy định: “lãnh thổ là điều
kiện tien quyết để mở rộng lãnh thổ quốc gia ra vùng lãnh hải và các vùng khác như
vùng nước quần đảo.Hay như điều 49 Công ước 1982 quy định về quyền được mở
rộng chủ quyền của ra các vùng nước quần đảo của quốc gia vùng đảo phải dựa trên
chủ quyền của quốc gia đó trên các đảo của mình.Nguyên tắc này còn thể hiện trong
sự phân định bằng yêu cầu không được sửa chữa lại tự nhiên theo đó mỗi quốc gia
được quyền hưởng phần kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ của mình ra biển.
Theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982:
- Vùng biển mà quốc gia có chủ quyền: vùng nội thủy, vùng lãnh hải;
- Vùng biển mà quốc gia có quyền chủ quyền: vùng tiếp giáp lãnh hải,
vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.
Thềm lục địa ( Continental shelf ): thềm lục địa nói nôm na là cái nền
của lục địa. Nó bắt đầu từ bờ biển, kéo dài thoai thoải ra khơi và ngập dưới nước,
đến một chỗ sâu hẫng xuống thì hết thềm. Thực tế ở nơi nào bờ biển bằng phẳng thì
vùng đáy biển này trải ra rất xa. Ở nơi nào bờ biển khúc khuỷu, vùng này co hẹp lại
gần bờ hơn (như ven biển miền Trung Việt Nam từ bờ ra ngoài khoảng 50 km (hơn
26 hải lý) thì thụt sâu xuống hơn 1.000 m). Các nhà địa chất học gọi vùng đáy biển
thoai thoải đó là thềm lục địa. Vùng đó kéo dài đến đâu thì thềm lục địa của nước
đó ra đến đó; không kể độ sâu là bao nhiêu. Vì thềm lục địa là sự mở rộng tự nhiên
11
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
của lục địa đất liền ra biển, là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ quốc gia ven biển,
cho nên nó thuộc về quốc gia ven biển. Về mặt pháp lý quốc tế, Công ước về Luật
biển năm 1982 định nghĩa: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ
phận kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa
lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi
bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (khoản 1 Điều 76).
Phạm vi áp dụng nguyên tắc đất thống trị biển là các vùng biển mà quốc gia
ven biển có chủ quyền: vùng nội thủy và vùng lãnh hải; vùng mà quốc gia ven biển
có quyền chủ quyền: vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa.
II. VAI TRÒ CỦA NGUYÊN TẮC TỰ DO BIỂN CẢ VÀ NGUYÊN
TẮC ĐẤT THỐNG TRỊ BIỂN:
1. Nguyên tắc tự do biển cả:
1.1. Vai trò của nguyên tắc tự do biển cả :
Nguyên tắc tự do biển cả không chỉ thể hiện trong quy chế pháp lý của biển
cả và vùng mà còn thể hiện trong quy chế pháp lý của các vùng biển khác. Trong
các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của
quốc gia, các vùng biển đặc thù vẫn tồn tại nguyên tắc này, nhưng mức độ ảnh
hưởng của nguyên tắc tự do biển cả đối với việc hình thành quy chế pháp lý các
một công trình cảng ở ngoài nội thuỷ (khoản 1)
- Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm
cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông
thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục
đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn
(khoản 2)
13
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
Điều 19 Công ước 1982 cũng giải thích nghĩa của thuật ngữ “đi qua không
gây hại”: “không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh quốc gia ven
biền. Việc đi qua không gây hại cần phải được thực hiện theo đúng quy định của
Công ước và các quy tắc khác của Luật quốc tế”.
Việc qua lại được coi là không gây hại chừng nào nó không làm phương hại
đến hoà bình, trật tự, môi trường sinh thái hoặc an ninh của quốc gia ven biển, nếu
như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sau
đây:
a) Đe doạ hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc
lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc
của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;
b) Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;
c) Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia
ven biển;
d) Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven
biển;
e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;
f) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;
g) Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống hàng trái với các
luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;
h) Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;
i) Đánh bắt hải sản;
Cấu trúc của nội thủy dưới góc độ luật quốc tế gồm có: Vịnh thiên nhiên,
vịnh lịch sử và vùng nước lịch sử, cảng biển, vũng đậu tàu, cửa sông.
Ảnh hưởng của nguyên tắc tự do biển cả đối với nội thủy rất hạn chế.Trong
vùng nước nội thuỷ, mặc dù quốc gia ven biển có chủ quyền tuyệt đối, hoàn toàn và
đầy đủ như trên đất liền.Tuy nhiên, chủ quyền này chỉ được áp dụng đối với con tàu
chứ không phải đối với cá nhân, pháp nhân, người nước ngoài ở trên tàu đó.Bất kỳ
tàu thuyền nào của nước ngoài muốn vào nội thủy của nước ven biển đều phải xin
phép trước và có sự cho phép của quốc gia ven biển mới được vào.Các tàu thương
15
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
mại vào cảng biển quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tự do thông thương và có đi có
lại,thường phải đến một địa điểm quy định trước làm các thủ tục an ninh, hải quan,
vệ sinh y tế của nước ven biển và sau khi được phép sẽ vào cảng biển theo sự
hướng dẫn của hoa tiêu hàng hải nước này.
