“ Giải pháp quản trị vận chuyển trong kinh
doanh XNK tại công ty CPTM Kim Hoa”.
1
TÓM LƯỢC
Qua tìm hiểu tình hình quản trị vận chuyển trong kinh doanh XNK tại công ty
CPTM Kim Hoa, đã cho những kết luận thực trạng trong hoạt động vẫn chuyển trong
kinh doanh XNK như sau:
• Thành công đạt được:
-Về máy móc thiết bị: công ty không ngừng cải tiến, hoàn thiện, đổi mới, mua sắm
phương tiện vận tải mới.
-Nguồn nhân lực thực hiện trong quá trình vận chuyển: đội ngũ vận chuyển của
công ty đã và đang được đào tạo để nâng cao trình độ nghiệp vụ.
• Hạn chế còn tồn tại:
-Các phương tiện vận chuyển của công ty thường được dùng để vận chuyển trong
quãng đường ngắn thì không phù hợp với việc vận chuyển trong quãng đường dài. Do đó
công ty vẫn phải thuê vận chuyển dẫn đến chi phí vận chuyển tăng và khó kiểm soát.
-Thiếu nguồn nhân lực am hiểu sâu về quá trình logistics.
• Đề xuất với công ty:
-Hoàn thiện quy trình lựa chọn người vận chuyển.
-Chiến lược vận tải.
-Giảm chi phí vận chuyển.
-Công ty nên dành một phần kinh phí để đầu tư nâng cao tay nghề cho đội ngũ
nhân viên.
• Kiến nghị giải pháp về phía Nhà nước:
-Tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho logistics phát triển.
-Xây dựng mô hình các doanh nghiệp kinh doanh logistics (các công ty, tập đoàn
Logistics) theo hướng hiện đại
-Ưu tiên đầu phát triển cho các lĩnh vực logistics mà Việt Nam có tiềm năng
-Giải pháp về cải cách hành chính để thực hiện quản lý dịch vụ logistics thông qua
hệ thống văn bản pháp luật
-Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics
2009.
Hình 1.4 Danh mục khách hàng sử dụng thang máy của công ty CPTM Kim Hoa
Hình 1.5 Sơ đồ phương thức vận chuyển
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ VẬN CHUYỂN TRONG KINH DOANH XNK TẠI
CÔNG TY CPTM KIM HOA
1.1 Tính cấp thiết của quản trị vận chuyển trong kinh doanh XNK tại công ty
CPTM Kim Hoa.
1.1.1 Tình hình logistics tại Việt Nam:
Trong vài thập niên gần đây, logistics đã phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Bắc Mỹ
và EU mà còn ở các nước Châu Á: Nhật Bản, Singaporea Trung Quốc… Đặc biệt, những
nước có nghành dịch vụ và ngoại thương phát triển như Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan
và Malaysia, logistics được phát triển rất mạnh.
Từ khi thực hiện chính sách “mở cửa” hội nhập quốc tế, nhu cầu bán và trao đổi
hàng hóa và dịch vụ ở Việt Nam là rất lớn. Vì vậy, việc phát triển logistics là yêu cầu hết
sức cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống dịch vụ của Việt Nam còn nhiều bất cập do
cơ sở vật chất yếu kém, trình độ chuyên môn hóa chưa cao, khả năng của hệ thống kho
bãi chưa đủ đáp ứng yêu cầu của việc bảo quản, dự trữ, giao nhận, vận chuyển một khối
lượng hàng hóa lớn. Mặt khác, số doanh nghiệp tham gia kinh doanh logistics có quy mô
nhỏ, chỉ thực hiện một phần hay một bộ phận trong hệ thống logistics tổng thể, thiết bị
bảo quản và dự trữ còn lạc hậu, tốc độ chu chuyển hàng hóa chậm, chưa có các doanh
nghiệp chuyên môn hóa kinh doanh logistics đủ mạnh. Đặc biệt, Nhà nước cũng chưa có
quy chế cụ thể để việc quản lý logistics đạt hiệu quả cao.
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, nhiều nước trên
thế giới đã phát triển logistics nhằm tạo cơ sở vật chất cho thương mại phát triển. Để thực
hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần phát triển logistics để thúc đẩy
phát triển thương mại nội địa cũng như thương mại với nước ngoài.
