TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VĂN HÓA ẨM THỰC PHƯƠNG ĐÔNG - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
o0o
Tiểu luận:
MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài :
TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN VĂN HÓA
ẨM THỰC PHƯƠNG ĐÔNG
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
Người thực hiện: Tạ Thị Lan Hương
Số thứ tự: 41
Nhóm: 3
Lớp: Cao học Khóa 23 - Đêm 1

TPHCM, tháng 12 năm 2014
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG GIA 1
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG GIA ĐẾN VĂN HÓA ẨM
THỰC PHƯƠNG ĐÔNG 6
KẾT LUẬN 11
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ khi ra đời, triết lý âm dương đã được người phương Đông đặc biệt là
Trung Quốc và Việt Nam, vận dụng trong các lĩnh vực của đời sống: từ nhận thức
về vũ trụ đến nhận thức về con người, từ ứng xử với môi trường tự nhiên đến ứng
xử với môi trường xã hội. Có thể khẳng định rằng , Triết lý âm dương gia đã đóng
vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống của người Phương Đông. Vì vậy,
nghiên cứu học thuyết âm dương gia là một cách để chúng ta có thể qua trở về cội

khí dương và một nét đứt ( ) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm.
Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách
"Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại
phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một
dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược
Sau này, các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã
kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam" ("Phương Nam"
ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt
Nam). Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các
cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân
tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh
hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam.
1.2. Nội dung tư tưởng âm dương
Học thuyết âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực phương Đông 1
Nội dung cơ bản của lí luận âm dương chủ yếu thể hiện trong nguyên lí âm
dương bao gồm:
- Âm là phạm trù đối lập với dương bao gồm các yếu tố như: mẹ, số chẵn, hình
vuông, tĩnh, chậm, hướng nội, ổn định, mùa đông, phương bắc, lạnh…
- Dương là phạm trù đối lập với âm bao gồm các yếu tố như: cha, số lẻ, hình
tròn, động, hướng ngoại, phát triển, mùa hạ, phương nam, nóng…
Triết lý âm dương gồm hai quy luật cơ bản:
- Quy luật về thành tố (tính phân chia vô cùng): Không có gì hoàn toàn âm
hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm, không ngừng
phân chia một thành hai, cho đến vô cùng. Trong cái nắng tiềm ẩn cái mưa, trong
cái mưa tiềm ẩn cái nắng, trong lòng đất âm chứa cái dương nóng. Quy luật này
cho thấy rằng một vật âm hay dương chỉ là tương đối trong sự so sánh với một vật
khác.
- Quy luật về quan hệ (tính tương hỗ chuyển hóa): Âm và dương luôn gắn
bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau: âm thịnh thì dương suy, dương
thịnh thì âm suy. Nếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh

hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới của vũ trụ, nó cụ thể hóa
và bổ sung cho thuyết âm dương thêm hoàn bị.
2.1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Ngũ hành
Cũng như Âm dương, chưa có một tài liệu nào ghi chép rõ nguồn gốc hình
thành ra đời của “Ngũ hành”. Qua nghiên cứu, con người chỉ ghi nhận lại thuyết
“Ngũ hành” được nhắc đến ở đâu và nội dung như thế nào.
Đầu tiên, học thuyết này được đề cập đầu tiên trong tác phẩm “Kinh thư” ở
chương “Hồng phạm”. Trong tác phẩm đề cập, ngũ hành về mặt tự nhiên gồm năm
loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), về mặt thiên thời có ngữ “ kỷ” (một
là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số).
Sau đó, thuyết “Ngũ hành” được làm rõ hơn trong sách “Thập nhị xuân thu”,
tác phẩm làm rõ nét hơn về mối quan hệ của ngũ hành với giới tự nhiên.
Học thuyết âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực phương Đông 3
Trong "Kinh Dịch", khi nói về ngũ hành, các nhà toán học và dịch học đã lý
giải nó trên hai hình Hà đồ và Lạc thư. Theo "Kinh Dịch” thì trời lấy số 1 mà sinh
thành thủ, đất lấy số 6 mà làm cho thành, đất lấy số 2 mà sinh hành hỏa, trời lấy số
7 mà làm cho thành, trời lấy số 3 mà sinh hành mộc, đất lấy số 8 mà làm cho
thành, đất lấy số 4 mà sinh hành kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành
Quan điểm ngũ hành và sự ứng dụng của nó đối với đời sống con người được
bàn nhiều nhất trong tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Những lời bản trong bộ sách
này đã khẳng định học thuyết ngũ hành có vai trò hết sức quan trọng đối với y học
cổ truyền Trung Quốc.
2.2 Nội dung chính của thuyết ngũ hành
2.2.1 Sơ lược về Ngũ hành:
Ngũ hành được xây dựng dựa trên mô hình 5 yếu tố về cấu trúc vũ trụ. Các
hành được sắp xếp theo thứ tự: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Trong đó:
• Mộc: gỗ, có tính chất động, khởi đầu (sinh), mùa xuân, phương đông, màu
xanh, vị chua…
• Hỏa: lửa, có tính chất nhiệt, phát triển (trưởng), mùa hạ, phương nam, màu
đỏ, vị đắng…