Trên tàu thuyền cũng tồn tại chế độ lãnh thổ nổi.Các tàu thuyền nước ngoài
đặt dưới thẩm quyền tương đối của quốc gia ven biển về trật tự, an ninh, cảnh sát, y
tế, hàng hải.
Ngoài ra, trong vùng nước nội thuỷ quốc gia ven biển không được thực hiện
quyền tài phán hình sự và dân sự trên tàu, nếu có sự vi phạm thì chỉ phải chịu xử
phạt vi phạm hành chính hoặc bồi thường thiệt hại. Quốc gia ven biển chỉ được thực
hiện quyền tài phán hình sự, dân sự trong các trường hợp: khi chủ tàu, thuyền
trưởng yêu cầu; cơ quan lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu can thiệp
hoặc khi sự vi phạm hoặc hậu quả của sự vi phạm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật
tự công cộng của quốc gia ven biển.
Tàu nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại và tàu quân sự được hưởng
quyền miễn trừ.Thẩm quyền tài phán hình sự với các tàu này trong một số trường
hợp:
- Vi phạm xảy ra trên boong tàu:
+ Chủ hành vi thuộc thủy thủy đoàn thì quyền tài phán thuộc về quốc gia tàu
mang cờ
đều do các quy định thích hợp của Công ước điều hành (Điều 55 Công ước).
Dưới sự ảnh hưởng của nguyên tắc tự do biển cả thì trong vùng đặc quyền
kinh tế của một quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia khác, dù có biển hay không
có biển đều được hưởng các quyền (Theo quy định tại Điều 58 Công ước 1982):
- Tự do hàng hải,
- Tự do hàng không,
- Tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.
17
Đánh giá vai trò của nguyên tắc tự do biển cả và đất thống trị biển Nhóm 9
- Tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế
và gắn liền với việc thực hiện các quyền tư do này và phù hợp với các quy định
khác của Công ước 1982, nhất là trong khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền,
phương tiện bay và dây cáp,ống dẫn ngầm.
Các quốc gia khác muốn nghiên cứu khoa học trong vùng này phải được
sự dồng ý của các quốc gia ven biển. Đồng thời khi hoạt động trong vùng đặc quyền
kinh tế các quốc gia khác phải tôn trọng pháp luật của quốc gia ven biển và những
quy địng của pháp luật quốc tế.
Quốc gia ven biển không được phép viện dẫn bất kỳ lý do gì để cản trở
việc thực hiện những quyền này, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng và đảm bảo cho
tàu thuyền nước ngoài thực hiện những quyền tự do trên.
Đặc biệt Công ước 1982 đã dành cho các quốc gia không có biển hoặc
bất lợi về địa lý được quyền tham gia vào việc khai thác số cá dư trong các vùng đặc
quyền kinh tế của các quốc gia ven biển cùng phân khu vực hoặc khu vực. Tuy
nhiên quyền này chỉ được thực hiện khi quốc gia ven biển không có khả năng khai
thác sản lượng cá và cho phép nước ngoài vào đánh bắt số cá thừa theo những điều
kiện được các bên hữu quan thực hiện.
Như vậy,trong vùng đặc quyền kinh tế cũng tồn tại quyền khai thác tài
nguyên sinh vật của các quốc gia khác (là một quyền trong nguyên tắc tự do biển),
nhưng quyền này chỉ mang tính hạn chế vì nó phụ thuộc vào việc nước ven biển có
công bố tồn tại một dư lượng tài nguyên sinh vật hay không, và phụ thuộc vào việc
do đi lại và thẩm quyền tài phán đối với tàu thuyền khi hoạt động trên biển cả.
Trước hết, đó là việc cho phép xác định quyền tự do đi lại của tất cả các loại
tàu thuyền của quốc gia trên khu vực biển cả ở bất kỳ khu vực nào mà họ
muốn. Các tàu thuyền khi hoạt động trên biển cả có địa vị pháp lý ngang bằng nhau
và chỉ chịu thẩm quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ. Như vậy, khi hoạt
động trên biển cả, tàu thuyền chỉ tuân theo “ luật của nước mà tàu treo cờ”, theo đó,
các quyền kiểm soát tàu thuộc về tàu chiến và tàu cảnh sát của quốc gia mà tàu
thuyền mang cờ. Trong trường hợp xảy ra tai nạn đâm hay bất kỳ sự cố hàng hải
nào trên biển cả, mà trách nhiệm hành chính hay hình sự rơi vào bất kỳ thành viên
19