Lời nói đầu
Đất nớc ta đang từng bớc tiến hành hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đóng vai trò là cầu nối để các n-
ớc nói chung và Việt Nam nói riêng đạt đợc mục tiêu của mình. Đó là một hoạt
động kinh doanh sôi động nhất trong giai đoạn hiện nay.
ở một nớc đang phát triển nh Việt Nam hiện nay kinh doanh hàng hoá
xuất nhập khẩu sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nớc. Đồng thời hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu còn cải thiện và
nâng cao mức sống của nhân dân. Trong những năm gần đây, nhà nớc cho phép
các đơn vị kinh doanh đợc quyền xuất nhập khẩu trực tiếp. Và do vậy mà có sự
cạnh tranh giữa các thành phần kỉnh tế khác nhau ở cả trong và ngoài nớc. Đặc
biệt là từ năm 1996 tới nay quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nớc trên thế
giới ngày càng đợc củng cố và mở rộng. Việc Mỹ bỏ lệnh cấm vận thơng mại và
bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam, cùng việc Việt Nam gia nhập tổ chức
ASIAN đã làm cho kinh tế đối ngoại càng có vai trò quan trọng trong sự phát
triển của đất nớc. Chính vì thế mà nhà nớc ta luôn luôn khuyến khích và thúc
đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Nhng điều quan trọng là kinh doanh
xuất nhập khẩu phải có hiệu quả. Hiệu quả là một phạm trù kinh tế là một chỉ
tiêu chất lợng tổng hợp, là mục tiêu mà bất cứ một doanh nghiệp nào, một quốc
gia nào khi tham gia và thị trờng cũng đều mong muốn đạt đợc. Vì vậy nâng cao
hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu là vấn đề có ý nghĩa bức thiết. PROCOM
Hà Nội ra đời và thực hiện hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu từ năm 1995.
Nhng cùng với sự ra đời của kinh tế thị trờng ở Việt Nam đi kèm theo nó là sự
cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp đã khiến PROCOM gặp không ít khó
khăn. Cho đến nay công ty vẫn luôn mở rộng lĩnh vực kinh doanh xuất nhập
khẩu và không ngừng tìm cách nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu
của mình. Chính vì thế mà trong quá trình thực tập tại PROCOM Hà Nội em đã
đi sâu vào nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh xuất nhập khẩu tại PROCOM Hà Nội
Chuyên đề này đợc trình bày nh sau:
ngoài mà sản xuất trong nớc kém lợi thế thì chắc chắn đem lại lợi nhuận lớn
hơn.
Điều này đã đợc nhà kinh tế học ngời Anh David Ricardo chứng minh và
kết quả đó là quy luật lợi thế tơng đối đợc phát biểu nh sau: "Một quốc gia hay
một cá nhân có thể nâng cao mức sống và thu nhập thực tế bằng cách chuyên
môn hoá các mặt hàng mà nớc này hay cá nhân này có thể sản xuất với lợi thế
75
so sánh cao nhất, xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ
các quốc gia khác. Lúc này XNK sẽ có lợi cho cả hai bên".
Xuất phát từ những lý do đó mà XNK ra đời và ngày càng đóng góp vai trò
tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của
từng nớc nói riêng. Điều này thể hiện rõ nét thông qua vai trò của hoạt động
XNK đối với nền kinh tế.
2. Vai trò của hoạt động XNK
a. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế
a.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất n-
ớc.
