TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ THAY ĐỔI Những lý thuyết của các quá trình thay đổi và đổi mới tổ chức - Pdf 26

Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Khoa Đào Tạo Sau Đại Học
Lớp Cao Học Quản Trị Kinh Doanh 2008

Môn Quản Trị Thay Đổi
Bài dịch chương 13
Những lý thuyết của các quá trình
Những lý thuyết của các quá trình
thay đổi và đổi mới tổ chức
thay đổi và đổi mới tổ chức
dịch từ
HANDBOOK OF ORGANIZATIONAL CHANGE
AND INNOVATION
của
Marshall Scott Poole & Andrew H. Van de Ven

Giảng viên: Ts. Nguyễn Hữu Lam
Ths. Trần Hồng Hải

Nhóm 11: Trần Ngọc Minh Sơn
Hứa Hoàng Oanh
Lê Bích Ngọc
Lê Ngọc Thế
TP.HCM, Tháng 06 – 2010
13. Những lý thuyết của các quá trình thay đổi và đổi mới tổ chức
13. Những lý thuyết của các quá trình thay đổi và đổi mới tổ chức
Marshall Scott Poole & Andrew H. Van de Ven
Bìa của cuốn sách này cho thấy một cái nhìn lướt qua con người xuyên qua vỏ bọc của các
ngôi sao và các hành tinh để nhận thấy trật tự thú vị đằng sau những chuyển động phức tạp
của chúng. Những gì người ta thấy không đơn giản là một bộ máy đồng hồ, mà còn là một
đa dạng đáng kinh ngạc của những tâm hồn và những cơ chế để hiểu rõ tương lai của các

mô hình ẩn. Do đó, các lý thuyết về thay đổi tổ chức và đổi mới có xu hướng phức tạp,
thường kết hợp một số cơ chế sinh ra khác nhau.
Thách thức trong việc phát triển các lý thuyết như vậy là hầu hết các phương pháp tiếp cận
việc xây dựng những lý thuyết và hầu hết những phương pháp khoa học xã hội được thiết
kế cho sự đơn giản hóa và sự cẩn thận. Chúng tôi phải thừa nhận rằng các ý tưởng đơn
giản thường có sức mạnh và hữu ích. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh trên việc đơn giản hóa có
xu hướng thúc đẩy sự hài lòng với hiểu biết không đầy đủ và một thứ tự của sự chấp nhận
gượng ép một phần những lý thuyết có thể làm hài lòng những sinh viên và các nhà thực
hành, nhưng vẫn thất bại trong nắm bắt các lĩnh vực quan trọng của thay đổi.
Các chương của cuốn sách này cố gắng để di chuyển qua một hình ảnh quá đơn giản,
không đầy đủ của thay đổi và đổi mới tổ chức. Họ nhận thức hiện tượng phức tạp như
những mâu thuẫn vốn có trong những nỗ lực thay đổi được hoạch định, sự đồng tiến hóa
của các tập hợp và các trường phái tổ chức, các quá trình phức tạp của thay đổi cá nhân là
những đòi hỏi của các tổ chức khi chúng thay đổi, thay đổi thể chế và thay đổi trong các
hệ thống phức tạp ở các cấp độ khác nhau của sự phụ thuộc lẫn nhau. Chúng thách thức
chúng tôi gia tăng sự phức tạp của tư duy. Nếu kết quả các lý thuyết hay những việc phải
nghiên cứu có vẻ phức tạp và trong một số trường hợp khó sử dụng, chúng tôi sẽ đề nghị
rằng đó là do chúng tôi đã quen để đơn giản hóa.
Các lĩnh vực mà khoa học xã hội nghiên cứu như các mô hình- vật lý, sinh học, hóa học,
kỹ thuật- đã công nhận từ lâu rằng các mô hình tương đối đơn giản của Newton, Lavoisier,
và Darwin che phủ sự phức tạp phải được lý thuyết hóa, nếu khoa học là phản ánh chính
xác những hoạt động của thế giới. Thật vậy, lĩnh vực mà chúng tôi tin rằng hầu hết có khả
năng như là một mô hình để nghiên cứu các tổ chức, ngành sinh học, là sự hứa hẹn hiện tại
có thể tham gia sự bùng nổ lớn nhất của ''sự phức tạp hóa'', như lý thuyết và nghiên cứu về
di truyền và sinh hóa cơ bản của ngành sinh học và hành vi tiếp tục phát triển ở một tốc độ
không kịp thở. Chúng tôi tin tưởng rằng trách nhiệm của các học giả cũng là hiểu biết và
giải quyết sự phức tạp của thay đổi và đổi mới tổ chức.
Trong khi các lĩnh vực như sinh học và vật lý đã phát triển mạnh mẽ các phương pháp tiếp
cận hiện tượng phức tạp, điều này chỉ vừa mới bắt đầu trong các nghiên cứu tổ chức (và
Trang 3

