Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
lời Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay vấn đề nhân cách đợc nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trong quá trình phát triển của các khoa hoc, đặc biệt là các khoa hoc xã hội,
nghiên cứu về con ngời nói chung và nhân cách nói riêng là một đòi hỏi tất yếu.
ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới đất nớc, Đảng và Nhà nớc đặc bịêt coi
trọng nguồn lực con ngời. Muốn công nghiêp hoá, hiện đại hoá đất nớc thành công
thì phải đặt con ngời lên vị trí trung tâm, phải có con ngời đạo đức trí tuệ. Xây
dựng con ngời xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với xây dựng nhân cách
phát triển hài hoà.
Trong khoa học tâm lý, nhân cách là vấn đề trung tâm và hết sức rộng lớn,
trong đó mỗi chuyên nghành lại đi sâu vào những lĩnh vực khác nhau. Giống nh
các chuyên nghành khác, tâm lý học pháp lý cũng nghiên cứu nhân cách nhng đối
tợng mà nó hớng tới là nhân cách của những ngời tham gia tố tụng nh: bị can, bị
cáo, ngời phạm tội, luật s, kiểm sát viên.
Trong các nhóm xã hội, phạm nhân là nhóm ngời đăc biệt. Họ là những ng-
ời đã phạm lỗi lầm nghiêm trọng trong quá khứ, bị đa ra xét xử, bị kết án tù và
hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam. Theo các nhà tâm lý học pháp
lý, ở phạm nhân có nhiều nét nhân cách tiêu cực, có nhiều biểu hiện lệch lạc trong
lĩnh vực động cơ. Ngoài ra, trong tâm lý học tội phạm từ lâu cũng đã tồn tại quan
điểm cho rằng, phạm nhân là những ngời có nhiều điểm tâm lý không phù hợp với
yêu cầu, đòi hỏi của xã hội và đây chính là một trong những nguyên nhân đa họ
đến hành vi phạm tội. Thời gian phạm nhân chấp hành hình phạt tại trại giam là
thời gian diễn ra nhiều diễn biến tâm lý phức tạp trong con ngời họ. Đây có lẽ là
một trong những lí do khiến không ít nhà tâm lý học chọn phạm nhân làm khách
thể nghiên cứu, thậm chí trong tâm lý học còn xuất hiện nhiều chuyên nghành
nghiên cứu về phạm nhân: tâm lý học tội phạm, tâm lý học cải tạo.
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
1
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
- Đối tợng nghiên cứu
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân.
- Khách thể nghiên cứu
Phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam.
Ngoài ra, chúng tôi có tiến hành thu thập và lấy ý kiến của một số cán bộ
giáo dục, quản giáo trại giam.
5. Giới hạn nghiên cứu
- Về khách thể nghiên cứu:
Chúng tôi chỉ tiến hành điều tra,khảo sát trên một số lợng hạn chế các phạm
nhân hiện đang thi h nh án tại trại giam.
- Nội dung:
Vấn đề nhân cách là một vấn đề phức tạp và đến nay vẫn còn nhiều tranh
luận trong giới khoa học. Trong khoá luận này, chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm
nhân cách của các phạm nhân đợc nghiên cứu, tìm hiểu các nguyên nhân chủ quan
và khách quan dẫn họ tới hành vi phạm tội. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến các
nguyên nhân liên quan đến bản thân phạm nhân, gia đình và các yếu tố xã hội
khác.
6. Giả thuyết khoa học
Qua quá trình tổ chức nghiên cứu, tiếp xúc với các phạm nhân, tôi cho rằng
nhân cách của phạm nhân có những nét đặc trng, khác biệt so với các đối tợng
khác. Sự khác biệt này biểu hiện trên nhiều mặt khác nhau: nhận thức, cảm xúc,
hành vi, các thuộc tính tâm lí nhân cách.
7. phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
- Trắc nghiệm nhân cách của Cattell;
- Phơng pháp phỏng vấn sâu;
- Phơng pháp nghiên cứu hồ sơ phạm nhân;
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
3
thức mà là vô thức, coi sự thoả mãn tình dục là động lực hoạt động. Ông giải thích
mọi hiện tợng xã hội, tệ nạn, chiến tranh đều do bản năng tình dục gây ra.
