CHƯƠNG 1: HÀNG TỒN KHO VÀ QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Hàng tồn kho của doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm hàng tồn kho
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02
Hàng tồn kho là những tài sản:
- Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường;
- Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang;
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Hàng tồn kho là một bộ phận của tài sản ngắn hạn và chiếm tỷ trọng lớn
có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy: Hàng tồn kho trong doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản
ngắn hạn dự trữ cho sản xuất, lưu thông hoặc đang trong quá trình sản xuất chế
tạo ở doanh nghiệp.
0 Thành phần của hàng tồn kho: Hàng tồn kho bao gồm:
0 - Hàng hoá mua về để bán: Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên
đường, hàng gửi đi bán, hàng hoá gửi đi gia công chế biến;
1 - Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán;
2 - Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành
chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm;
3 - Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế
biến và đã mua đang đi trên đường;
4 - Chi phí dịch vụ dở dang.
Ngoài ra chúng ta cũng cần hiểu thêm về một số khái niệm liên quan:
+ Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn
kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn
thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.
+ Giá hiện hành: Là khoản tiền phải trả để mua một loại hàng tồn kho
tương tự tại ngày lập bảng cân đối kế toán.
1
Có những sản phẩm đã hoàn thành nhưng chưa nhập kho mà doanh nghiệp xuất
bán trực tiếp hoặc gửi bán thì được ghi giảm giá trị sản phẩm dở dang.
- Thứ năm: Hàng hóa (tại các doanh nghiệp thương mại) được phân theo
từng ngành hàng, gồm có: Hàng vật tư thiết bị; hàng công nghệ phẩm tiêu dùng;
hàng lương thực, thực phẩm chế biến. Kế toán phải ghi chép số lượng, chất
lượng, và giá phí chi tiêu mua hàng theo chứng từ đã lập trên hệ thống sổ thích
hợp. Phân bổ hợp lý chi phí mua hàng cho số hàng đã bán và tồn cuối kỳ.
1.1.3. Vai trò của dự trữ hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
Trong thời buổi kinh tế hiện nay nguyên, nhiên vật liệu ngày càng khan
hiếm, xu thế giá cả của nguyên vật liệu tăng lên. Trong các doanh nghiệp sản
xuất thì nguyên vật liệu luôn giữ vai trò quan trọng là cơ sở vật chất cấu thành
lên thực thể sản phẩm.Nó là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất
(tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động). Với chức năng là đối tượng
lao động, nguyên nhiên vật liệu luôn ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá
trình sản xuất. Đặc biệt trong giai đoạn như hiện nay sự hội nhập kinh tế thế giới
đang đặt ra cho doanh nghiệp những thử thách lớn đòi hỏi những đổi mới trong
lĩnh vực kinh doanh quản lý. Mà trước tiên là phương pháp quản lý tiết kiệm
nguyên vật liệu tồn kho nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản
phẩm để có thể tồn tại khẳng định vị trí và đứng vững trên thương trường.
1.1.4. Nội dung của quản lý hàng tồn kho (Phân loại hàng tồn kho theo
các tiêu thức khác nhau).
- Tồn kho nguyên vật liệu
+ Tồn kho nguyên vật liệu bao gồm các chủng loại hàng mà một doanh
nghiệp mua để sử dụng trong quá trình sản xuất của mình. Nó có thể bao gồm
các nguyên vật liệu cơ bản (ví dụ như sắt quặng được dùng làm nguyên vật liệu
thô để sản xuất thép), bán thành phẩm (ví dụ như chíp bộ nhớ dùng để lắp ráp
máy vi tính), hoặc cả hai. Việc duy trì một lượng hàng tồn kho thích hợp sẽ
mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong hoạt động mua vật tư và hoạt động
sản xuất. Đặc biệt bộ phận cung ứng vật tư sẽ có lợi khi có thể mua một số
lượng lớn và được hưởng giá chiết khấu từ các nhà cung cấp. Ngoài ra, khi
một nhu cầu tiêu thụ nào trong tương lai, đồng thời tối thiểu hóa thiệt hại vì mất
4
doanh số bán do không có hàng giao hay thiệt hại vì mất uy tín do chậm trễ
trong giao hàng khi hàng trong kho hết. Dưới góc độ của nhà sản xuất thì việc
duy trì một lượng lớn thành phẩm tồn kho cho phép các loại sản phẩm được sản
xuất với số lượng lớn, và điều này giúp giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị
sản phẩm do chi phí cố định được phân bổ trên số lượng lớn đơn vị sản phẩm
được sản xuất ra.