gian chi phối nhhững tương tác giữa các động lực. Sau đó, chúng tôi phá vỡ hai lý thuyết
từ cuốn sách này, giới thiệu chúng bằng những lý thuyết đơn giản hơn trong khuôn khổ.
Phân tích này cũng cho thấy các khía cạnh của hai lý thuyết có thể được phát triển hơn
nữa.
Trang 4
Một tiền đề mà chúng ta nên làm rõ ngay từ đầu là thay đổi và đổi mới tổ chức giành được
tốt nhất bởi các lý thuyết quá trình (xem thêm chương 1 của quyển này). Mohr (1982)
phân biệt các lý thuyết quá trình, trong đó tập trung vào giải thích làm thế nào những thay
đổi mở ra theo thời gian qua đường dẫn của các sự kiện chúng đi theo, từ những lý thuyết
khác nhau, trong đó tập trung vào giải thích bằng những quan hệ nhân quả giữa các biến
số. Khái niệm ban đầu của Mohr có thể được mở rộng bằng cách công nhận rằng một khái
niệm tổng quát hơn, là bài tường thuật có tính lý thuyết, làm nền tảng cho các giải thích về
quá trình (Abbott, 1990, 1992). Bài tường thuật này kết hợp quan hệ nhân quả cuối cùng
và chính thức, ngoài quan hệ nhân quả hiệu quả được nhấn mạnh bởi các lý thuyết khác
nhau. Trong một phân tích chi tiết của các phương pháp tiếp cận quá trình như đã áp dụng
cho các thay đổi và đổi mới tổ chức, Poole và cộng sự (2000) lưu ý một số ưu điểm của lý
thuyết quá trình: (1) nó sẽ cung cấp một hiểu biết sâu sắc về sự thay đổi xảy đến như thế
nào bằng sự mô tả cơ chế sinh ra điều khiển quá trình; (2) nó có thể giải thích cho sự phụ
thuộc đường dẫn và vai trò các sự kiện quan trọng trong sự thay đổi và đổi mới; và (3) nó
có thể kết hợp vai trò của lực lượng lao động trong thay đổi mà không làm giảm vai trò
với các điều khoản thuộc quan hệ nhân quả.
Một mô hình mở rộng của các lý thuyết của sự thay đổi và đổi mới
Hình 13.1 minh họa bốn loại lý thuyết lý tưởng được xác định bởi Van de Ven và Poole
(1995). Như các ô nhỏ của hình này minh họa, mỗi lý thuyết xem quá trình của phát triển
như là hé mở trong một tiến bộ khác nhau cơ bản của những sự kiện thay đổi, và như được
quản lý bởi một cơ chế sinh ra khác nhau hoặc động lực.
Theo bảng 13.1 phác thảo, các lý thuyết cũng có thể được phân biệt bằng cách: (1) bất kỳ
tình trạng kết thúc nào của quá trình cũng có thể được dự đoán từ đầu, (2) nếu đường dẫn
của sự phát triển được định trước, (3) nếu quá trình là hội tụ hay phân kỳ, và (4) nếu thời
gian là dựa trên các sự kiện hoặc các chu kỳ. Các biến thể của từng lý thuyết cơ bản cũng

hoặc những mâu
thuẫn
Tổ chức thay đổi
thông qua các biến số
ngẫu nhiên hoặc có kế
hoạch, sau đó được
lựa chọn bởi những áp
lực của môi trường,
những biến số hiệu
quả vẫn được giữ lại
trong tổ chức
Có phải tình trạng
cuối cùng của quá
trình thay đổi đã được
xác định từ đầu?
Đúng, điểm kết
thúc có trong
trình tự
Đúng, kết thúc bởi
mục tiêu
Sai, tình trạng kết
thúc nổi lên từ quá
trình
Sai, tình trạng kết thúc
nổi lên từ quá trình
Có phải đường dẫn
của sự phát triển được
định trước?
Đúng Sai Sai Sai
Quá trình thay đổi Hội tụ Phân kỳ Phân kỳ Hội tụ

công nghiệp theo vòng đời sản phẩm. Đường dẫn phát triển của vòng đời là quyết định; có
một hoặc một vài đường dẫn mà tổ chức phát triển có thể làm theo, được quy định chung
bằng một tập hợp các giai đoạn của sự phát triển.
Thay đổi trong lý thuyết vòng đời có xu hướng được phôi thai, liên quan đến sự tiến bộ từ
giai đoạn này đến giai đoạn tiếp theo khi tổ chức phát triển. Trong khi có thể có sự phát
triển liên tục trong suốt các giai đoạn trong lý thuyết vòng đời, quá trình chuyển tiếp từng
giai đoạn liên quan đến một thay đổi chất lượng trong tổ chức và đôi khi trong chính bản
chất của quá trình phát triển. Như tên gọi ngụ ý, thời gian cho một lý thuyết vòng đời là
tuần hoàn: các mô hình vòng đời bao gồm những cột mốc lặp đi lặp lại mà những cột mốc
của tổ chức từ khi thành lập đến lúc chuyển nhượng hoặc làm tròn bổn phận. Sau khi kết
thúc chu kỳ hoàn tất, quá trình được thiết lập để bắt đầu chu kỳ mới, với cùng hoặc khác tổ
chức.
Một vòng đời đòi hỏi phải hội tụ trong tổ chức phát triển. Có thể có xung đột hay sự phân
kỳ trong các giai đoạn và xung đột cũng có thể kích hoạt những chuyển tiếp giữa các giai
đoạn, nhưng tổ chức giống như một tổng thể trải qua các thay đổi liên kết với một vòng
đời và kết quả cuối cùng của một vòng đời là một tổ chức hoàn chỉnh. Ví dụ, trong mô
hình các tổ chức tăng trưởng của Greiner (1972), các cuộc khủng hoảng phát sinh trong
suốt mỗi giai đoạn, nó kích hoạt những đáp ứng làm di chuyển tổ chức sang giai đoạn kế
tiếp. Sự tăng trưởng sớm thông qua các sáng tạo, ví dụ, các kết quả trong một cuộc khủng
hoảng đòi hỏi sự nổi lên của một lãnh đạo mạnh mẽ và có tầm nhìn cho tổ chức; khi lãnh
đạo này nổi lên, tổ chức đi vào một giai đoạn tăng trưởng thông qua các chỉ dẫn. Sự tiến
bộ này xảy ra thông qua khủng hoảng, nhưng tổ chức như là một tổ chức đang trải qua sự
thay đổi.
Có ba biến số của lý thuyết vòng đời, tuỳ thuộc vào việc cơ chế sinh ra được điều chỉnh
bởi những yêu cầu tự nhiên, hợp lý hay thể chế. Các trình tự điều khiển của các yêu cầu tự
nhiên hay hợp lý sử dụng một quyết định mạnh mẽ hơn trên tổ chức phát triển so với các
điều khiển của những chuẩn mực có tính thể chế hoặc các quy luật. Các vòng đời tự nhiên
và hợp lý gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình này, bởi vì các giai đoạn sau trong trình
tự phụ thuộc vào và được xác định bằng các thành quả trong giai đoạn trước đó. Trong
Trang 8