Không đồng ý với chủ nghĩa sinh học trong học thuyết phân tâm của S.
Freud, một số cộng sự cũng nh học trò của ông đã rời bỏ học thuyết Freud và hình
thành học thuyết phân tâm học mới phát triển theo nhiều hớng khác nhau: Karl
Jung, Erich Fromn.
Lí thuyết đặc điểm nhân cách với các đại diện nh: Cattell, Allport, Esensk,
mặc dù đi sâu vào những vấn đề khác nhau và đa ra các quan điểm khác nhau về
nhân cách nhng theo họ nhân cách con ngời đều có những nét đặc trng nhất. Các
đặc trng đó là nền tảng của nhân cách. Những nhà tâm lý học này đều cho rằng,
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
5
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
hành vi và nhân cách con ngời có thể đợc sắp xếp theo trật tự trên dới, trật tự này
là thứ tự của các đặc điểm nhân cách. Tuy nhiên các nghiên cứu đều còn coi nhẹ
mặt thực tại xã hội của nhân cách.
Có những lý thuyết khác lại đề cao tính xã hội trong quan điểm về nhân
cách. Họ cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về
nhân cách con ngời, mà không hề tính đến vai trò của các yếu tố sinh học, nh
thuyết siêu đẳng bù trừ (Adler), thuyết tơng tác xã hội (G. H Mead), thuyết liên
nhân cách (R. Sears), thuyết hiện tợng ( C. Rogers)
Gần đây, các nhà tâm lý học khác cũng đa ra một số định nghĩa về nhân
cách. David G. Myers cho rằng, nhân cách là mô hình t duy cảm xúc và hành động
mang đặc điểm của bản thân. Robert A. Baron lại nhận định nhân cách là những
hành vi, t duy và cảm xúc có tính ổn định và đặc biệt của cá nhân
ở Liên Xô cũ trớc đây, có nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu về nhân cách
nh: Rubinstein, Lêônchiev, Ananiev, Platonov Dựa trên quan điểm của triết học
Macxit và phơng pháp luận duy vật biện chứng, các nhà tâm lý học đều có sự
thống nhất chung về phơng pháp luận nghiên cứu.
Nhà tâm lý học xuất sắc Ananiev đã nghiên cứu nhân cách trên cơ sở thâm
học qui định nhân cách, đó là thuộc tính của khí chất, giới tính, lứa tuổi, bệnh lý
của cá nhân.
Ngoài ra, ở Liên xô còn có xu hớng nghiên cứu nhân cách theo xu hớng là
cách tiếp cận cá thể hoá. Hoặc trên cơ sở phân tích hành vi phản xạ có điều kiện
của con ngời (quan điểm của Dobrhin). Kovalev nêu quan điểm cho rằng, nghiên
cứu nhân cách là nghiên cứu điều kiện hình thành nhân cách, hành vi, ý thức đạo
đức, mối quan hệ nhân cách
Nền tảng tâm lý học Việt Nam chịu ảnh hởng rất lớn của nền tâm lý học
Liên xô cũ. Những luận điểm cơ bản của các nhà tâm lý học Macxit, sự vận dụng
phơng pháp luận duy vật biện chứng của họ mãi mãi là bài học lớn cho các nhà
tâm lý học Việt Nam.
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
7
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
ở nớc ta, các nhà tâm lý học nh Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê Đức
Phúc, Nguyễn Quang Uẩn đều có những công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề
nhân cách, đặc điểm nhân cách. Các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu lý luận,
làm rõ khái niệm nhân cách, đặc điểm nhân cách và các khía cạnh có liên quan mà
còn tiến hành nhiều phơng pháp thực nghiệm, từ đó chỉ ra những nét đặc trng, cấu
trúc, đăc điểm của nhân cách. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau.