Thị trường dịch vụ vận chuyển ở Việt Nam rất đa dạng nhưng đa phần đều nhỏ
bé, hạn chế về vốn và công nghệ nên chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho
cũng đã được đảm bảo chất lượng nhưng năng lực của công ty về mặt quản trị logictics
6
còn non yếu đặc biệt là vận chuyển. Công ty chưa có được bộ phận chuyên trách để quản
lý. Vì không phải là chuyên môn nên các cán bộ phòng kinh doanh chỉ tập trung vào
công việc chính là khai thác các hợp đồng. Công ty là một đơn vị kinh doanh với quy mô
lớn vì vậy chi phí vận chuyển khá cao. Nếu hoạt động quản trị vận chuyển tốt thì hoạt
động kinh doanh nói chung của công ty và trong lĩnh vực XNK nói riêng sẽ đạt đuợc hiệu
quả cao. Do một số bất lợi trong khâu vận chuyển, nhiều hợp đồng của công ty thực hiện
chưa được tốt. Có hợp đồng bị chậm về thời gian cũng như chất lượng hàng hóa, dich vụ
khách hàng giảm sút. Đó đều là hậu quả của công tác quản trị vận chuyển hàng hóa.
Để khắc phục điểm yếu này, những năm gần đây công ty phải nỗ lực để nhanh
chóng tìm ra giải pháp hữu hiệu trong công tác quản trị vận chuyển trong lĩnh vực XNK
nói riêng và toàn lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty nói chung.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài.
Trong quá trình thực tập tại công ty CPTM Kim Hoa với việc tìm hiểu và theo báo
cáo phân tích kinh doanh của công ty em nhận thấy rằng hoạt động logistics còn gặp
nhiều khó khăn trong đó vấn đề vận chuyển là nổi bật, đặc biệt là trong lĩnh vực XNK.
Trong công ty chưa có các bộ phận chuyên trách về mảng này, trong khi đó nó là yếu tố
quyết định ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh cũng như doanh thu của công ty.
Trong các hoạt động kinh doanh của công ty thì việc nhập khẩu thang máy và thiết bị
công nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc nhất từ hoạt động quản trị vận chuyển.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động quản trị vận chuyển, sau quá trình
nghiên cứu, tìm hiểu cả về lý luận và thực tiễn về hoạt đông quản trị vận chuyển em đi
sâu vào nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp quản trị vận chuyển trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty
CPTM Kim Hoa”
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu.
Đối với công ty CPTM Kim Hoa vấn đề quản trị hàng hóa trong lĩnh vực XNK
đang là vấn đề cấp thiết vì vậy mục tiêu nghiên cứu trước hết là nhằm tìm ra giải pháp
nâng cao quản trị vận chuyển trong kinh doanh XNK của công ty. Từ đó tăng lợi thế cạnh
8
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp nâng cao quản trị vận chuyển trong kinh
doanh XNK tại công ty CPTM Kim Hoa.
Một số thành công, hạn chế, nguyên nhân tồn tại trong kinh doanh XNK tại công
ty CPTM Kim Hoa.
Các giải pháp quản trị vận chuyển về phía doanh nghiệp và một số kiến nghị với
Nhà nước dựa vào một số điều đang tồn tại trong kinh doanh XNK của công ty mà vẫn
chưa khắc phục được.
9
CHƯƠNG II
TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ VẬN
CHUYỂN TRONG CÔNG TY SẢN XUẤT-KINH DOANH
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản.
2.1.1 Logistics và các hoạt động logistics:
Logistics theo nghĩa đang được sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ
“Logisticsque” trong tiếng Pháp, được sử dụng bắt đầu từ thế kỷ 19. Ban đầu logistics
như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Sau này
logistics dần dần được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châu lục này
sang châu lục kia, từ nước này sang nước khác, hình thành nên hệ thống logistics trên
phạm vi toàn cầu.
Logistics đã phát triển rất nhanh chóng. Nếu giữa hai thập kỷ 20, rất hiếm doanh
nhân hiểu được logistics là gì, thì đến cuối thế kỷ này, logistics được ghi nhận như một
chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh
nghiệp cả trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.
-Dưới góc độ quản trị trong lĩnh vực kinh doanh, theo Hội đồng quản trị logistics
của Hoa Kỳ ( CLM – Council of Logistics Management) định nghĩa: “Logistics kinh
doanh là quá trình hoạch định, thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu
thông, dự trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng
dòng thong tin tương ứng từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm
mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng”.