hoặc dự định bởi các tổ chức. Trình tự này nổi lên thông qua việc ban hành có mục đích
hoặc cấu trúc xã hội của một tình trạng kết thúc đã được hình dung giữa các cá nhân trong
tổ chức.
Trang 9
Các ví dụ về những lý thuyết thay đổi mục đích luận có thể được tìm thấy trong các lý
thuyết của thuyết biểu sinh (Etzioni, 1963), học tập thích nghi (March và Olsen, 1976), và
hầu hết các mô hình hoạch định chiến lược và ra quyết định (Chakravarthy và Lorange,
1991; Mintzberg, Raisinghani và Theoret, 1976; Nutt, 1984). Trong một thay đổi của lý
thuyết mục đích luận, việc thiết lập một mục tiêu đáp ứng cho một vấn đề được nhận thức
hay cơ hội đặt quá trình trong sự vận động. Tổ chức được giả định là có mục đích và thích
ứng bởi chính nó hoặc trong tương tác với các tổ chức khác, nó cấu trúc một tình trạng kết
thúc đã được hình dung, sẽ hành động để đạt được điều đó và giám sát tiến bộ của tổ chức.
Như vậy, các lý thuyết mục đích luận xem sự phát triển như là một chuỗi lặp đi lặp lại của
việc xây dựng mục tiêu, thực hiện, lượng giá và sửa đổi các mục tiêu dựa trên những gì đã
được học hoặc dự định của tổ chức.
Lý thuyết này có thể hoạt động trong một tổ chức đơn lẻ hoặc trong một nhóm các tổ chức
hợp tác nào được đồng nhất đủ để hoạt động như một tổ chức chung đơn lẻ. Vì các quá
trình mục đích luận là mục tiêu điều khiển, các đường dẫn phát triển được theo bởi tổ chức
là không được định trước, nhưng được tạo ra bởi các hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu.
Từ khi có nhiều cách để gặp bất kỳ mục tiêu nào đó, nhiều đường dẫn có khả năng và
không có trình tự của các giai đoạn hay các bước. Trong khi một số lý thuyết mục đích
luận xác định các bước hoặc các giai đoạn, có nhiều đường dẫn thông qua các bước này,
và đường dẫn được xác định bằng sự cấp bách phát sinh trong suốt quá trình như các vấn
đề được giải quyết bởi tổ chức phát triển.
Ví dụ: trong mô hình của chiến lược ra quyết định của Mintzberg và cộng sự (1976), nhà
quản lý phải nhận thấy các vấn đề hay cơ hội, phát triển một tình huống chẩn đoán, đưa ra
một giải pháp, đáp ứng các bên tham gia và đạt tới sự ủy quyền. Mười hoạt động khác biệt
góp phần tạo ra năm điều kiện tiên quyết, và những người ra quyết định tham gia vào
nhiều trình tự khác nhau và các sự kết hợp của các hoạt động này, phụ thuộc vào các cấp
bách bên trong và bên ngoài. Cũng không phải là một thứ tự đặc biệt trong đó các điều