Việt Nam đang đẩy nhanh công cuộc CNH-HĐH đất nớc - con đờng tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo đói, lạc hậu và chậm phát triển. Máy móc;
thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại, chúng là động lực của quá trình
này. Để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện
đại chúng ta cần một số vốn rất lớn. Số vốn này có thể đợc hình thành từ các
nguồn nh đầu t nớc ngoài, vay nợ viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ
ngoại tệ, xuất khẩu lao động,... Nhng vốn có đợc từ đầu t nớc ngoài hay từ vay
nợ sớm muộn đều phải trả bằng cách này hay cách khác. Nguồn thu từ du lịch,
dịch vụ chỉ đáp ứng đợc một phần nhỏ. XK lao động chủ yếu là để tạo công ăn
việc làm chứ không phải để thu ngoại tệ. Do đó nguồn vốn quan trọng nhất để
NK, để CNH đất nớc là XK. XK quyết định quy mô và tốc độ tăng của NK.
a.2. XK đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển.
công tác quản lý kinh doanh. Thực tế cho thấy dù vốn của doanh nghiệp có lớn
đến đâu mà ngời chủ không quản lý tốt thì doanh nghiệp cũng không phát triển
mạnh đợc.
Qua những tác động kể trên ta thấy quan điểm này cần đợc quán triệt đối
với một nền kinh tế nh nớc ta.
a.3. XK có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống của nhân dân.
Hàng XK của Việt Nam hiện nay chủ yếu là hàng thô và nguyên liệu hoặc
mới chỉ qua sơ chế. Tuy vậy, cũng đã có hàng triệu lao động đợc thu hút để sản
xuất những mặt hàng này. Tới đây, khi chúng ta tăng hàm lợng chế biến hàng
xuất khẩu, cho dù có sự hỗ trợ của máy móc thì một lợng không nhỏ nữa sẽ có
thêm thu nhập.
Đẩy mạnh XK, tham gia vào thị trờng thế giới tức là chúng ta đã đi sâu hơn
vào phân công lao động quốc tế, con đờng tốt nhất để tạo công ăn việc làm cho
ngời lao động.
75
Đời sống của ngời lao động đợc cải thiện dần theo thu nhập ngày càng tăng
lên dựa vào đà tăng của kim ngạch XNK cả nớc. Cần lu ý rằng không chỉ những
ngời lao động tham gia một cách trực tiếp vào xuất khẩu mới có thu nhập tăng
lên. Những ngời lao động khác dù ở những ngành có hay không liên quan đến
xuất khẩu nếu không đợc hởng những quyền lợi vật chất chẳng hạn nh lơng cao
thì cũng đợc hởng những phúc lợi xã hội do sự đóng góp của các doanh nghiệp
xuất khẩu bằng cách này hay cách khác vào ngân sách Nhà nớc. Nếu chỉ dựa
vào những thành tựu trong nớc thì đến nay chúng ta đã không đợc hởng những
phát minh khoa học nh máy giặt, tủ lạnh, máy ảnh hay ti vi,... Do đó cần phải
nhận thức rõ vai trò của xuất khẩu, tập trung sức lực để đẩy mạnh xuất khẩu hơn
nữa và XK còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu nh-
ng hiện đại phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú
của nhân dân.
a.4. XK là để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống. Nhập khẩu
là để tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại cho sản xuất
và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nớc không sản xuất đợc, hoặc sản xuất
không đáp ứng đợc nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế nghĩa là nhập những thứ
mà sản xuất trong nớc sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Làm đợc nh vậy sẽ tác
động tích cực đến sự phát triển cân đối và khai thác tiềm năng, thế mạnh của
nền kinh tế quốc dân về sức lao động, vốn cơ sở vật chất, tài nguyên và khoa học
kỹ thuật.
Trong điều kiện nớc ta hiện nay vai trò của nhập khẩu thể hiện ở các khía
cạnh sau:
Thứ nhất, nhập khẩu sẽ thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng đẩy mạnh CNH-HĐH đất nớc.
Thứ hai, nhập khẩu sẽ bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền
kinh tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác đến mức tối đa
tiềm năng và khả năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
Thứ ba, nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho
ngời lao động, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Thứ t , nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu góp phần nâng cao
chất lợng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trờng thuận lợi cho xuất khẩu hàng
Việt Nam ra nớc ngoài, đặc biệt là nớc nhập khẩu.