Tác giả Trần Trọng Thuỷ nhấn mạnh: nhân cách có quan hệ với các thuộc
tính nhất định của cá thể, có nghĩa nó là tính cá biệt [ DT 7; tr.41]
Theo Lê Đức Phúc, nhân cách là những nét bản chất, những phơng thức
hành vi, biểu hiện độc đáo riêng biệt trong hoạt động với những mối quan hệ hiện
thực của một ngời. Và khi ngời ta chết đi, sự hoạt động của não bộ không còn nữa,
thì chỉ có sự phản ánh nhân cách của họ thông qua những ngời khác, tạo nên
những hiện tợng tâm lý có thể giải thích khác nhau mà thôi [16].
Trần Hiệp viết: là kết quả của quá trình xã hội hoá cá nhân, nhân cách bao
gồm tập hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý đã qui định hoạt động và
ở Việt Nam, đến nay vẫn cha có công trình khoa học nào tiến hành nghiên
cứu về đặc điểm nhân cách của phạm nhân. Các nhà tâm lý học mới chỉ nghiên
cứu về nhân cách chung chung, hoặc đăc điểm nhân cách của môt số đối tợng
khác, mà không nghiên cứu về nhân cách phạm nhân: Nhà tâm lý học Lê Thị Hà
với đề tài nghiên cứu Đặc điểm nhân cách của gái maị dâm và định hớng giải
pháp giáo dục (Luận án tiến sĩ tâm lý học).
2. Các khái niệm cơ bản
2.1.Khái niệm nhân cách và đặc điểm nhân cách
2.1.1. Khái niệm nhân cách (NC)
NC là đối tợng nghiên cứu của tâm lý học và nhiều ngành khoa học khác:
giáo dục học, triết học, xã hội học Trong tâm lý học, NC là một vấn đề rất rộng
lớn và phức tạp, các quan điểm tiếp cận lại rất đa dạng, mỗi quan điểm lại đa ra
khái niệm NC trên những góc độ nghiên cứu của mình. Cho nên đến nay, giới
nghiên cứu vẫn cha có sự thống nhất về khái niệm này.
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
9
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
Về mặt thuật ngữ, từ NC bắt nguồn từ chữ persona trong tiếng Hi Lạp cổ
đại. Trong từ điển Anh - Việt, personality nghĩa là nhân cách, nhân phẩm, cá
tính, ngời, cá nhân. Theo Từ điển Nga- Việt, từ litrnost nghĩa là: nhân cách,
nhân phẩm, con ngời, nhân vật, cá nhân. Còn trong từ điển tiếng Việt, từ NC đợc
hiểu là t cách và phẩm chất của con ngời [15, tr.407].
Trong tâm lý học phơng Tây, NC đợc nghiên cứu trên cơ sở của nhiều lý
thuyết. Có những lý thuyết đề cao quan điểm mặt sinh học trong cách hiểu về NC,
coi yếu tố sinh học là cái quan trọng hơn cả cần nghiên cứu trong hệ thống nghiên
cứu về NC, nh bản năng vô thức (S. Freud), đặc điểm hình thể (Kretschmer), thể
trạng (Sheldon)
Có những lý thuyết lại đề cao quan điểm xã hội trong định nghĩa về NC,
cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về NC con ngời
mà không tính đến vai trò của các yếu tố sinh học: G.H. Mead, C. Rogers
NC đợc hiểu là con ngời có tài đức hay là tính cách và năng lực hoặc là con ngời
có các phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ. Thứ hai, NC đợc hiểu nh các phẩm chất và
năng lực của con ngời. Thứ ba, NC có thể đợc hiểu nh mặt đạo đức, giá trị làm ng-
ời của con ngời.
Trong khoa học tâm lý Việt Nam, NC là một khái niệm đợc các nhà tâm lý
học nghiên cứu từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cha có một khái niệm
thống nhất.
Các nhà nghiên cứu khi đa ra định nghĩa về NC đều căn cứ vào các quan
điểm của tâm lý học Macxit, t tởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con ngời, đạo
đức cách mạng.
Tác giả Phạm Hoàng Gia đã coi NC là giá trị xã hội hay phẩm giá của một
cá nhân.