vậy có kết hợp học thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích
mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội một cách hợp lý.
Học thuyết âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực phương Đông 5
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG GIA ĐẾN VĂN
HÓA ẨM THỰC PHƯƠNG ĐÔNG
Việt Nam cũng như đa phần các nước phương Đông khác, là những quốc gia
thiên về nông nghiệp nên thành phần chính trong ẩm thực là gạo, mì hay màn thầu
và các món cung cấp các chất dinh dưỡng khác như rau, thịt, cá, hoặc những món
bổ sung.
Sự tinh tế trong các món ăn chính là sự hội tụ đầy đủ từ hương, sắc, vị đến
cách bày biện, trang trí. Món ăn ngon phải đảm bảo có màu sắc đẹp mắt, có hương
thơm ngào ngạt, có vị ngon của đồ ăn được chế biến từ nguyên liệu tươi, có sự hài
hòa âm dương, ngũ vị trong món ăn và cách trình bày thật thu hút và ấn tượng.
Các món ăn không chỉ ngon, đẹp mắt mà còn bổ dưỡng bởi sự kết hợp tài tình
giữa các thực phẩm.
Trong bữa ăn của người phương Đông, họ thường dùng đũa để gắp thức ăn.
Điều này thể hiện sự điềm đạm, lịch sự và khoan thai khi ăn. Đồng thời, các bữa
ăn của họ mang tính cộng đồng, tập thể cao, cùng ăn chung các món ăn trên bàn
chứ không chia thành suất theo kiểu phương Tây.
Người phương Đông đặc biệt chú trọng đến quan hệ biện chứng âm dương
trong ẩm thực, bao gồm 3 mặt quan hệ hết sức mật thiết với nhau, đó là: bảo đảm
hài hòa âm dương của thức ăn; bảo đảm sự quân bình âm dương trong cơ thể và
bảo đảm sự cân bằng âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên.
1. Đảm bảo sự hài hòa âm dương trong món ăn
Ông cha có câu:
Rau cải nấu với cá rô
Gừng thơm một lát cho cô giữ chồng
Hay:
Rau tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Học thuyết âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực phương Đông 7
gồm: trắng, xanh, vàng, đỏ, đen. Nó vừa có cái mềm của thịt bò tái hồng, cái dẻo
của bánh phở trắng, cái cay dìu dịu của lát gừng vàng, hạt tiêu đen, cái cay xuýt
xoa của ớt đỏ, cái thơm nhè nhẹ của hành hoa thơm nhạt, cái thơm hăng hắc của
rau thơm xanh đậm, vị chua thanh của chanh và hòa hợp tất cả lại là nước phở
dùng được nấu từ xương…
Sủi cảo (còn gọi là bánh chẻo) được coi là một phần trong nền văn hóa của
Trung Quốc. Người nước ngoài sẽ bị coi là chưa từng đến Trung Quốc, nếu chưa
thưởng thức món này. Trong tập quán của Trung Quốc, từ quá trình làm nhân, hình
dáng cho đến lúc ăn sủi cảo đều rất cầu kỳ. Nhân sủi cảo có thịt và rau trộn lẫn với
nhau, khi dùng thường ăn kèm với nước trong ngọt, rau cải xanh tươi và tôm thịt
đỏ hồng, màu sắc hấp dẫn, thể hiện đầy đủ triết lý âm dương, ngũ hành của người
Trung Quốc.
Người dân Hàn Quốc có câu: “Nhất kim chi, nhì Kimbab”. Kimbap được so
sánh như vậy là nhờ vào sự kết hợp hài hòa của ngũ sắc bao gồm: màu xanh đen
(hành thủy) của lá rong biển phơi khô bao bọc bên ngoài, bên trong là những hạt
cơm trắng ngần (hành kim), kimbap còn được tô điểm nổi bật hơn, rực rỡ hơn nữa
nhờ vào màu xanh (hành mộc) của dưa leo, màu vàng (hành thổ) của trứng tráng
thái khéo léo như những sợi chỉ dài và màu hồng (hành hỏa) của những lát xúc
xích thơm ngon.
Tóm lại có thể khẳng định, văn hóa ẩm thực Phương Đông mà cụ thể là tại Việt
Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc chính là sự hòa quyện của sự cân bằng âm dương,
ngũ hành. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, đồ ăn thức uống phong
phú, đa dạng, con người hưởng thụ tốt hơn và quan niệm triết lý âm dương, ngũ
hành càng được quan tâm hơn để đảm bảo sức khỏe của con người.
2. Đảm bảo sự quân bình âm dương trong cơ thể
Theo quan điểm phương Đông, một món ăn ngon phải chú ý đến sự cân bằng
âm – dương, gia vị phải được nêm nếm để bù trừ, cân bằng lẫn nhau. Người xưa
cho rằng, mọi thứ bệnh tật đều là do sự mất cân bằng âm – dương gây ra, và thức
ăn chính là vị thuốc để điều chỉnh, giúp cơ thể khỏi bệnh cụ thể nếu người bệnh