1.2. Quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự tham
gia của các thành phần kinh tế thì số lượng các doanh nghiệp ngày càng nhiều và
quy mô ngày càng lớn. Các doanh nghiệp đều hoạt động theo nguyên tắc hạch
toán kinh tế, mà những nguyên tắc cơ bản là: tự trang trải chi phí và có lợi
nhuận, tự chủ về tài chính, nghiệp vụ, tự chịu trách nhiệm về kinh tế hoạt động
kinh doanh, chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và tuân thủ các
chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước với sự chỉ đạo và kiểm
tra của các cơ quan chức năng của Nhà nước. Để tồn tại và phát triển, các doanh
nghiệp phải phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao trình độ quản lý và khả
năng quản trị kinh doanh, quản lý tài sản. Trong các doanh nghiệp hàng tồn kho
là bộ phận tài sản quan trọng nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì vậy thông tin về hàng tồn kho và tình hình nhập xuất vật tư
hàng hóa là thông tin quan trọng mà người quản lý cần quan tâm. Căn cứ vào
báo cáo kế toán hàng tồn kho mà người quản lý có thể đưa ra quyết định kinh tế
hữu hiệu hơn như các quyết định về sản xuất, dự trữ và bán ra với số lượng là
bao nhiêu…Đặc biệt số liệu hàng tồn kho còn ảnh hưởng đến thông tin trình bày
trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Hàng tồn kho chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của DN,
bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh
thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho DN. Đó là những tài sản đã sẵn
hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các
chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết
6
khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách,
phẩm chất được trừ (-) khỏi chi phí mua.
- Chi phí chế biến.
+ Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực
tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình
chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm.
+ Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp,
thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao,
chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng… và chi phí quản lý hành chính
ở các phân xưởng sản xuất.
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp,
thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản
xuất, như chi phí nguyên vật liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất.
Công suất bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong
các điều kiện sản xuất bình thường.
Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình
thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản
phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình
thường. Khoản chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế
biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí
sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
- Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến
*. Tổng quan về EOQ.
- EOQ hay còn gọi là trật tự kinh tế số lượng: là một trong những kỹ thuật
kiểm soát hàng tồn kho làm tối thiểu tổng số đang nắm giữ và sắp đặt các chi phí
cho năm nay.
- Số lượng trật tự kinh tế là kỹ thuật mà quyết định vấn đề của người quản
lý vật liệu.
- EOQ về bản chất là một công thức kế toán xác định mà tại đó sự kết hợp
của đơn hàng, chi phí và chi phí hàng tồn kho thực là ít nhất. Kết quả là chi phí
hiệu quả nhất chất lượng để đặt hàng. Trong mua bán này được gọi là thứ tự số
lượng, sản xuất nó được gọi là kích thước lô sản xuất.
- Một vấn đề cơ bản cho doanh nghiệp và các nhà sản xuất là, khi đặt vật
tư, để xác định những gì số lượng của một mục cho trước để đặt hàng. Nhiều
công thức và thuật toán đã được tạo ra. Trong số những công thức đơn giản nhất
và sử dụng nhiều nhất là mô hình EOQ.Công thức EOQ đã được độc lập, phát
hiện nhiều lần trong những năm tám mươi cuối.
