Tiểu luận môn triết học SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Viện Đào Tạo Sau Đại Học

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài:
" SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC DUY VẬT
VÀ TRIẾT HỌC DUY TÂM Ở HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI "

Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Thủy
STT: 103
Nhóm 5 - Lớp Đêm 1 - Khóa 23
Giảng viên phụ trách: TS. Bùi Văn Mưa
TP.HCM, tháng 12/2014
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế
giới. Triết học ra đời từ rất lâu đời qua một quá trình lịch sử lâu dài. Lịch sử triết
học đó là một vấn đề rất quan trọng của triết học. Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử
triết học nói chung thì vấn đề cơ bản nhất của lịch sử triết học đó là cuộc đấu tranh
giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm. Vấn đề này được xem là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học. Cuộc đấu tranh này cũng chính là sự phản ánh
cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng.
Là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại thời cổ đại với những
thành tựu rực rỡ về cả kinh tế, văn hóa xã hội, triết học Hy Lạp thời kỳ này cũng
được đánh giá là đỉnh cao cực thịnh tạo tiền đề phát triển cho một nền triết học cận
hiện đại sau này. Triết học Hy Lạp cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học và có
sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật và duy tâm,
biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần. Thông qua việc tìm hiểu và nghiên
cứu về đề tài “Sự tương đồng và khác biệt giữa Chủ nghĩa triết học duy vật và Chủ
nghĩa triết học duy tâm của triết học Hy Lạp cổ đại”, chúng ta sẽ thấy được rõ hơn
sự phân chia và đối lập giữa các trường phái này.
Để thực hiện bài tiểu luận này, nhóm 5 đã dựa vào:

sở hữu tư nhân được củng cố. Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao động
trong nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Sự phát triển mạnh
mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII BC là lực đẩy quan trọng
cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận. Engels đã nhận xét: “Phải có
những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phân công lao
động lớn lao hơn trong công nghiệp và nông nghiệp, mới xây dựng được đất nước
Hy Lạp giàu có. Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy Lạp,
không có khoa học và công nghiệp Hy Lạp”.
I.3 Về chính trị - xã hội:
Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phân
hóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ. Lao động bị phân hóa
thành lao động chân tay và lao động trí óc. Đất nước bị chia phân thành nhiều nước
nhỏ. Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm. Trong đó, Sparte và Athen là hai
thành phố cổ hùng mạnh nhất, nòng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại.
Thành bang Athen nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có điều
kiện đại lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp cổ
đại và là cái nôi của triết học Châu Âu. Tương ứng với sự phát triển kinh tế, văn hóa
là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Athen.
Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát triển
nông nghiệp. Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối. Chính vì thế
Sparte đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn
khốc đối với nô lệ.
Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành
cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự thất bại
của thành Athen. Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế,
chính trị và quân sự của đất nước Hy Lạp. Chiến tranh, nghèo đói đã nảy sinh các
cuộc nổi dậy của tầng lớp nô lệ. Nhưng lại thất bại vì họ xuất phát từ nhiều bộ lạc
khác nhau, không có ngôn ngữ chung, không có quyền hạn, không được tham gia
vào các hoạt động xã hội, chính trị. Chớp lấy thời cơ, Vua Philíp ở Bắc Hy Lạp đã
đem quân xâm chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp thế kỷ thứ II BC, Hy Lạp một lần nữa

vũ trụ. Trên cơ sở đó, triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức
(khoa học của khoa học) ra đời.
Giai đoạn cực thịnh: (bắt đầu từ thế kỷ thứ V. tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ
chiếm hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết
học Hy Lạp cổ đại. Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được rộng sang
các vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị. Trong đó,
kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trướng phái triết học.
Giai đoạn suy tàn (từ thế kỷ thứ II TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy
vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hóa mà
nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. Chiến tranh, bạo lực, khó khăn ngập tràn đã đưa
các nhà triết học giai đoạn này rời xa các vấn đề siêu hình,phổ quát để đi vào các
vấn đề thuộc về đời sống tình cảm, nội tâm, ham muốn, dục vọng;
Để lại dấu ân sâu đậm nhất trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại chính là cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm ở giai đoạn cực thịnh. Chủ
nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Mi-lê, trường phái Hêraclít, trải qua
trường phái đa nguyên và đạt được đỉnh cao trong trường phái nguyên tử luận. Chủ
nghĩa duy tâm được hình thành trong trong trường phái Pythago, trải qua trường
phái duy lý Êle, phái Ngụy biện và đạt được đỉnh cao trong trường phái duy tâm
khách quan của Platông. Arítốt đã cố gắng khắc phục sự đối lập giữa hai khuynh
hướng nhất nguyên duy vật và nhất nguyên duy tâm, tiến hành phê phán và tổng kết
triết học và khoa học thời này. Do vậy, ông đã đưa triết học Hy Lạp cổ đại lên đỉnh
cao cực thịnh và trở thành “bộ óc bách khoa toàn thư” vĩ đại nhất trong nền triết học
và khoa học Hy Lạp cổ đại.
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY
TÂM TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Chủ nghĩa duy vật:
1.1Trường phái Mi-lê:
Milê là một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp nằm chạy dài trên miền duyên hải
Tiểu Á, giữa các huyết mạch giao thông, là một trung tâm thương mại hàng hải lớn.
Sự giao thương kinh tế, trao đổi văn hóa đã mở rộng tầm nhìn của con người, kích