tiêu dùng thu nhập cao'' (Porac, Thomas và Baden-Fuller, 1989, trang 409). Chiến lược
này không được hoạch định có ý thức nhưng nổi lên khi các nhà sản xuất đấu tranh để tìm
thấy một thị trường ngách thích hợp khi đối mặt với cạnh tranh khốc liệt. Tuy nhiên, chiến
lược này có những điểm nổi bật của ý định và mục đích mỗi khi nó nổi lên, và nó định
hướng hoạt động tiếp theo giống như là nó đã được đặt ra một cách cẩn thận ngay từ ban
đầu.
Lý thuyết quá trình biện chứng (Thay đổi xung đột)
Trong các mô hình biện chứng của sự phát triển, những xung đột nổi lên giữa các thực thể
theo một luận điểm chống đối và phản đề mà va chạm tạo ra một sự tổng hợp, mà theo
thời gian trở thành luận điểm cho chu kỳ tiếp theo của sự tiến triển biện chứng. Đối đầu và
xung đột giữa các thực thể đối lập này tạo ra chu kỳ biện chứng.
Trang 11
Thay đổi nổi lên từ một động lực biện chứng thông qua những nỗ lực để giải quyết mâu
thuẫn, xung đột, hoặc căng thẳng bên trong hoặc xung quanh các đơn vị. Những lý thuyết
biện chứng mẫu mực của sự thay đổi bao gồm lý thuyết của Marx (1954) về sự phát triển
kinh tế và nhiều phiên bản của nó, lý thuyết của Smith và Berg (1987) về các nghịch lý
trong cuộc sống nhóm, và lý thuyết của Sztompka (1993) về thay đổi xã hội. Những căng
thẳng và chống đối mà Seo, Putnam, và Bartunek (chương 4 của quyển này) thảo luận
trong các lý thuyết hoạch định của thay đổi cũng gây ra những quá trình biện chứng của
thay đổi.
Trong những lý thuyết biện chứng, không giống như các lý thuyết vòng đời, mục đích
hoặc điểm kết thúc của một quá trình thay đổi không rõ ràng ngay từ khi bắt đầu, nhưng
nổi lên từ quá trình biện chứng. Trong một số trường hợp, thay đổi được định hướng bởi
xung đột hay mâu thuẫn của chính nó. Ví dụ, trong lý thuyết của Marx, mỗi thời đại kinh
tế mới nổi lên do sự xung đột giữa các luận điểm và phản đề. Chủ nghĩa tư bản xuất hiện
do sự mâu thuẫn giữa các tổ chức kinh tế phong kiến và các lực lượng đang tăng trưởng
của sản xuất, thúc đẩy bởi những khám phá khoa học như động cơ hơi nước và đồng hồ.
Bản chất và cơ chế tổ chức kinh tế tư bản giữ lại những cái bóng của chế độ phong kiến
(đối với một việc là một hệ thống cấp bậc của quyền lực, nhưng thời gian này, những
người ở cấp thống trị là các nhà tư bản và không truyền cho giai cấp quý tộc), nhưng cũng

Hai biến thể của lý thuyết thay đổi biện chứng có thể phân biệt: (1) luận đề, phản đề, và
tổng hợp theo Hegel về quá trình xung đột cơ bản và (2) một quá trình Bakhtinian về
những biện chứng căng thẳng cơ bản.
Những biện chứng xung đột vận hành thông qua sự nổi lên của một phản đề để phản ứng
lại một luận đề và việc giải quyết xung đột tiếp theo trong một sự tổng hợp. Trong khi một
chu kỳ mới có thể bắt đầu trong sự tổng hợp đã đạt được, sự tổng hợp đại diện cho một
việc giải quyết tạm thời của xung đột hay mâu thuẫn. Ví dụ, xung đột giữa lợi ích của
những công nhân và những người quản lý trong một công ty gặp khó khăn tài chính có thể
được nhận thức trong các phạm vi sau: vị trí của nhân viên nổi lên như một phản đề đối
với công ty được kiểm soát bởi ban quản trị điển hình (luận đề) và một cách giải quyết
thông thường là đối với công nhân thì công ty trả tiền cho họ để họ từ bỏ quyền quản lý,
kể từ đây công ty trở thành sự quản lý của chính họ (tổng hợp). Việc tổng hợp được bao
gồm các yếu tố từ cả hai luận đề và phản đề, và đại diện cho một điểm ổn định trong quá
trình thay đổi (ít nhất tạm thời). Các phong trào thông qua các biện chứng Hegel thường bị
phản đối bởi đơn vị; nó có thể cố gắng bỏ qua, đàn áp, hoặc chống lại các phản đề, và
phong trào thường chỉ xảy ra sau một khoảng thời gian đáng kể của xung đột. Một phần
quan trọng của ''câu truyện'' thay đổi và đổi mới cho phép biện chứng Hegel là sự chống
đối và xung đột đi kèm với phong trào qua các giai đoạn, để chúng có thể thiết lập nên
những năng động tạo ra quá trình biện chứng tiếp theo.
Một sự lựa chọn thay thế cho biện chứng Hegel là phép biện chứng căng thẳng (Bakhtin,
1981; Werner và Baxter, 1994), trong đó đề xuất rằng thay vì phát triển thông qua một mô
Trang 13
hình luận đề - phản đề - tổng hợp, biện chứng đóng vai trò chính nó trong một chuỗi
không bao giờ kết thúc của căng thẳng giữa các thuyết nhị nguyên như hội nhập - khác
biệt. Mỗi mặt của nhị nguyên đòi hỏi phía đối lập phải tồn tại, và có tương tác lẫn nhau
ngay lập tức giữa hai bên. Các khái niệm đối lập tương hỗ bao hàm lẫn nhau, tồn tại thông
qua sự đối kháng của chúng, và luôn luôn duy trì hoạt động như là các nguồn tiềm tàng
của sự thay đổi. Trong chương của Seo, Putnam, và Bartunek đã bàn luận, những mối
căng thẳng tồn tại cùng thời điểm; chẳng hạn như áp lực cho sự hội nhập - khác biệt, tập
trung bên trong - bên ngoài, và phụ thuộc - độc lập lẫn nhau. Thay đổi được định hình bởi