Nh vậy hoạt động XNK đợc tổ chức, thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều
khâu từ điều tra thị trờng nớc ngoài, lựa chọn hàgn hoá XNK, thơng nhân giao
dịch, các bớc tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện
75
hợp đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền sở hữu cho
ngời mua, hoàn thành các thanh toán. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải đợc
nghiên cứu đầy đủ, kỹ lỡng đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ
nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất, phục vụ đầy đủ kịp thời
cho sản xuất và tiêu dùng trong nớc.
Từ những điều trên ta thấy rằng hoạt động XNK đã có những vai trò tích
và hàng nhập ngoại, tạo ra sự theo dõi và kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa
các chủ thể tham gia XNK. Sự cạnh tranh này làm cho chất lợng nền kinh tế
trong nớc đợc nâng cao, xoá bỏ nhanh chóng sản phẩm lạc hậu, không thể chấp
nhận đợc.
Nh vậy, kinh doanh XNK có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của mỗi nớc, phát huy đợc thế mạnh của mỗi nớc và thế mạnh của cả nền kinh tế
thế giới, là chiếc cầu nối liền nền kinh tế nớc ta với nền kinh tế thế giới.
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động XNK mà các doanh nghiệp, các
công ty XNK cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK của mình.
II. Sự cần thiết và vai trò của việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh XNK
1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh XNK.
a. Phân biệt hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh
XNK
Từ khái niệm hoạt động kinh doanh XNK ở trên ta thấy rằng đó là một quá
trình bao gồm nhiều khâu trong lĩnh vực sản xuất, lu thông. Giữa chúng có mối
quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau. Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK
là nâng cao hiệu quả hoạt động của cả quá trình này.
Theo nghĩa hẹp thì hiệu quả kinh doanh XNK là một phạm trù kinh tế phản
ánh những lợi ích đạt đợc từ hoạt động kinh doanh XNK của doanh nghiệp.
Theo nghĩa hẹp thì hiệu quả kinh doanh XNK là chỉ tiêu phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
hoá XNK theo mục đích nhất định.
Theo khái niệm rộng thì hiệu quả kinh doanh XNK là một phạm trù kinh tế
phản ánh những lợi ích đạt đợc từ hoạt động kinh doanh XNK của doanh
nghiệp. Đó chính là hiệu quả của lao động xã hội đợc xác định thông qua việc
so sánh giữa lợng kết quả hữu ích thu đợc với chi phí lao động xã hội bỏ ra.
ở đây chúng ta cần phân biệt đợc kết quả kinh doanh và hiệu quả kinh
doanh XNK. Kết quả kinh doanh thể hiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp,
đợc biểu hiện bằng các chỉ tiêu nh doanh thu xuất khẩu hoặc nhập khẩu, lãi hay
hiệu quả thu đợc từ hoạt động của từng doanh nghiệp. Biểu hiện trực tiếp của
hiệu quả kinh doanh là số lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu đợc hoặc lỗ.
Hiệu quả kinh doanh đợc tính bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Nó đợc xác định trong mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra với thu nhập mang lại
trong quá trình kinh doanh dới hình thái tiền tệ đối với một dịch vụ kinh doanh
hoặc tổng thể các dịch vụ kinh doanh. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế xã hội của
một hoạt động kinh tế đợc xác định ở một thời gian nhất định. Hiệu quả xã hội
phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt đợc các mục tiêu xã hội nhất
định. Xem xét hiệu quả xã hội, ngời ta xem xét mức tơng quan giữa các kết quả
đạt đợc về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống tinh thần,
tạo ra mối quan hệ lành mạnh, giải quyết công ăn việc làm,...) và chi phí bỏ ra
để đạt đợc kết quả đó.
Nh vậy hiệu quả kinh tế xã hội là lợi ích kinh tế xã hội mà hoạt động kinh
tế đã mang lại cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội, đợc thể hiện ở mức
độ đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nh: phát triển sản
xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ,
tăng thu cho ngân sách Nhà nớc, cải thiện đời sống nhân dân.