Vận chuyển không thể thiếu trong mọi tổ chức, người ta luôn phải vận chuyển
nguyên, vật liệu đến và vận chuyển thành phẩm đi. Trong các ngành khác nhau, tỷ trọng
của chi phí cho vận chuyển trong tổng chi phí có thể rất khác nhau. Nhưng dù cao hay
thấp thì chi phí vận chuyển cũng là khoản chi phí không thể thiếu. Và ngay cả khi không
xét đến vấn đề chi phí, thì vận chuyển vẫn có vai trò rất quan trọng: nếu không cung cấp
được vật tư đúng nơi, đúng lúc thì sản xuất sẽ gián đoạn, không thể tiến hành liên tục,
nhịp nhàng, dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng.
11
• Đối với nền kinh tế quốc dân:
Vận chuyển là yếu tố quan trọng đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của
xã hội được liên tục thông qua việc vận chuyển cung ứng nguyên vật liệu, bán thành
phẩm, thành phẩm và lao động phục vụ sản xuất. Vận chuyển còn là một trong những
yếu tố quan trọng trong phân bố lực lượng sản xuất của nền kinh tế quốc dân.
Nhờ có vận chuyển mà quá trình lưu thông mới được thực hiện và hàng hóa mới đến
nơi tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng sản xuất. Ngoài ra, vận chuyển còn có tác dụng mở
rộng và phát triển giao lưu văn hóa, trao đổi hàng hóa với nước ngoài.
Vận chuyển đáp ứng đi lại ngày càng tăng của nhân dân. Nó góp phần nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của mọi tần lớp nhân dân.
Vận chuyển góp phần khắc phục tình trạng phát triển không đồng đều giữa thành thị
và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, hải đảo.
Vận chuyển góp phần tăng cường khả năng quốc phòng, giữ gìn an ninh xã hội và bảo
vệ đất nước.
2.2.2 Chức năng của vận chuyển:
• Chức năng di chuyển:
Đây là chức năng chủ yếu của vận chuyển, để thực hiện chức năng này thì doanh
nghiệp cần tiêu tốn các nguồn lực: Thời gian, tài chính và môi trường… trong các nhân
tố trên thì doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí tối đa thì phải hạn chế thấp nhất thời gian
vận chuyển là một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ phục vụ hậu cần của doanh
nghiệp. Tốc độ vận chuyển đảm bảo duy trì dự trữ hợp lý, giảm dữ trữ hợp lý, giảm dự
trữ trên đường và trong mạng lưới hậu cần, đồng thời cung cấp kịp thời hàng hóa cho
tốc độ trung bình của đoàn tàu chuyên chở hàng hóa đã đạt tới con số 100km/giờ. Tốc độ
tương đối cao của vận tải đường sắt rất phù hợp với việc chuyên chở hàng hóa đòi hỏi
giảm thời gian chuyên chở trên đường hàng tươi sống, hàng có tính thời vụ…
Giá thành trong vận tải đường sắt tương đối thấp: So với các phương thức vận tải
khác, giá thành vận tải đường sắt chỉ cao hơn thủy nội và đường ống, còn thấp hơn so với
vận tải ô tô và vận tải bằng máy bay. Giá thành vận tải bằng máy bay cao gấp 60-70 lần
so với vận tải đường sắt. Giá thành của vận tải đường sắt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
13
+ Mật độ chuyên chở.
+ Khoảng cách chuyên chở.
+ Khối lượng và đặc điểm hàng hóa chuyên chở.
+ Chất lượng của trang thiết bị trong vận tải đường sắt.
+ Trình độ quản lý và tổ chức quy trình chuyên chở…
Khối lượng hàng hóa và khoảng cách chuyên chở là hai yếu tố quan trọng nhất trong việc
giảm giá thành chuyên chở trong vận tải đường sắt. Khối lượng hàng hóa chuyên chở
càng lớn, khoảng cách chuyên chở càng xa thì giá thành càng giảm.
Vận tải đường sắt có khả năng chuyên chở hàng hóa quanh năm và suốt ngày đêm:
Vận tải đường sắt ít phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu nên có thể đảm đương việc chuyên
chở liên tục, thường xuyên, đúng giờ và an toàn hơn so với các phương thức vận tải khác.