- Trong khi EOQ không thể áp dụng với mọi tình huống hàng tồn kho,
hầu hết các tổ chức sẽ tìm thấy nó có lợi trong ít nhất là một số khía cạnh của
hoạt động của họ. Bất cứ lúc nào bạn đã mua hoặc lặp đi lặp lại quy hoạch của
một mục, EOQ cần được xem xét. Obvious cho các ứng dụng EOQ được mua-
to-nhà phân phối chứng khoán và làm để cổ phiếu các nhà sản xuất, tuy nhiên,
để làm cho các nhà sản xuất tự cũng nên xem xét EOQ khi họ có nhiều đơn đặt
hàng hoặc phát hành ngày cho các mục cùng và khi lập kế hoạch và thành phần
phụ hội đồng. Lặp đi lặp lại mua bảo trì, sửa chữa, và điều hành (MRO) hàng
tồn kho cũng là một ứng dụng tốt cho EOQ. Mặc dù EOQ thường được đề nghị
trong hoạt động có nhu cầu tương đối ổn định, mặt hàng có nhu cầu như biến đổi
theo mùa vẫn có thể sử dụng các mô hình bằng cách vào khoảng thời gian ngắn
hơn cho việc tính EOQ.Chỉ cần chắc chắn rằng việc sử dụng của bạn và các chi
phí thực hiện dựa trên khoảng thời gian tương tự.
9
*. Mô hình EOQ.
2
D
Q
Q =
Số ngày làm việc trong năm
Số lượng đơn đặt hàng mong muốn
D
Số ngày sản xuất trong năm
Trong đó d : Nhu cầu hàng ngày về hàng tồn kho
C2 : Là chi phí cố định cho một lần đặt hàng
D : Hàng tồn kho
Q : Sản lượng một đơn hàng
C1 : Chi phí lưu kho một đơn vị hàng hóa
- Các đầu vào
Trong khi tính toán chính nó là khá đơn giản, nhiệm vụ xác định đầu vào
dữ liệu chính xác cho chính xác đại diện cho hàng tồn kho và hoạt động là một
chút của một dự án. Chi phí để phóng đại và chi phí thực hiện được những sai
lầm phổ biến được thực hiện trong các phép tính EOQ. Sử dụng tất cả các chi
phí liên quan với mua và nhận sở để tính toán chi phí đặt hàng hoặc bằng cách
sử dụng tất cả các chi phí liên quan lưu trữ và xử lý vật liệu để tính toán chi phí
thực sẽ làm chi phí tăng cao dẫn đến kết quả không chính xác từ EOQ.
- Cách sử dụng hàng năm.
Thể hiện trong các đơn vị, điều này nói chung là phần dễ nhất của phương
trình. Ta chỉ cần nhập vào sử dụng dự báo hàng năm
- Đặt hàng chi phí.
+ Còn được gọi là chi phí mua hàng hoặc thiết lập chi phí, điều này là
tổng các chi phí cố định mà phát sinh mỗi một mục được lệnh. Các chi phí này
không được liên kết với số lượng đặt hàng, nhưng chủ yếu là với các hoạt động
thể chất cần thiết để xử lý các đơn đặt hàng.
+ Đối với mặt hàng mua, nhưng sẽ bao gồm chi phí để nhập các đơn đặt
chi phí không thay đổi dựa trên số lượng hàng tồn kho trên tay nó không nên
được đưa vào thực hiện chi phí. Trong công thức EOQ, chi phí thực hiện được
đại diện là chi phí trung bình hàng năm cho mỗi đơn vị trên tay hàng tồn kho.
Dưới đây là những thành phần chủ yếu của thực hiện chi phí.
+ Quan tâm: Nếu đã phải vay tiền để trả tiền cho hàng tồn kho, mức lãi
suất sẽ là một phần của chi phí thực hiện. Nếu không mượn về hàng tồn kho
này. Nhưng có vay vốn vào các mặt hàng khác, ta có thể sử dụng tỷ lệ lãi suất
trên những các khoản vay từ một giảm hàng tồn kho sẽ miễn phí lên tiền mà có
thể được sử dụng để thanh toán các khoản cho vay.
13
+ Bảo hiểm: Kể từ khi chi phí bảo hiểm liên quan trực tiếp với tổng giá
trị hàng tồn kho, ta sẽ bao gồm này như một phần của tiến chi phí.