Hêraclite, Empêđốc (490 – 430 TCN) và Anaxagoras (500 – 428 TCN) xây dựng
quan niệm đa nguyên về bản chất thế giới vật chất đa dạng.
Empêđốc thừa nhận khởi nguyên của thế giối là bốn yếu tố độc lập, bất biến:
đất, nước, lửa và không khí. Dưới sự tác động của hai loại lực tình yêu và hận thù
mà chúng được kết hợp lại hình thành lên vạn vật đa dạng hay bị chia tách ra làm
cho vạn vật bị mất đi. Và vũ trụ tồn tại, phát triển qua bốn giai đoạn vận động, biến
đổi tuần hoàn của tình yêu và hận thù.
Amaxogoras cho rằng cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật là “những hạt
giống” cực nhỏ, có thể phân chia vấn vô tận. Dù “mỗi cái chứa mọi cái”, nhưng
“mầm nào sinh ra giống nấy”, vật chất chỉ bị quy định bởi tính chất hạt giống của
chính nó.
Như vậy, trường phái đa nguyên là một sự tìm tòi mới của CNDV nhằm khắc
phục hạn chế của quan điểm duy vật đơn nguyên để lý giải tính thống nhất trong sự
đa dạng của thế giới.
1.4Trường phái nguyên tử luận Lơxíp – Đêmôcrít:
Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại được thể
hiện trong trường phái nguyên tử luận thế kỷ V-II BC. Lơxíp là người sáng lập và
Đêmôcrít là người thừa kế và phát triển.
Theo trường phái này, nguyên tử và chân không cùng tồn tại và là căn
nguyên của các sự vật, hiện tượng. Nguyên tử vận động trong chân không kết tụ lại
hình thành nên sự vật và khi chúng tách rời nhau thì sự vật tan rã, biến mất.
Đêmôcrít đã kế thừa và phát triển các quan niệm này thành một hệ thống chặt chẽ
đưa triết học duy vật Hy Lạp lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức đương đầu chống lại
các trào lưu duy tâm đang thịnh hành cùng thời.
2. Chủ nghĩa duy tâm:
2.1Trường phái Pythagore:
Là một nhà toán học uyên bác, tư tưởng triết học của ông luôn gắn liền với
các con số. Ông cho rằng con số là bản chất của vạn vật trong thế giới. Mỗi con số
khác nhau, theo thứ tự của nó tương ứng với một sự vật. Trật tự của vạn vật trong tự
nhiên được xắp đặt theo trật tự các con số (trật tự thần thánh). Nếu cãi lại quy luật

vẫn có một số các đặc điểm tương đồng như sau:
- Cả hai trường phái đều đi sâu vào những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận để
phát triển khoa học tự nhiên.
- Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống
trị nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình và duy trì trật tự xã hội, coi thường giai cấp
nô lệ.
- Có sự gắn bó chặt chẽ triết học với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết
về các lĩnh vực khác nhau “xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh
thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó” mang tính biện chứng chất
phác biến triết học thành “khoa học của các khoa học”.
- Giải quyết các vấn đề về bản thổ và nhận thức luận triết học là những vấn đề của
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
- Quan niệm về triết học còn nhiều hạn chế mang tính trực quan, tự phát, ngây thơ.
- Coi trọng vấn đề con người, tìm cách mang lại cho con người cuộc sống hạnh
phúc.
2. Sự khác biệt:
Ngay từ khi ra đời, triết học Hy Lạp cổ đại đã xảy ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ
giữa Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm mà tiêu biểu và điển hình hơn cả là
cuộc đấu tranh giữa trường phái duy vât của Đêmôcrít và duy tâm của Platon.
Đêmôcrít (460-370 TCN) là “một trong những nhà duy vật lớn”, vĩ đại nhất
của dòng triết học duy vật Hy Lạp thời cổ đại. Chủ nghĩa duy vật của Đêmôcrít là
thế giới quan của bộ phận giai cấp chủ nô dân chủ tiến bộ thời kỳ này. Platon (427-
347 TCN) là người đầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh của chủ nghĩa duy tâm
khách quan, đại diện cho thế giới quan của bộ phận giai cấp chủ nô quý tộc phản
động.
Với thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đã lý luận rằng hai thực thể đầu tiên nguyên tử
và chân không là cơ sở đầu tiên của thế giới cấu thành lên vũ trụ. Nguyên tử là
những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không màu sắc, không âm thanh,
không mùi vị, không thể phân chia được luôn vận động. Nguyên tử đồng nhất về
chất nhưng khác nhau về hình dạng, kích thước, vị trí, trật tự. Vật thể được hình