Mặc dù vậy, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội có quan hệ mật
thiết với nhau. Trong nhiều trờng hợp hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế
xã hội vận động cùng chiều nhng trong một số trờng hợp thì lại tỏ ra mâu thuẫn
nhau. Có những hoạt động kinh doanh không mang lại lợi nhuận, thậm chí bị
thua thiệt nhng doanh nghiệp vẫn phải kinh doanh vì lợi ích chung để đạt đợc
mục tiêu kinh tế xã hội.
2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK
Kinh doanh XNK ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Đây là một trong những lĩnh vực hoạt động đợc Đảng và Nhà nớc rất chú
trọng. Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần VIII đã nhấn mạnh: "Nhiệm vụ ổn
định và phát triển kinh tế cũng nh sự nghiệp phát triển khoa học ở nớc ta tiến
hành nhanh hay chậm điều đó phụ thuộc vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế đối
ngoại".
tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng nhất, mang tính sống còn đối với
doanh nghiệp. Để đạt đợc mục tiêu lợi nhuận tối đa trong điều kiện nh vậy
không còn cách nào khác đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK là phải
nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK của doanh nghiệp. Từ những lý luận trên đã
phần nào khẳng định đợc sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK
75
cũng nh vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK đối với nền kinh tế
quốc dân và đối với bản thân doanh nghiệp.
3. Vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK
Nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK trong điều kiện các nguồn lực đầu vào
ngày càng khan hiếm và trong điều kiện nền sản xuất xã hội phát triển nh hiện
nay thì có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, doanh nghiệp nói
chung và doanh nghiệp kinh doanh XNK nói riêng.
- Đối với nền kinh tế quốc dân thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh XNK
sẽ giúp cho đất nớc tiết kiệm nguồn lực, khả năng phát triển lực lợng sản xuất
kinh doanh, tạo nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế và trình độ hoàn thiện quan hệ
giao dịch, quan hệ sản xuất cao hơn. Điều này cũng có nghĩa là với việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh XNK Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội thâm nhập thị trờng
nớc ngoài, có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện
nay.
- Đối với bản thân các doanh nghiệp kinh doanh XNK thì việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh XNK là điều kiện tiên quyết nhằm đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trong nớc và n-
ớc ngoài. Đây là mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp bảo
toàn vốn và phát triển vốn, là cơ sở để tái sản xuất mở rộng và mở rộng kinh
doanh. Qua đó doanh nghiệp kinh doanh XNK mới có thể tăng khả năng cạnh
tranh của mình trên thị trờng. Điều đó cho phép doanh nghiệp giải quyết tốt đời
sống của ngời lao động, đầu t mở rộng, hiện đại hoá cơ sở vật chất, mở rộng
hoạt động kinh doanh của mình.
- Đối với bản thân từng cá nhân thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
thế nào trong thời gian tính toán khi có thơng mại quốc tế.
- Nếu tơng quan trên lớn hơn 1 thì kinh doanh XNK đã làm tăng thu nhập
quốc dân, còn ngợc lại là làm giảm.
* Để tăng thêm hiệu quả kinh tế quốc dân sử dụng cần:
- Xác định hợp lý cơ cấu xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở tính toán lợi thế
của sản xuất trong nớc.
- Sử dụng vốn nớc ngoài và hớng nhập khẩu vào đầu t và chuyển dịch cơ
cấu sản xuất trong nớc có hiệu quả, tạo điều kiện mở rộng thị trờng nớc ngoài.
- Tạo thêm công ăn việc làm nhờ mở rộng thị trờng xuất khẩu và nhập khẩu
các yếu tố đầu vào cho sản xuất.
- Đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh, trong đó chú ý tới việc
hạch toán nghiệp vụ hay vay trả sao cho có hiệu quả.