+ Thuế: Nếu ta được yêu cầu phải trả bất cứ khoản thuế trên giá trị của
hàng tồn kho của họ cũng được bao gồm.
+ Phí lưu trữ: sai lầm trong tính toán chi phí lưu trữ. Được phổ biến trong
việc triển khai EOQ. Nói chung các công ty đưa tất cả chi phí liên quan với các
nhà kho và chia do hàng tồn kho trung bình để xác định một tỷ lệ phần trăm chi
phí lưu trữ cho việc tính EOQ. Điều này có xu hướng bao gồm các chi phí
không trực tiếp bị ảnh hưởng bởi các mức hàng tồn kho và không đền bù cho
các đặc tính lưu trữ. Thực hiện chi phí cho mục đích của việc tính EOQ chỉ nên
bao gồm các chi phí có biến dựa trên mức hàng tồn kho.
+ Kể từ khi chi phí lưu trữ này thường được áp dụng như là một tỷ lệ phần
trăm của giá trị hàng tồn kho ta có thể cần phải phân loại hàng tồn kho dựa trên
một tỷ lệ của các yêu cầu không gian lưu trữ giá trị để đánh giá chi phí lưu trữ
một cách chính xác. Ví dụ, giả sử bạn có chỉ cần mở một E mới - kinh doanh
được gọi là "BobsWeSellEverything.com". Bạn tính toán rằng hàng năm tổng
chi phí của bạn đã được lưu trữ 5% giá trị hàng tồn kho trung bình của bạn, và
áp dụng điều này để kiểm kê toàn bộ của bạn trong việc tính EOQ. Tồn kho
trung bình của bạn trên một đoạn đặc biệt của phần mềm và ngày 80 lb bao trộn
bê tông cả hai đến $ 10.000. EOQ Công thức áp dụng một chi phí lưu trữ 500 $
*. Hệ thống quản lý hàng tồn kho được dựa trên ý tưởng là thay vì tốn chi
phí cho việc dự trữ hàng hóa thì các nhà sản xuất có thể cung cấp chính xác số
lượng cần thiết vào chính xác cả về thời điểm giao hàng và số lượng cần giao.
*. “Just In Time” nhằm mục đích giảm đi chi phí không cần thiết giữa các
công đoạn. Trong các giai đoạn sản xuất nguyên liệu được đáp ứng đầy đủ và
chính xác vào lúc cần thiết, không có tình trạng tồn trữ và thiếu hụt nguyên vật
liệu. Mỗi công đoạn sản xuất sẽ sản xuất ra số lượng cần thiết và hệ thồng chỉ
sản xuất ra các sản phẩm mà khách hàng muốn. Qua đó không có hạng mục nào
sản xuất ra thành phẩm mà không có đầu ra phải tồn kho và không có nhân
công, thiết bị nào phải chờ đợi vì không có NVL để sản xuất. Như vậy mô hình
đã giảm thiểu được chi phí tồn kho và chi phí thiệt hai do thiếu NVL.
15
*. Hệ thống quản lý hàng tồn kho “Just In Time” được phát triển bởi công
ty Toyota Nhật bản vào những năm 90. Eiji Toyota và TAichi Ohmo của Toyota
Motor đã phát triển một khái niệm sản xuất mới mà ngày nay gọi là hệ thống sản
xuất Toyota. Nền tảng của hệ thống sản xuất này dựa trên nền tảng là duy trì liên
tục dòng sản phẩm trong các nhà máy nhằm thích ứng linh hoạt sự thay đổi của
thị trường, đây chính là khái niệm của Just-In-Time sau này. Dư thừa tồn kho và
lao động được hạn chế tối đa, qua đó tăng năng suất và giảm chi phí. Tuy nhiên
Toyota cũng đưa ra 3 tiêu chuẩn để thực hiện mục tiêu đó:
- Kiểm soát chất lượng: giúp hệ thống thích ứng một cách nhanh chóng
với sự biến động của thị trường và độ đa dạng.