Theo Bùi Văn Huệ, bản chất của NC là phạm trù thuộc cấp độ xã hội, bao
trùm lên một không gian rộng lớn hơn nhiều so với không gian của lớp đặc điểm
tâm sinh lý cá nhân [10, tr.56].
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
11
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ đa ra định nghĩa:
"NC không phải là tổng hoà không phải mọi đặc điểm cá thể của con ngời mà chỉ
là những đặc điểm nào qui định con ngời nh là thành viên của xã hội, nh là một
công dân, một ngời lao động, một nhà hoạt động có ý thức NC là toàn bộ những
đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định giá trị xã hội và hành vi của họ"
[DT 7, tr.84].
Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, "NC là hệ thống những phẩm giá xã hội của
cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể xã hội với
thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện
tại và tơng lai" [2, tr.222].
Theo chúng tôi, NC là một tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá
nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của ngời ấy [22, tr.179].
cho ra đời những công cụ đo lờng NC ổn định và rất hữu ích trong công việc đánh
giá và dự báo về NC.
Theo Allport, đặc điểm là các đơn vị cơ bản của NC, các đặc điểm thực sự
tồn tại và dựa trên hệ thần kinh. Chúng đại diện cho những thiên hớng khái quát
của NC và chịu trách nhiệm về tính ổn định trong vận hành của một ngời trong
suốt các tình huống và thời gian. Ông phân biệt hai loại đặc điểm là đặc điểm cá
nhân và đặc điểm chung. Đặc điểm chung là những đặc điểm có ở đa số mọi ngời,
đặc điểm cá nhân là những đặc điểm tạo nên tính duy nhất của ngời đó hoặc của
một số ngời. Theo ông, lý thuyết NC phải nhấn mạnh đến đặc điểm cá nhân.
Những đặc điểm cá nhân sau này đợc ông gọi là thiên hớng cá nhân và thiên hớng
này cũng đợc chia thành ba loại: thiên hớng chủ yếu, thiên hớng trung tâm và
thiên hớng thứ yếu.
Lý thuyết về ĐĐNC của Eysenck cho rằng, NC là một tổ chức có tính thứ
bậc. Cấp độ đơn giản nhất của hành vi là những phản ứng đặc biệt, tiếp đến một
nhóm thói quen kết hợp với nhau tạo nên các đặc điểm. Chúng tổng hợp nên một
yếu tố bậc cao nhất, đợc gọi là các siêu yếu tố. Ông đã xác định các chiều cạnh cơ
bản của NC nằm sau các yếu tố hoặc các đặc điểm đã tìm đợc. Các chiều cạnh cơ
bản này ông gọi là các loại hình hay các kiểu loại NC, bao gồm: tính hớng nội- h-
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
13
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
ớng ngoại, tính nhạy cảm, dễ bị kich thích hay là ổn định và bất ổn định và tính
tâm thần. Eysenck nhấn mạnh rằng các ĐĐNC có cơ sở sinh học và phủ định vai
trò của yếu tố xã hội trong sự hình thành nên các ĐĐNC.
Với Cattell, yếu tố cơ bản về mặt cấu trúc là đặc điểm, đợc định nghĩa nh là
một thiên hớng. Theo ông thì các đặc điểm không đồng nhất với nhau, chúng khác
nhau về quá trình hình thành, về khả năng thay đổi, về vai trò trong cấu trúc NC.
Ông đã tìm cách để phân biệt các loại đặc điểm khác nhau và chia chúng thành hai
nhóm: nhóm thứ nhất ông phân biệt giữa các đặc điểm năng lực, đặc điểm tính khí
và đặc điểm động thái, còn nhóm thứ hai là phân biệt giữa các đặc điểm bề ngoài
Theo quan điểm của tác giả Bùi Văn Huệ, ĐĐNC đó là thuộc tính nhất định
của NC, đại diện cho một cá nhân, giúp ta phân biệt đợc cá nhân này với hàng loạt
cá nhân khác không có thuộc tính ấy, và cùng với hàng loạt những NC khác cũng
có những thuộc tính ấy, nó thể hiện cái toàn thể mang tính chất bộ phận [10,
tr.65].