kiện ''mù'' ngẫu nhiên hoặc có chủ ý (Campbell, 1974). Sự chọn lọc có thể được thúc đẩy
bởi các lực lượng bên ngoài môi trường, nhưng nó cũng có thể được thực hiện thông qua
các sự lựa chọn của nhân vật. Sự duy trì có thể được thực hiện thông qua các cơ chế tiến
hóa tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được diễn ra trong các cấu trúc được xây dựng đặc
biệt giống như những cơ sở dữ liệu được tạo ra để quản lý kiến thức.
Trong lý thuyết tiến hóa, sự xuất hiện của các biến thể trong quá trình chọn lọc cạnh tranh,
và duy trì không thể được dự đoán trước thời gian, bởi vì việc dịch chuyển các áp lực cạnh
tranh các nguồn lực khan hiếm trong môi trường. Do đó, hướng của đơn vị cho một động
lực tiến hóa có thể dự đoán trước một cách yếu ớt một hoặc nhiều chu kỳ biến thể - sàng
lọc - duy trì sẽ xảy ra, nhưng số lượng các chu kỳ và các hướng hoạt động cụ thể qua các
chu kỳ này là không được xác định. Lý thuyết tiến hóa rẽ nhánh ở chỗ nó nhấn mạnh biến
thể như là nguồn gốc của sự thay đổi. Để sống sót trong quá trình tiến hóa, các biến thể
phải làm cho đơn vị thích nghi tốt hơn cả trong nội bộ và trong môi trường hiện tại của nó,
gây ra một sự gián đoạn với các hình thức trước đó. Cuối cùng, lý thuyết tiến hóa hợp
thành một quan điểm tính chu kỳ theo thời gian mà thước đo của nó được xác định bằng
ba giai đoạn, liên tục lặp lại thành công khi các thực thể phát triển.
Các lý thuyết thay thế của sự tiến hóa xã hội có thể được phân biệt về những đặc điểm
được thừa kế như thế nào và đơn vị của việc phân tích.¹ Những biến thể này phản ánh các
quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu đầu tiên của tiến hóa: Darwin, Lamarck,
Mendel, và Gould. Tổ chức các nhà nghiên cứu theo quan điểm của Darwin về sự tiến hóa
(ví dụ, Hannan và Freeman, 1977, 1989; McKelvey, 1982) lập luận rằng những đặc điểm
đạt được thông qua các quá trình liên thế hệ, trong khi những người theo quan điểm của
Lamarck (ví dụ, Burgelman, 1991; Singh và Lumsden, 1990) lập luận rằng những đặc
điểm cũng có thể đạt được trong vòng một thế hệ thông qua học tập và bắt chước. Tổ chức
các nhà tiến hóa theo học thuyết Darwin lập luận rằng các biến thể hoặc các hình thức tổ
chức mới được xác định và in dấu khi sinh ra và không thay đổi trong suốt thời gian sống
của một tổ chức, nhờ vào quán tính tổ chức. Ngược lại, những người theo quan điểm
Lamarck cho rằng các tổ chức học tập và tiếp thu các biến thể mới tại các thời điểm khác
nhau trong suốt vòng đời của chúng. Ngày nay, hầu hết tổ chức các nhà nghiên cứu chấp
nhận quan điểm của Lamarck về việc đạt được những điểm tiêu biểu.

mà được gặp nhau để sản xuất các hình thức mới, thường được lồng trong các mạng lưới
phức tạp của hệ đẳng cấp phụ thuộc lẫn nhau ở trong và giữa các tổ chức, thì các sự kết
hợp lại của chúng thường sinh ra các hình thức lai mới của tổ chức. Nghiên cứu về các
cách thay thế kết hợp các hình thức tổ chức xa xưa để tạo ra những tổ chức mới yêu cầu
việc truy tìm dòng dõi phả hệ của các sự sắp xếp tổ chức từ những hình thức xa xưa cho
đến hiện tại. Phả hệ là một hồ sơ gốc hoặc dòng dõi của một nhóm từ xa xưa của nó. Như
Trang 16
McKelvey (1982) đề nghị, so với việc nghiên cứu các tỷ lệ tổ chức sinh và tử, một nghiên
cứu phả hệ có thể nắm bắt tốt hơn làm thế nào mà các hình thức tổ chức được tạo ra, điều
chỉnh, và tái tạo lại thông qua các mối nối, sự hợp nhất, hoặc tương tác giữa các nguồn gốc
của họ trong một cộng đồng.
Một nhân tố khác phân biệt các lý thuyết tiến hóa là cấp độ của phân tích. Gould và
Eldridge (1977), Arnold và Fristrup (1982), và Gould (1989) chỉ ra rằng thuyết Darwin cổ
điển nằm trong việc phân loại của sự thay đổi tiến hóa ở cấp độ của các sinh vật đơn lẻ.
Việc phân loại này là hoạt động chọn lọc tự nhiên thông qua việc sinh ra và chết đi khác
nhau của các sinh vật riêng lẻ, được minh họa bằng nhiều nghiên cứu sinh thái học dân số
của các tỷ lệ tổ chức sinh và tử. Mô hình nhấn mạnh cân bằng của Gould thêm vào một
chiều hướng phân cấp cho thuyết tiến hóa bằng cách phân biệt việc phân loại (tăng trưởng
hay suy giảm của các sinh vật của một loài nhất định) từ sự hình thành loài (quá trình mà
các loài hoặc các nhóm mới được hình thành). Cái nhìn ở nhiều cấp độ này của sự tiến hóa
sẽ quan trọng khi chúng tôi tìm hiểu mối quan hệ liên cấp độ xen vào giữa các động lực
thay đổi sau đó trong chương này.
Các ý nghĩa thực tiễn
Trong khi loại hình học được thiết kế chủ yếu như một trợ giúp để phát triển lý thuyết, nó
cũng có một mặt thực tế. Đặc biệt, nó cho thấy những sai sót thực hiện có thể xảy ra trong
các quá trình thay đổi cho mỗi động lực. Các quá trình mục đích luận của sự thay đổi
hoạch định là vấn đề cho những thành kiến nhận thức cá nhân (Kahneman, Slovic, và
Tversky, 1982) - những sai sót trong tư duy phê phán và ra quyết định (Nutt, 2002), leo
thang các cam kết cho các tiến trình thất bại của hành động (Ross và Staw, 1986), và suy
nghĩ theo nhóm (Janis, 1989). Các quá trình biện chứng của thay đổi thường thất bại do