* Để đạt đợc điều kiện thơng mại có lợi cần chú ý:
- Cải tiến cơ cấu và chất lợng hàng hoá XNK theo hớng tăng nhanh các
mặt hàng nông sản chế biến và công nghiệp chế biến.
- Tăng cờng công tác nghiên cứu thị trờng, giá cả, vận dụng các phơng
thức buôn bán phù hợp để tranh thủ đợc các điều kiện thị trờng có lợi nhất.
2. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả cụ thể của các hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu.
2.1. Chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu và nhập khẩu
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp XNK.
75
LN
XK
= DT
XK
- CP
XK
LN
NK
do xuất khẩu (giá trị quốc tế của hàng hoá) với những chi phí bỏ ra cho việc sản
xuất hàng hoá đó (giá trị dân tộc của hàng hoá).
H
X
= T
x
/ C
x+
Trong đó:
H
X
: hiệu quả tơng đối của việc xuất khẩu
75
T
X
: doanh thu bằng ngoại tệ từ việc XK đơn vị hàng hoá, dịch vụ
C
X
: tổng chi phí của việc sản xuất sản phẩm xuất khẩu, bao gồm cả vận
tải đến cảng xuất.
Công thức này đợc vận dụng để tính hiệu quả xuất khẩu của từng mặt hàng,
hoặc hiệu quả xuất khẩu sang từng nớc, khu vực thị trờng.
Để tính chính xác hiệu quả xuất khẩu của từng doanh nghiệp hoặc của từng
mặt hàng thì điều quan trọng là phải tính đầy đủ, chính xác các chi phí bỏ ra cho
việc xuất khẩu đó. Trong điều kiện hiện nay đây là công việc rất khó khăn và
phức tạp.
Nếu doanh nghiệp nào đó xuất khẩu không phải là một sản phẩm mà có
nhiều mặt hàng xuất khẩu sang nhiều nớc và đồng tiền thanh toán khác nhau thì
vấn đề càng phức tạp hơn. Trong trờng hợp đó sẽ rất khó để khẳng định rằng
mặt hàng này xuất khẩu có lãi, mặt hàng kia xuất khẩu bị lỗ,...
khẩu. Vì vậy, để giúp ta tính toán và so sánh dễ dàng những kết quả hoạt động
XNK ngời ta dùng chỉ tiêu doanh lợi để xem xét.
Doanh lợi kinh doanh XNK phản ánh kết quả tài chính của hoạt động
XNK, nghĩa là nó phản ánh những kết quả bằng tiền thực tế thu đợc và những
chi phí thực tế bỏ ra; giá tính doanh lợi đợc tính toán trên cơ sở giá hiện hành
(giá tính toán của kế toán doanh nghiệp).
Vì vậy, về mặt lợng nó không trùng với các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
XNK. Chỉ tiêu doanh lợi kinh doanh XNK đợc dùng để tính toán doanh lợi riêng
cho xuất khẩu, cho nhập khẩu, cho từng hàng hoá cũng nh cho cả quá trình lu
thông xuất nhập khẩu nói chung.
Các công thức tính:
4.1. Doanh lợi kinh doanh XNK
D
KDXNK
= (T
n
/ C
x
) x 100
Trong đó:
D
KDXNK
: doanh lợi kinh doanh XNK nói chung
T
n
: thu nhập về bán hàng nhập khẩu
C
x
: chi phí cho việc xuất khẩu hàng hoá.
4.2. Doanh lợi xuất khẩu
n
: doanh lợi nhập khẩu
T
n
: thu nhập về bán hàng nhập khẩu
C
n
: tổng chi phí ngoại tệ nhập khẩu chuyển ra tiền Việt Nam theo tỷ giá
Ngân hàng Nhà nớc bán.