Học thuyết âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực phương Đông 9
kim chi, mì lạnh, cơm cuốn… vị cay đóng vai trò chủ đạo quyết định thành công
trong việc tạo vị cho món ăn. Đó là do sự khác nhau về địa lý, vùng miền, khí hậu
ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực của người Phương Đông.
Người Việt Nam có tập quán ăn uống theo vùng khí hậu và theo mùa. Chẳng
hạn, mùa hè nóng (nhiệt – hành hỏa) nên ăn các loại thức ăn hàn, lương (mát), có
nước (âm – hành Thủy), có vị chua (âm) thì vừa dễ ăn, vừa dễ tiêu hóa, vừa giải
nhiệt. Mùa đông lạnh (hàn – âm) thì nên ăn các loại thức ăn khô, nhiều mỡ
(dương), như các món xào, rán, kho… Miền Bắc lạnh hơn nên ăn nhiều mỡ hơn,
có nhiều món ăn chế biến bằng cách xào nấu hơn; miền Nam nóng quanh năm nên
ăn nhiều rau hơn, cách chế biến phổ biến là ăn sống, luộc, gần đây là nấu lẩu.
Miền Bắc lạnh hơn nên thích ăn mặn (vị mặn hợp với hành thuỷ - âm), và chống
nóng bằng đồ chua. Miền Nam nóng hơn nên thích ăn ngọt (vị ngọt hợp với hành
thổ - trung hoà) và phải dùng tới thứ cực âm là đồ đắng (canh khổ qua) mới đủ
chống nóng.
Sở dĩ, ở Hàn Quốc, trong hầu các món đều có vị cay, nó xuất hiện trong đồ
xào, đồ nấu, đồ chấm… là do Hàn Quốc là đất nước thuộc khí hậu hàn đới nên vị
cay trong món ăn Hàn có tác dụng làm tăng nhiệt độ cơ thể để chống chọi với cái
lạnh, hài hòa âm dương để tạo sự cân bằng trong cơ thể với môi trường tự nhiên.
Trung Quốc có rất nhiều dân tộc khác nhau, cho nên thói quen sinh hoạt cũng
như sản vật của các vùng này không giống nhau. Chính bởi thế mà hương vị món
ăn của mỗi vùng cũng có sự khác biệt nhất định. Có thể hiểu một cách đơn giản
như sau: người phương Nam thì thích ăn ngọt, khi nấu ăn cho khá nhiều đường.
Người phương Bắc lại thích ăn mặn, khi nấu ăn thì không thể thiếu muối. Sơn
Đông, Tứ Xuyên, Hồ Nam lại thích ăn cay. Người Sơn Đông thích ăn chua, khi
nấu ăn thường cho rất nhiều dấm. Bởi vậy, lịch sử Trung Quốc có câu “Nam ngọt,
Bắc mặn, Đông cay, Sơn chua”, chính là bắt nguồn từ sự khác nhau của đặc điểm
khí hậu của mỗi vùng miền.
Học thuyết âm dương gia và ảnh hưởng của nó đến văn hóa ẩm thực phương Đông 10
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status