Bốn động lựcphân định các phần cần thiết của một giải thích đầy đủ, cung cấp các tiêu
chuẩn để xây dựng và đánh giá các lý thuyết của sự thay đổi và phát triển.
Thứ ba là, khuôn khổ hỗ trợ nghiên cứu quy nạp bằng cách viết ra các đặc tính của bốn
động lực và các điều kiện mà chúng có khả năng hoạt động. Thay vì dựa vào những định
kiến về giả thuyết là tốt nhất, các nhà nghiên cứu có thể áp dụng các kiểm tra cho bốn
động lực để xem cái nào phù hợp với những hiện tượng phức tạp đang được kiểm tra. Điều
này giúp ngăn chặn những lời tiên tri tự hoàn thành có thể xảy ra khi chúng tôi mong đợi
một số lượng nhất định của các giai đoạn phát triển hoặc của một quá trình nhất định, việc
này quá dễ dàng để tìm thấy bằng chứng trong các quá trình phức tạp cho bất cứ điều gì
chúng tôi mong đợi, và bỏ qua các động lực khác (Poole, 1981).
Cuối cùng, khuôn khổ mang đến những cái nhìn sâu vào các mối quan hệ giữa các giải
thích đa dạng của sự thay đổi và phát triển tổ chức. Theo cuốn sách này cho thấy, một loạt
các lý thuyết đã được nâng cao, vay mượn từ nhiều ngành như sinh học và phát triển con
người. Sự đa dạng của các lý thuyết và các khái niệm vay mượn từ các ngành khác nhau
Trang 18
đã thường xuyên khuyến khích chia tách quan điểm mà không làm phong phú thêm cho
nhau và tạo ra các dòng cô lập của nghiên cứu (Gioia và Pitre, 1990). Bất kỳ quan điểm lý
thuyết đơn luôn cung cấp chỉ một phần mục của một hiện tượng phức tạp. Như được thảo
luận trong phần kế tiếp, đó là ảnh hưởng lẫn nhau giữa những quan điểm khác nhau giúp
các nhà nghiên cứu đạt được một sự hiểu biết toàn diện hơn. Loại hình học có thể được sử
dụng để phát hiện ra những điểm tương đồng trong các lý thuyết dường như khác nhau và
để làm nổi bật “những khác biệt làm nên một sự khác biệt” trong các giải thích. Điều này
làm cho có thể phân biệt sự phổ biến trong một loạt các lý thuyết cụ thể mà có thể bị bỏ
qua.
Các lý thuyết phức tạp của thay đổi và đổi mới tổ chức
Hầu hết các quá trình quan sát của sự thay đổi, phát triển, và đổi mới tổ chức là phức tạp
hơn các loại lý tưởng. Một lý do cho việc này là thay đổi và đổi mới tổ chức diễn ra xuyên
qua không gian và thời gian, như được thảo luận trong chương 1. Kết quả là, nhiều hơn
một động lực có thể vận dụng trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Phát triển và thay đổi tổ
chức chịu ảnh hưởng bởi các đơn vị và các nhân vật đa dạng, cả bên trong và bên ngoài tổ