- Bảo đảm chất lượng: đảm bảo mỗi quy trình chỉ tạo ra các đơn vị sản
phẩm tốt cho các quy trình sản xuất tiếp theo.
- Tôn trọng con người: vì nguồn nhân lực phải chịu nhiều sức ép dưới nổ
lực phải giảm thiểu chi phí.
Trong quá trình sản xuất của Toyota các linh kiện được đáp ứng nhu cầu
đúng lúc với số lượng cần thiết, từ đó tồn kho sẽ giảm đáng kể kéo theo việc
giảm diện tích kho hàng, kết quả là chi phí cho kho bãi được triệt tiêu.
Sau Nhật, Just In Time được 2 chuyên gia là Deming và Juran phát triển ở
trải qua một giai đoạn. Còn lượng tiền mặt thì tính tại một thời điểm. Thế giới
kinh doanh đã chứng kiến rất nhiều doanh nghiệp khi tính toán trên sổ sách thì
có lãi, nhưng vì không đủ tiền mặt để thanh toán các khoản công nợ tới hạn nên
bị phá sản.
Việc thiếu tiền mặt cho thanh toán công nợ tại một thời điểm cũng được
gọi là Phá sản kỹ thuật (Technical insolvency). Vì tầm quan trọng của nó người
ta hay nói "Cash is King".
Chu kỳ tiền mặt là một thước đo được sử dụng trong phân tích tài chính
của doanh nghiệp, để đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của doanh nghiệp.
Chu kỳ tiền mặt được tính như sau:
Chu kỳ vận động của tiền mặt = thời gian hàng tồn trong kho + thời gian thu
được tiền hàng về - thời gian tiền hàng có thể thu hồi về được
17
Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm
cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu tư. Chu
kỳ tiền mặt được tính từ khi chi trả cho các nguyên liệu thô tới khi nhận được
tiền mặt trong bán hàng.
Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn lưu động tốt.
Ngược lại, con số này lớn có thể được giải thích là: doanh nghiệp phải thuê thêm
vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho mình.
Quá trình sản xuất càng dài, lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải thuê thêm để
đầu tư càng lớn. Tương tự, thời gian khách hàng thanh toán các hóa đơn càng
lâu, thì giá trị của các hóa đơn càng giảm. Hay nói cách khác, tài khoản có thể
thu hồi về được làm giảm vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.2.4.2. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho.
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Chỉ số này càng cao, càng được đánh giá là tốt vì số tiền đầu tư
cho hàng tồn kho thấp mà vẫn đạt được hiệu quả cao, tránh được tình trạng ứ
đọng vốn. Nếu chỉ số này thấp phản ánh hàng tồn kho dự trữ nhiều, sản phẩm
không tiêu thụ được do chất lượng thấp, không đáp ứng được yêu cầu của thị
nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các
năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng
hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất
có khả năng DN bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn
nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể
khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho
cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách
hàng.
Để có thể đánh giá tình hình tài chính DN, việc xem xét chỉ tiêu hàng tồn
kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh thu,
vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế vĩ
mô, điều kiện thực tế của từng DN.
Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất - kinh
doanh bình thường; đang trong quá trình sản xuất - kinh doanh dở dang; nguyên
19
liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất - kinh doanh
hoặc cung cấp dịch vụ.
Hàng tồn kho chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của DN,
bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh
thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho DN. Đó là những tài sản đã sẵn
sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán. Thông thường, tỷ trọng hàng tồn
kho lớn luôn là mối quan ngại ít nhiều với NĐT, do tính chất tồn lâu, chôn vốn,
chi phí phát sinh thêm của nó hay nói cách khác, nếu để tồn hàng tồn kho quá
lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh do DN sẽ phải tốn
chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời và thanh lý hàng hư
hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro vì DN có
thể đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu giá
tăng cao trong khi DN không còn hàng để bán.
DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại thường duy trì hàng
tồn kho ở một mức độ nhất định trong chiến lược dự trữ hàng hoá của mình,
thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu.
Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán
hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp
sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị
giảm qua các năm.
21
Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là
lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột
thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh
giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản
xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số
vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp
ứng được nhu cầu khách hàng.
Để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, việc xem xét chỉ tiêu
hàng tồn kho cần được đánh giá bên cạnh các chỉ tiêu khác như lợi nhuận, doanh
thu, vòng quay của dòng tiền…, cũng như nên được đặt trong điều kiện kinh tế
vĩ mô, điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp.
1.2.4.3. Chỉ tiêu về khả năng sinh lời của hàng tồn kho.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng hàng tồn kho sẽ tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hàng tồn kho.
1.2.5.1. Nhân tố chủ quan.
- Về phương pháp đánh giá vật liệu xuất kho.
Thủ kho cần phải có những phương pháp đánh giá NVL khi xuất kho để
đảm bảo vật liệu xuất kho là vật liệu tốt, số lượng vật liệu cũng cần phải được
đánh giá chính xác để quá trình sản xuất xây dựng công trình không bị gián đoạn
do thiếu NVL hoặc thừa NVL.
- Về phương pháp kiểm nghiệm vật liệu khi nhập kho.
Khi vật liệu được nhập kho thì thủ kho cần phải kiểm tra NVL được nhập
vào có đúng quy cách, chất lượng và số lượng để đảm bảo cho công tác thi công
- Do sự phụ thuộc vào tiến độ công trình.
Công tác quản lý vật tư trong doanh nghiệp cũng cần dựa vào tiến độ
công trình, công trình được thi công đúng tiến độ giúp công tác quản lý vật tư dễ
dàng và ngược lại nếu tiến độ công trình gián đoạn thì hiệu quả công tác quản lý
vật liệu rất khó khăn, nguyên vật liệu sẽ không tham gia vào quá trình xây dựng
theo đúng thời gian, tiến độ dẫn đến chất lượng công trình không được đảm bảo.
- Do số lượng nguyên vật liệu, chủng loại nguyên vật liệu và đặc tính lý
hóa của NVL mà yêu cầu công tác quản lý cần phải chặt chẽ và khoa học đảm
bảo NVL không bị thất thoát hư hỏng. Quản lý tốt NVL giúp quá trình phân loại
được nhanh hơn, dễ dàng hơn.
23
CHƯƠNG 2: CÁC THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TẠI
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG A.I.C
2.1. Khái quát về công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây dựng A.I.C
2.1.1. Quá trình hình thành phát triển.
Nước ta là một đất nước có nền kinh tế đang phát triển, song song với sự
đang phát triển là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ cơ chế tập trung sang kinh tế
thị trường tạo cho doanh nghiệp trẻ nước ta có điều kiện thuận lợi trong việc
kinh doanh cũng như có cơ hội mở rộng thị trường phát triển với các doanh
nghiệp khác trong và ngoài nước. Đã có không ít các doanh nghiệp không chịu
nổi sự khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường nên đã không tránh khỏi giải thể.
Nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp rất nhạy bén để đứng vững trên thị trường
và khẳng định được sứ mệnh của công ty mình. Với sự khuyến khích đầu tư của
nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã được thành lập để phù hợp với nền kinh tế thị
trường hiện nay, nhất là trong quá trình hội nhập hóa toàn cầu, điều này làm
tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và các thành phần kinh tế
khác. Cũng chính vì vậy mà Công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây dựng A.I.C
đã được thành lập.
- Tên công ty: Công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây dựng A.I.C
- Trụ sở chính: TT công ty XD số 1 - Thanh Xuân Bắc - Thanh Xuân - Hà Nội
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trong công
Hình 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh của công ty:
25
Cố vấn luật
(Đặng Thu Hương)
Cố vấn kỹ thuật
(Vũ Anh Tuấn)
Ban giám đốc
(Đặng Ngọc Anh)
GĐĐH
Phòng
KSC
Phòng
tư vấn
thiết kế
Phòng
thi công
Phòng
tư vấn
giám sát
Phòng
kế toán,
hành
chính