IV. Các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả kinh doanh XNK
Hiệu quả kinh doanh XNK phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu
vào của doanh nghiệp, phản ánh sự tận dụng các nguồn lực đó. Nó là sự biểu
hiện mối quan hệ hữu cơ giữa kết quả đầu ra và nguồn lực đầu vào. Cả hai đại l-
ợng này đều chịu sự ảnh hởng tổng hợp của nhiều nhân tố khác nhau. Các yếu
tố đó có thể là chất lợng của các nguồn lực đầu vào, là trình độ quản trị các yếu
tố đó hoặc là các tác động từ bên ngoài doanh nghiệp. Có thể chia các nhân tố
ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thành các nhân tố sau:
1. Nhóm nhân tố bên trong
Nhóm nhân tố bên trong bao gồm toàn bộ các nhân tố thuộc về bản thân
doanh nghiệp nh lao động, khoa học kỹ thuật, thông tin,...
1.1. Lực lợng lao động
Lao động là một yếu tố quan trọng của quá trình hoạt động kinh doanh.
Việc sử dụng lao động hợp lý sẽ quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Do vậy mà nâng cao hiệu quả sử dụng lao động là một biện
pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp kinh doanh XNK nói riêng. Ngời làm kinh doanh XNK phải
nắm đợc các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động nh:
- Năng suất lao động: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất kinh doanh của lao
động trong kỳ. Đợc tính bằng công thức:
W = TR/ L
H
w
: là hiệu suất tiền lơng
L
n
: là lợi nhuận đạt đợc
TL : là tổng quỹ lơng và các khoản thởng có tính chất lơng trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết chi ra một đồng tiền lơng đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất tiền lơng tăng lên khi năng suất lao động
tăng với nhịp độ cao hơn nhịp độ tiền lơng.
- Hệ số sử dụng lao động:
= Tổng lao động đợc sử dụng/ Tổng lao động hiện có
Chỉ tiêu này cho biết tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp, số lao
động hiện có của doanh nghiệp đã đợc sử dụng hết năng lực hay cha. Từ đó tìm
nguyên nhân và giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Lực
lợng lao động là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng. Mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh đều do lực lợng lao động tiến hành. Nó là chủ thể trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, mọi nỗ lực đa khoa học kỹ thuật trang thiết bị
máy móc hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh đều do con ngời tạo ra và
thực hiện chúng. Nh vậy, lực lợng lao động của doanh nghiệp nói chung và
doanh nghiệp XNK nói riêng sẽ tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh XNK ở những điểm sau:
Thứ nhất, bằng lao động sáng tạo của mình tạo ra công nghệ mới, thiết bị
máy móc mới, nguyên liệu mới có hiệu quả hơn trớc hoặc cải tiến kỹ thuật, nâng
cao năng suất, hiệu quả so với trớc.
75
Thứ hai, họ trực tiếp điều khiển thiết bị máy móc tạo ra kết quả của doanh
nghiệp. Hiệu quả của quá trình này thể hiện ở việc tận dụng công suất của thiết
bị máy móc, tận dụng nguyên vật liệu, chi phí trực tiếp trong sản xuất, kinh
doanh làm tăng năng suất, tăng hiệu quả từng nơi làm việc.
cơ sở vật chất trang thiết bị còn yếu kém, máy móc lạc hậu, không đồng bộ đã
75
thực sự khó khăn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. Đối với các
doanh nghiệp kinh doanh XNK thì điều này càng trở nên quan trọng hơn bởi lẽ
sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với các hãng sản xuất trong n-
ớc mà còn phải cạnh tranh với rất nhiều hãng khác trên thị trờng thế giới. Các
doanh nghiệp kinh doanh XNK phải biết tận dụng những gì do công nghệ mới
mang lại, do cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại tạo ra để sản xuất ra những hàng
hoá thực sự tối u nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất trong kinh doanh XNK và
đồng thời để thâm nhập và mở rộng thị trờng tiêu thụ ở tất cả các quốc gia.
Thực tế trong những năm chuyển đổi kinh tế vừa qua cho thấy doanh
nghiệp nào tạo dựng đợc công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bị hiện đại, làm
chủ đợc các yếu tố kỹ thuật và phát triển sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp
đó đạt đợc hiệu quả kinh tế cao, có khả năng đứng vững trên thị trờng và đem lại
những khả năng phát triển cho doanh nghiệp.