luận có thể kích hoạt bước khởi đầu trong vòng đời và phản đề trong mô hình biện chứng.
Sự tổng hợp trong mô hình biện chứng có thể là nguồn gốc của sự biến thể trong chu kỳ
tiến hóa. Có những khả năng khác, theo đó các mô hình khác có thể bổ sung không đầy đủ
bất kỳ mô hình đơn lẻ nào của sự thay đổi.
Có thể chấp nhận là có nhiều lý thuyết của sự thay đổi và đổi mới được kết hợp nhiều hơn
một động lực, bây giờ chúng tôi sẽ xem xét các kiểu tương tác giữa các động lực. Thông
qua các thảo luận tiếp theo chúng tôi sẽ rút ra và cố gắng thêm vào quan điểm về lý thuyết
và ý tưởng tiên tiến cho các chương trước.
Xây dựng những lý thuyết phức hợp bằng cách kết hợp nhiều động lực
Một lý thuyết phức hợp tốt cho sự thay đổi hoặc đổi mới chỉ ra cụ thể và rõ ràng nơi mà
các động lực khác nhau kết hợp lại với nhau - không gian, thời gian tại thời điểm chúng
hoạt động và tính chất, mức độ ảnh hưởng giữa chúng lẫn nhau. Ba khía cạnh chính có thể
phân biệt. Trước tiên, chúng tôi chỉ ra được các hình thức khác nhau của các mối quan hệ
liên cấp. Các tổ chức ở đây là tổ chức đa cấp và lý thuyết của sự thay đổi hoặc đổi mới của
tổ chức phải được xem như là quá trình tương tác lẫn nhau ở nhiều cấp độ khác nhau. Giả
định chung nhất là các mối quan hệ có thứ bậc trong đó cấp cao hơn thâu tóm và thiết lập
các giới hạn hoạt động của cấp thấp hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong ba loại hình của
mối quan hệ liên cấp mà chúng tôi sẽ thảo luận. Thứ hai, chúng tôi thảo luận về các mối
quan hệ chuẩn giữa các động lực có thể thấy được, ngay cả chúng vượt hoặc nằm trong
phạm vi ở nhiều thứ bậc. Trong khi các mối quan hệ tích cực và tiêu cực tuyến tính được
cho là phổ biến nhất, thì các nghiên cứu gần đây về lý thuyết phức hợp và lý thuyết hệ
thống phi tuyến cho rằng có nhiều mối quan hệ phức tạp khác có thể được giữ vững
thường xuyên hơn. Cuối cùng, chúng tôi xem xét quy mô thời gian mà tại đó các động lực
khác nhau và làm thế nào các động lực hoạt động với quy mô thời gian khác nhau liên
Trang 20
quan đến nhau. Cuối cùng, chúng tôi xem xét các quy mô thời gian mà các động lực khác
nhau hoạt động và liên quan như thế nào giữa các động lực có quy mô thời gian khác
nhau.
Chúng tôi nên lưu ý là các động lực ở một lý thuyết phức hợp có thể giống hoặc khác
nhau. Một cách tiếp cận phổ biến nhất cho các mô hình sinh thái gần đây của sự thay đổi

kết luận rằng ''sự cần thiết cấp bách nhất là phát triển một khung rộng hơn cho các suy
nghĩ về sự thay đổi tổ chức;. . . [Một điều đang xem xét] phương thức thay đổi [bốn động
lực thay đổi của chúng tôi] và một cấp độ mà tại đó nó xảy ra (tổ chức hoặc ngành)'' (trang
71). Dưới lý thuyết tiến hóa xã hội, Baum và Singh (1994) và Miner (1994) cũng đã kêu
gọi mở rộng lý thuyết này để chúng bao gồm nghiên cứu về các quá trình của sự biến thể,
sàng lọc và duy trì giữa các cấp độ khác nhau của các thực thể của tổ chức.
Nếu sự thay đổi tổ chức là một hiện tượng đa cấp độ và các động lực có khả năng hoạt
động trên các cấp độ khác nhau của phân tích, thì những kiểu nào của các mối quan hệ
cùng cấp có thể có? Chúng tôi có thể phân biệt các động lực lồng vào nhau, xen vào nhau
và kết hợp với nhau.
Các động lực được lồng vào nhau khi một động lực cấp thấp hơn được liên kết chặt chẽ
với các động lực bậc cao hơn, các chức năng phục tùng của động lực cấp thấp hơn kết nối
trực tiếp với các hoạt động của động lực cấp cao hơn. Ví dụ, một chu kỳ sống hoặc một
động lực có mục đích luận có thể diễn tả các hành động của các cá nhân tham gia vào quá
trình VSR nằm trong động lực tiến hóa. Trong trường hợp này, động lực cấp thấp làm mẫu
các biểu hiện để có thể cấu thành lên quá trình tiến hóa để làm sao chúng có thể tương
thích với quá trình của cấp cao hơn. Tuy nhiên, các chức năng này được thực hiện bởi một
động lực được lồng nhau không cần xác thực hoặc hỗ trợ, chúng chỉ cần sự giúp đỡ để
hướng theo động lực cấp cao hơn. Mô hình phát triển tổ chức của Greiner (1972) đã thừa
nhận có chu kỳ tồn tại của sự sáng tạo, ủy thác, sự phối hợp và cộng tác. Ở mỗi giai đoạn
khi lên đến cực điểm của các cuộc khủng hoảng biện chứng khác nhau (của sự thống trị, tự
chủ, kiểm soát, cô lập, và ''?''), đẩy các tổ chức vào giai đoạn tiếp theo của sự tăng trưởng.
Những cuộc khủng hoảng này được hình thành bởi các cuộc đấu tranh giữa các cá nhân,
những người đang cố gắng đối phó với các vấn đề của tổ chức. Quá trình chống đối làm
suy yếu giai đoạn đó kết hợp lại thành một cuộc khủng hoảng dẫn đến việc tiến bộ của quá
trình đó.
Trong cấu trúc phân cấp lồng vào nhau của các cá nhân trong các tổ chức nằm trong các
cộng đồng hoặc các ngành, các tổ chức đại diện cho bản thân nhưng là một cấp duy nhất
của phân tích, tất cả đều bao gồm và bao phủ bởi các cấp khác. Các tổ chức được xem như
là hệ thống đang phát triển được lồng vào các hệ thống khác đã phát triển ở mức độ cao