Đây là ưu điểm nổi bật của vận tải đường sắt trong chuyên chở hàng hóa, giúp chủ hàng
giao hàng đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng và tránh được khiếu nại, kiện tụng sau này.
• Đường thủy:
Ưu điểm:
Vận tải đường thủy có năng lực vận chuyển lớn: phương tiện trong vận tải đường thủy là
các tàu có sức trở rất lớn, lại có thể chạy cùng nhiều tàu trong cùng một thời gian trên
cùng một tuyến đường, thời gian tàu nằm chờ tại các cảng giảm nhờ sử dụng container và
các phương tiện xếp dỡ hiện đại.
Vận tải đường thủy thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hóa trong
thương mại quốc tế.
Chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp: các tuyến đường hàng hải
Nhược điểm:
Cước phí vận tải cao: Do ô tô có trọng tải nhỏ, chủ yếu chuyên chở hàng hóa trên
đoạn đường ngắn, thời gian ô tô chạy không hàng hóa thường nhiều, năng suất vận tải
thấp, hạn chế về mặt chuyên chở, trọng tải và dung tích của ô tô nhỏ, vận tải đường bộ lệ
thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên.
• Đường hàng không:
Ưu điểm:
15
Tốc độ vận tải hàng không cao, thời gian vận chuyển ngắn, an toàn nhất, đòi hỏi sử
dụng công nghệ cao, cung cấp các dịch vụ có tiêu chuẩn chất lượng cao hơn hẳn so với
các phương thức vận tải khác.
Nhược điểm:
Cước vận tải đường hàng không là cao nhất, do chi phí trang thiết bị hiện đại, chi phí
sân bay, chi phí khấu hao máy bay, chi phí dịch vụ cao…
Vận tải đường hàng không bị hạn chế đối với chuyên chở hàng hóa khối lượng lớn,
hàng cồng kềnh, do máy bay có trọng tải và dung tích nhỏ.
Vận tải đường hàng không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện
máy bay, sân bay, đào tạo nhân lực, xây dựng hệ thống kiểm soát không lưu, đặt chỗ toàn
cầu, chi phí tham gia các Tổ chức quốc tế về hàng không…
• Đường ống:
Đây là phương thức vận tải chuyên dụng, chỉ vận chuyển các loại mặt chủ yếu là
chất lỏng, chi phí cố định là rất cao nhưng chi phí biến đổi thấp.
b, Theo đặc trưng sở hữu:
• Vận chuyển riêng:
Là loại hình vận chuyển trong đó các doanh nghiệp có phương tiện vận tải và tự
cung cấp dịch vụ cho mình. Loại hình vận chuyển này ít bị điều tiết bởi luật kinh tế, tuy
nhiên phải tuân theo luật liên quan tới việc di chuyển những hàng hóa nguy hiểm.
• Vận chuyển hợp đồng:
Người vận chuyển nhận hợp đồng cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách hàng
có chọn lọc. Cơ sở hợp đồng là sự thỏa thuận về chi phí và dịch vụ giữa người vận
phương tiện bị hạn chế sức chở bởi dung tích hơn là trọng tải. Do lao động và chi phí
nhiên liệu không chịu nhiều ảnh hưởng bởi trọng tải nên sản phẩm có sự tương quan giữa
khối lượng và dung tích chuyên chở càng cao thì chi phí vận chuyển càng thấp.
Ngoài ra còn một số các yếu tố khác ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển như: mật
độ chuyên chở, chất lượng trang thiết bị chuyên chở, trình độ quản lý và tổ chức quy
trình chuyên chở.
17
2.2.5 Các quyết định trong quản trị vận chuyển:
a, Quyết định lựa chọn phương thức vận chuyển:
Phương thức vận chuyển trong doanh nghiệp thương mại là cách thức di chuyển
hàng hóa từ nguồn hàng đến khách hàng theo những điều kiện nhất định nhằm hợp lý hóa
sự vận động của hàng hóa trong kênh hậu cần kinh doanh nghiệp.
Có hai phương thức vận chuyển: vận chuyển thẳng và vận chuyển qua kho.
Tùy theo góc độ tiếp cận tổng thể hoặc cục bộ trong kênh phân phối mà vận
chuyển thẳng được hiểu theo cách khác nhau.