1.3. Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Trên thế giới hiện nay khoa học kỹ thuật tiến bộ đã làm thay đổi nhiều lĩnh
vực, tin học và điện tử đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thông tin đợc coi là đối
tợng lao động của các nhà kinh doanh và nền kinh tế thị trờng hiện nay đợc coi
là nền kinh tế thông tin hoá. Để kinh doanh trên thị trờng thành công các doanh
nghiệp cần rất nhiều thông tin chính xác về thị trờng, thông tin của các đối thủ
cạnh tranh, thông tin về ngời mua, ngời bán, thông tin về hàng hoá, dịch vụ, giá
cả, tỷ giá,... không những thế các doanh nghiệp kinh doanh XNK còn phải biết
đợc kinh nghiệm thành công hoặc thất bại của các doanh nghiệp trong nớc và
trên thế giới, các thông tin về chính sách vĩ mô của Nhà nớc và các nớc có liên
quan đến thị trờng XNK của doanh nghiệp.
Đặc biệt đối với doanh nghiệp kinh doanh XNK yêu cầu về thông tin càng
trở nên có ý nghĩa hơn. Thông tin trong nớc cũng nh quốc tế phải nhanh nhạy,
thông tin về tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu, quota,... phải đợc xem xét thờng
xuyên và cập nhật.
xây dựng và lựa chọn hợp lý các phơng án huy động, phân bổ và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực đầu vào phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Kinh doanh là hoạt động thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và ngày càng tối u
các yếu tố sản xuất bằng các kiến thức khoa học và nghệ thuật. Nhà quản trị
doanh nghiệp, đặc biệt là lãnh đạo doanh nghiệp, bằng phẩm chất và tài năng
của mình, có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành
đạt của công ty. Để có thể tạo dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt đòi hỏi
nhà quản trị doanh nghiệp phải có kiến thức khoa học và nghệ thuật kinh doanh
và đáp ứng đợc hai nhiệm vụ chủ yếu là:
- Xây dựng tập thể lao động thành một hệ thống đoàn kết, năng động với
chất lợng cao.
75
- Dìu dắt tập thể dới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách
vững chắc và ổn định. ở bất kỳ một doanh nghiệp nào hiệu quả kinh tế đều phụ
thuộc lớn vào tổ chức cơ cấu bộ máy quản trị, nhận thức hiểu biết về chất lợng
và trình độ của đội ngũ các nhà quản trị, khả năng xác định chính xác mục tiêu,
phơng hớng kinh doanh có lợi nhất cho doanh nghiệp.
2. Nhóm nhân tố bên ngoài
Hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, đặc biệt kinh doanh XNK nói
riêng không những chịu tác động của các nhân tố thuộc về bản thân doanh
nghiệp mà còn chịu ảnh hởng mạnh mẽ của các nhân tố tác động từ bên ngoài.
Đó là các nhân tố về môi trờng chính trị, luật pháp, văn hoá xã hội, môi trờng
quốc tế, tỷ giá hối đoái,... Các nhân tố này tác động rất lớn đến hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp kinh doanh XNK.
2.1. Môi trờng pháp lý.
Môi trờng pháp lý bao gồm luật, các văn bản dới luật, quy trình, quy phạm,
kỹ thuật sản xuất nó tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp kinh doanh XNK. Nó tạo ra bộ khung cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp phải hoạt động trong bộ
trị trong nớc ổn định sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giúp cho các doanh
nghiệp kinh doanh XNK yên tâm với hoạt động kinh doanh của mình. Khi đó
Chính phủ sẽ có những biện pháp tích cực nhằm mở rộng và kích thích, tạo đà
cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK phát huy đợc hết thế mạnh của mình và
trên cơ sở đó đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất. Môi trờng chính trị nớc
ngoài ổn định cũng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh XNK của các