phá được bên trong sự vật phải cần đến nhận thức sáng suốt. Hay nói theo một cách
khác thì nhận thức cảm tính là tiền đề của nhận thức lý tính. Ngược lại, Platon coi sự
nhận thức của con người không phải là sự phản ánh thế giới vật chất mà là sự hồi
tưởng lại những gì mà linh hồn bất tử đã lãng quên trong thế giới ý niệm mà nó đã
biết. Linh hồn bất tử biết hết mọi điều trong thế giới ý niệm. Và khi nó được thức
tính, mâu thuẫn giữa các ý kiến khác nhau đã tạo ra nhận thức chân lý. Như vậy,
nhận thức lý tính có trước nhận thức cảm tính và sinh ra nhận thức cảm tính. Nhận
thức lý tính cho chúng ta tri thức xác thực còn nhận thức cảm tính không bao giờ đạt
tới tri thức chân thực.
Về vấn đề đạo đức, Đêmôcrít đã rất thực tế với những định nghĩa về đạo đức
theo cách riêng của mình. Đạo đức của Đêmôcrít là sống đúng mực, ôn hòa, không
gây tổn hại cho mình và những người xung quanh. Ông đề cao những hành vi vị
nghĩa cao thượng, phản đối lối sống trục lợi bất lương. Đối với ông, con người dù ở
bất cứ tầng lớp nào cũng tìm thấy hạnh phúc khi lương tâm của họ trong sáng, tâm
hồn của họ tự do và tinh thần của họ thanh thản. Còn đạo đức của Platon hướng tới
là hành vi hướng thiện của sự thông thái và lòng dũng cảm. Con người chỉ có thể
tìm được hạnh phúc cho riêng mình trong thế giới ý niệm, ở trên trời sau khi chết.
Là một thứ đạo đức duy tâm, ông phân biệt rõ ràng khái niệm về đạo đức giữa các
giai cấp trong xã hội. Nô lệ không phải là con người, chỉ là động vật biết nói nên
không thề có đạo đức. Đạo đức chỉ có được ở một số ít người ưu tú như các tầng lớp
nhà triết học, quý tộc thanh cao.
Quan niệm về chính trị - xã hội: do xuất thân từ tầng lớp chủ nô dân chủ,
Đêmôcrít đứng trên lập trường ủng hộ chế độ dân chủ để bảo vệ quyền lợi của tầng
lớp mình, bảo vệ chế độ dân chủ chủ nô. Ông kịch liệt phản đối phái chủ nô quý tộc
nhưng cũng như các nhà tư tưởng khác ông vẫn cho rằng nô lệ phải phục tùng, tuân
theo mệnh lệnh của người chủ. Ông đề cao Nhà nước cộng hòa dân cử, là nền tảng,
trụ cột của xã hội. Nhà nước đóng vai trò duy trì trật tự và điều hành xã hội, hoạt
động theo các chuẩn mực đạo đức và pháp lý.
Khác với Đêmôcrít, Platon đứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc
chống lại chế độ dân chủ tiến bộ của xã hội. Ông đặc biệt miệt thị nô lệ, coi họ chỉ là

5. Tổng hợp từ một số website
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I.HOÀN CẢNH RA ĐỜI, ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ 3
1.Hoàn cảnh lịch sử: 3
I.1Về tự nhiên: 3
I.2Về kinh tế 3
I.3Về chính trị - xã hội: 4
2.Sự phát triển của triết học Hy Lạp thời cổ đại 5
II.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY
TÂM TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 7
1.Chủ nghĩa duy vật: 7
1.1Trường phái Mi-lê: 7
1.2Trường phái Hêraclite (540 – 575 BC) 7
1.3Trường phái đa nguyên Empêđốc - Anaxogoras: 8
1.4Trường phái nguyên tử luận Lơxíp – Đêmôcrít: 9
2.Chủ nghĩa duy tâm: 9
2.1Trường phái Pythagore: 9
2.2Trường phái Elée: 9
2.3Trường phái duy tâm khách quan: 10
III.SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ
CHỦ NGHĨA DUY TÂM 10
1.Sự tương đồng: 10
2.Sự khác biệt: 11
KẾT LUẬN: 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status