Về mặt tổng thể, vận chuyển thẳng được hiểu là quá trình di động hàng hóa tới
thẳng cửa hàng bán lẻ mà không dừng lại ở các kho trung gian.
Về mặt cục bộ, vận chuyển thẳng được hiểu là sự di động hàng hóa từ nguồn hàng
thẳng đến cơ sở hậu cần của khách hàng hoặc cửa hàng bán lẻ mà không qua bất kỳ khâu
trung gian nào. Như vậy, vận chuyển thẳng trong doanh nghiệp thương mại bán buôn có
đích cuối cùng là cơ sở hậu cần của khách hàng mua buôn hoặc bán lẻ thì đích cuối cùng
là cửa hàng bán lẻ của doanh nghiệp.
Những điều kiện áp dụng phương thức vận chuyển thẳng là:
-Không làm giảm trình độ dịch vụ khách hàng: số lượng, cơ cấu, đặc điểm của
hàng hóa, thời gian cung ứng nhu cầu của khách hàng.
-Tổng chi phí vận chuyển thẳng giảm: cước phí vận chuyển thẳng nhỏ hơn chi phí
dự trữ.
Như vậy, phương thức vận chuyển thẳng thích ứng với mục tiêu định hướng chi
phí chứ không phải dịch vụ và trong điều kiện thị trường hiện phát hiện phát triển với sự
cạnh tranh gay gắt như hiện nay ít được sử dụng.
c, Quyết định lựa chọn đơn vị vận chuyển:
Cần phải đánh giá người vận chuyển theo nhiều tiêu chuẩn lựa chọn. Quá trình lựa chọn
người vận chuyển tiến hành theo các bước sau:
+Bước 1: Xác định các tiêu chuẩn đánh giá.
+ Bước 2: Xác định mức độ quan trọng của mỗi tiêu chuẩn.
+Bước 3: Đánh giá kết quả thực hiện của mỗi tiêu chuẩn của từng người vận chuyển.
19
+Bước 4: Xác định tổng điểm đánh giá.
2.2.6 Quá trình nghiệp vụ vận chuyển:
Đối với doanh nghiệp thương mại trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa thì
nghiệp vụ vận chuyển là tổng thể các công việc bao gồm có các tác nghiệp từ nhận hàng,
xếp hàng, di chuyển hàng hóa đến dỡ hàng.
- Nhận hàng: Nhận hàng có thể bao gồm cả việc bốc dỡ hàng hóa. Nghiệp vụ nhận
hàng cần làm các thủ tục theo quy định và bố trí phương tiện, lao động bốc dỡ. Nhận
hàng có thể là hàng rời hoặc nhận nguyên container. Nhận hàng trong trường hợp số
lượng không lớn hoặc hàng container rút ruột tại cảng. Tại cảng chủ hàng làm thủ tục để
xuất hàng ra khỏi kho hàng của cảng. Trong quá trình nhận hàng nhân viên nhận hàng
phải thường xuyên bám sát hiện trường, cập nhật số liệu, kịp thời phát hiện sai sót để có
biện pháp xử lý thích hợp.
- Chuẩn bị gửi hàng: Bao gồm các mặt công tác đảm bảo sẵn sang để vận chuyển
hàng hóa. Yêu cầu của giai đoạn này là: Lô hàng vận chuyển phải phù hợp với lịch giao
hàng. Đảm bảo những điều kiện giao nhận vận chuyển và phải thuận tiện để thực hiên
các khâu nghiệp vụ khác. chuẩn bị hàng hoá về số lượng, cơ cấu, bao bì và thông tin trên
bao bì, … Hồ sơ giấy tờ hợp pháp về lô hàng, hợp đồng vận chuyển
-Tiến hành gửi hàng: Tiến hành chất xếp hàng hoá lên phương tiện vận tải, kiểm
tra – bàn giao (nếu có chủ hàng đi kèm); kiểm tra tình trạng kỹ thuật của phương tiện
theo yêu cầu vận chuyển.
Chất xếp: cần chú ý tới đặc tính của hàng hoá, tình trạng bao bì, trình tự giao
nhận, cách thức chất xếp để khai thác tối đa trọng tải và dung tích khoang chứa hàng của
phương tiện trong điều kiện cho phép.
số thủ tục liên quan đến việc nhập khẩu hàng hóa.
-Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển.
-Phương pháp giảm chi phí vận chuyển.
21
CHƯƠNG III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
QUẢN TRỊ VẬN CHUYỂN TRONG KINH DOANH XNK CỦA CÔNG TY CPTM
KIM HOA
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề.
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu.
• Phương pháp quan sát: bằng việc quan sát các nhân viên trong công ty làm việc để
từ đó hiểu được các hoạt động và hiện trạng của công ty.
• Phương pháp nghiên cứu tại bàn: được phòng kinh doanh và kế toán cung tài liệu
và số liệu lien quan đến các hoạt động và doanh thu của công ty.
• Phỏng vấn chuyên gia:
Tiến hành điều tra phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia về tình hình vận chuyên trong
XNK tại công ty.
3.1.2 Nguồn dữ liệu:
Với các phương pháp thu thập dữ liệu trên thì nguồn dữ liệu lấy chủ yếu là: dữ liệu sơ
cấp và thứ cấp.
• Dữ liệu sơ cấp: là những dữ liệu mà được thu thập lần đầu tiên để phục vụ cho
việc nghiên cứu, đó là kết quả điều tra phỏng vấn nhân viên trực tiếp đảm nhận
công tác trong lĩnh vực kinh doanh XNK của công ty. Dựa vào dữ liệu thứ cấp để
đưa ra các dự báo, đề xuất giải pháp quản trị vận chuyển trong kinh doanh XNK
của công ty.
• Dữ liệu thứ cấp: bao gồm báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, bảng cân đối kế toán trong từng thời kỳ, theo giai đoạn từ năm 2007-2009,
bảng cân đối tài chính doanh nghiệp, ngoài ra còn tài liệu tham khảo khác như: tạp
chí…
3.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu:
Mã số thuế: 0101410468
23
Email: [email protected]
Được thành lập năm 2003 với chức năng phát triển và mở rộng các quan hệ hợp
tác kinh doanh thông qua xúc tiến thương mại, nhằm mục đích thiết lập và mở rộng thị
trường cho các sản phẩm của Viện máy và Dụng cụ công nghiệp IMI Holding và các
công ty thành viên khác, Công ty CPTM Kim Hoa đã khai thác triệt để lợi thế về các mối
quan hệ kinh tế đã được duy trì và phát huy trong các lĩnh vực:
-Kinh doanh các thiết bị công nghiệp và sản phẩm cơ khí.
-Kinh doanh vật liệu xây dựng.
-Đại lý, mua bán, ký gửi hàng hóa.
-Xây dựng và lắp đặt vật liệu nội thất.
-Lắp đặt thang máy và các thiết bị công nghiệp.
-Tư vấn đầu tư công nghiệp.
-Kinh doanh xuất nhập khẩu thang máy và thiết bị công nghiệp.
Là thành viên của Viện máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI Holding), Công ty
CPTM Kim Hoa luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
có kinh nghiệm và chuyên môn cao của IMI Holding, được hoạt động dựa trên cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại đảm bảo đáp ứng các điều kiện cho việc thực hiện các dự án lớn.
Với nền tảng vững chắc như vậy, Công ty CPTM Kim Hoa tin tưởng sẽ đáp ứng
được mọi yêu cầu về chất lượng, giá cả các thiết bị, dịch vụ kỹ thuật cũng như tiến độ
cung cấp hàng, tiến độ thi công các công trình nếu được chọn làm nhà cung cấp.
Tổng số cán bộ công nhân viên là 97 người trong đó có 30 người đạt trình độ đại học trở
lên. Số nhân lực tốt nghiệp khối kinh tế và QTKD là 6 người.
24
Sơ đồ cấu trúc bộ máy của công ty
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc bộ máy của công ty.
• Danh mục linh kiện nhập khẩu dự trữ: Để phục vụ cho việc bảo hành, bảo trì
những thang máy lắp đặt tại Việt Nam, nhập khẩu một số vật tư sau để thay thế
cho khách hàng nhanh nhất khi có sự cố:
TT
thiết
kế và
công
nghệ
TT kỹ
thuật
và
công
nghệ
TT
dịch
vụ BH
thiết
bị
TT
Kinh
doanh
TT
điện,
điện
tử tự
động
hoá
TT tư
vấn
môi
trường
và
công