mô hình mục đích luận của một sự thay đổi được hoạch định trong một tổ chức có thể là
giả thuyết cho sự phát triển của nhiệm vụ chung được chia sẻ bởi nhiều cá nhân (Bryson,
1988). Tuy nhiên, những cá nhân giống nhau này cùng phát triển dọc theo tiến trình sống
riêng của chúng và có thể gặp áp lực giữa tập hợp hay độc lập vì một tổ chức sẽ nỗ lực để
sở hữu được bản thân nhằm phá hủy cho nhiệm vụ chung (Putnam và Stohl, 1996). Những
áp lực có thể hướng một số cá nhân chọn "không tham gia" tổ chức do việc dành năng
Trang 23
lượng của chúng cho các phần khác của cuộc sống. Trong trường hợp này, quy trình cấp
cá nhân có thể làm suy yếu các quá trình của cấp tổ chức hoặc họ có thể đẩy mạnh các
quá trình này, tùy thuộc vào quá trình các cá nhân giao nhau với các giai đoạn của chu kỳ
sống (Moreland và Levine, 1988). Lần lượt, các chu kỳ sống của tổ chức ảnh hưởng đến
chu kỳ sống của cá nhân bởi chúng là một, mặc dù không phải là yếu tố duy nhất trong thế
giới của chúng. Hai quá trình cá nhân và tổ chức có tính toàn vẹn của riêng mình và ảnh
hưởng lẫn nhau.
Có hiện tượng "trượt" trong các mối quan hệ của động lực cản trở. Sự ảnh hưởng của một
động lực ở cấp độ này lên một động lực ở cấp độ khác là một quá trình trung gian mà qua
đó các động lực gắn kết với nhau. Bản chất của quá trình này sàn lọc các tác động liên cấp,
ảnh hưởng đến sức mạnh và bản chất của vị thế. Tùy thuộc vào quá trình, ảnh hưởng liên
cấp có thể mạnh hay yếu và cũng có thể thay đổi theo thời gian. Theo các ví dụ minh họa,
các mối quan hệ thứ bậc thường liên quan đến các mối liên kết chặt chẽ, theo đó các khóa
liên động của động lực là rõ ràng. Trong các mô hình sinh học, các đặc tính di truyền cung
cấp một đối tượng ranh giới chính mà trên đó quá trình có thể hoạt động từ nhiều cấp độ.
Trong các phiên bản tổ chức của thuyết tiến hóa, các dạng tương tự của đặc tính di truyền
là rất khó xác định, nhưng Van de Ven và Grazman (1999) cho rằng hình thức tổ chức
(được định nghĩa dưới dạng các thước đo như nhiệm vụ, cấu trúc thẩm quyền, công nghệ
và thị trường) là các công cụ cơ bản của sự phát triển của tổ chức (xem thêm Baum và Rao
về lập luận này). Họ thừa nhận rằng các khía cạnh của hình thức là nương tựa, kết hợp lại
và tạo mới trong quá trình phát triển của tổ chức, là kết quả trong một phả hệ của các hình
thức tổ chức. Các động lực cản trở hoạt động không có điểm chung. Thay vào đó, nó là
cần thiết để xác định một quá trình độc lập của các động lực mà chúng tự kết nối với các

các câu hỏi như thế này. Các động lực cản trở nên được nhình nhận là phổ biến chắc chắn
hơn nhiều so với các tài liệu hiện tại. Khó khăn lớn của họ có thể đã khuyến khích các nhà
nghiên cứu trong việc khái niệm những điều này hoặc khuyến khích họ áp đặt những điều
đó vào khuôn khổ thứ bậc.
Loại thứ ba là động lực tổng hợp đại diện cho trường hợp mà một quy trình ở cấp độ cao
hơn nổi bậc lên hoặc được thành lập bởi sự kết hợp của các quá trình cấp thấp hơn. Trong
trường hợp này, một quá trình cấp cao hơn được thành lập bởi sự tập hợp của các quá trình
cấp thấp hơn phụ thuộc lẫn nhau. Nhiều mô hình hành động tập hợp trong đó có một hành
động hợp lý bởi một nhóm các cá nhân dẫn đến một sự thay đổi cấu trúc xã hội hay tập
thể, là một ví dụ được phát triển mạnh của động lực tổng hợp (Coleman, 1990). Trong khi
đó các động lực lồng nhau chặt chẽ và các động lực cản trở được kết nối với nhau tương
đối; các quá trình ở cấp cao hơn trong các động lực tổng hợp là phụ thuộc mạnh vào các
động lực cấp thấp hơn. Tuy nhiên, gần như là một liên kết hoặc khớp nối, quá trình ở cấp
cao hơn theo hơn nghĩa đen là sự kết hợp của các động lực cấp thấp hơn. Các hình thức
khác nhau của sự kết hợp xác định các kiểu khác nhau của quá trình trật tự cao hơn.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status