doanh nghiệp. Bởi lẽ khi đó hoạt động kinh doanh của họ không bị gián đoạn do
nội chiến, đình công, xung đột,... ở thị trờng những nớc này. Đồng thời Chính
phủ các nớc này cũng sẽ có những u đãi nhất định đối với các doanh nghiệp
kinh doanh XNK trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
2.4. Môi trờng sinh thái và cơ sở hạ tầng.
Tình trạng môi trờng, sử lý phế thải, ô nhiễm và các ràng buộc xã hội về
môi trờng đều tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp kinh doanh XNK nói riêng. Nếu nh môi trờng trong
sạch và thoáng mát, hệ thống sử lý nớc thải và các chất phế thải đợc trang bị cẩn
thận và hợp lý sẽ góp phần làm giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Đây
là một trong những thuận lợi để doanh nghiệp có điều kiện để cải thiện tốt hơn
nữa các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sẽ đam lại cho
doanh nghiệp những hiệu quả kinh tế cao hơn.
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đóng vai trò rất quan trọng đối với việc trực
tiếp giảm chi phí lao động để xây dựng trang thiết bị, kỹ thuật cho doanh
nghiệp. Điều quan trọng hơn là cơ sở hạ tầng tác động trực tiếp đến chi phí kinh
doanh cũng nh thời gian vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp và do đó tác
động đến hiệu quả kinh tế. Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm tăng chi phí
đầu t, cản trở hoạt động cung ứng hàng hoá, do đó sẽ tác động xấu đến hiệu quả
kinh doanh.
75
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK thì cơ sở hạ tầng của nền kinh
tế lại càng quan trọng hơn. Nếu cơ sở hạ tầng yếu kém thì có nghĩa là vận tải
quốc tế sẽ không phát triển mà hàng hoá cần thiết phải đợc đa từ quốc gia này
thông các doanh nghiệp ngoại thơng có thể đàm phán trực tiếp với khách hàng,
bạn hàng qua telex, fax, giảm bớt những chi phí đi lại, khả năng nắm bắt thông
tin nhanh hơn. Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể nắm bắt đợc các thông tin về
75
thị trờng ngoài nớc bằng các phơng tiện truyền thông hiện đại. Bên cạnh đó, yếu
tố công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực vận tải hàng hoá, các kỹ nghệ nghiệp
vụ trong ngành ngân hàng,... đó cũng là yếu tố tác động tới công tác xuất nhập
khẩu.
Nh vậy, thách thức đối với các doanh nghiệp là việc đầu t triển khai khoa
học công nghệ mới để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo thế cạnh tranh trên thị
trờng. Do đó, các doanh nghiệp phải thờng xuyên đầu t, đổi mới, nâng cao cơ sở
kỹ thuật của mình để tránh tụt hậu, không ngừng vơn lên để đủ sức cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trờng.
2.7. Môi trờng kinh tế
Bao gồm các yếu tố nh tăng trởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế
của Chính phủ, lạm phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh
luôn luôn tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Các nhân tố này luôn tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu của
từng doanh nghiệp. Các chính sách kinh tế của Chính phủ nh chính sách tài
chính, tiền tệ, biểu thuế,... vừa tác động điều tiết vĩ mô, vừa tạo ra cơ hội, thách
thức với hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Do vậy, trong quá trình
hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn nhạy cảm với môi trờng kinh
tế để có thể ra các quyết định kinh doanh phù hợp, nâng cao hiệu quả kinh
doanh của mình.
Các chính sách của Nhà nớc ảnh hởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, nó thực sự là hệ thống các nhân tố tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu chính sách lãi suất, tín
dụng quy định mức lãi suất quá cao sẽ gây cản trở cho việc vay vốn của các
doanh nghiệp và làm tăng chi phí về vốn. Do đó làm giảm lợi nhuận hiệu quả
kinh doanh sẽ giảm.