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: "ĐĐNC qui định giá trị xã hội của cá nhân.
Nó tơng đối khó hình thành nhng cũng khó mất đi" [24].
Giáo trình Tâm lý học trờng đại học luật Hà nội liệt kê 4 đặc điểm cơ bản
của NC, bao gồm: tính ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao tiếp
[22].
Trên cơ sở các quan điểm khác nhau về ĐĐNC, chúng tôi cho rằng: Đặc
điểm nhân cách có thể đợc hiểu chung là những thuộc tính tâm lý nhất định tạo
nên nét đặc trng cho NC của của cá nhân, giúp ta phân biệt đợc cá nhân này với
các cá nhân khác, đồng thời quy họ về một nhóm. Nó đợc thể hiện trong cấu trúc
của NC và trong hành động của mỗi ngời [7].
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
15
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
2.2. Khái niệm nhân cách của phạm nhân
2.2.1. Khái niệm phạm nhân
Phạm nhân là một thuật ngữ pháp lý đợc sử dụng rất rộng rãi và phổ biến
trong đời sống hằng ngày cũng nh trong khoa học pháp lý. Là thuật ngữ chuyên
ngành của pháp luật hình sự, phạm nhân còn đợc sử dụng rộng rãi trong các
khoa học khác nh: điều tra hình sự, tội phạm học, tâm lý học t pháp
Theo từ điển Hán- Việt, phạm nhân có nghĩa là ngời phạm tội. Trong từ
điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Nh Y chủ biên), phạm nhân đợc hiểu là ngời
phạm tội, ngời bị kết án. Và trong suy nghĩ của nhiều ngời, phạm nhân đợc hiểu
đồng nghĩa với ngời phạm tội.
Tuy nhiên trong thực tiễn pháp luật hai khái niệm phạm nhân và ngời phạm
tội hoàn toàn khác nhau, trong đó nội hàm khái niệm ngời phạm tội rộng hơn khái
bẩm sinh di truyền, mà đợc hình thành trong quá trình thực hiện tội phạm, quá
trình tác động qua lại giữa cá nhân với môi trờng sống xã hội tiêu cực.
- Thứ hai, ĐĐNC của phạm nhân là những thuộc tính tâm lý nhất định tạo
nên nét đặc trng cho nhân cách của phạm nhân, giúp ta phân biệt đợc phạm nhân
với các cá nhân khác. ĐĐNC của phạm nhân đợc thể hiện trong cấu trúc nhân
cách và trong hành động của họ.
2.3. Các mặt nhân cách cơ bản
Giá trị xã hội của nhân cách phạm nhân phụ thuộc rất lớn vào hành vi của
họ. Hành vi của phạm nhân đó là kết quả của sự tác động qua lại của nhiều yếu tố.
Vì thế nghiên cứu NC của phạm nhân liên quan đến viêc nghiên cứu các mặt của
NC. Theo Bùi Văn Huệ, NC có cấu trúc xác định, NC không phải là vô định. Các
phần tử tạo nên NC liên hệ với nhau rất hữu cơ làm cho NC trọn vẹn [10, tr.57].
Chúng tôi cho rằng, cấu trúc của NC gồm 4 thuộc tính: xu hớng, năng lực,
tính cách, khí chất.
2.3.1. Xu hớng
Hoạt động của cá nhân trong cộng đồng, trong xã hội bao giờ cũng nhằm
một mục đích nhất định hoặc hớng tới một mục đích nào đó, không có hoạt động
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
17
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
nào là không có phơng hớng. Sự hớng tới này đợc phản ánh trong tâm lý mỗi ngời
nh là xu hớng của nhân cách. Xu hớng nói lên hớng phát triển của nhân cách, nhân
cách phát triển từ đâu theo chiều hớng nào là do xu hớng quyết định.
Xu hớng cá nhân là một hệ thống động cơ và mục đích định hớng và thúc
đẩy con ngời tích cực hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu, hứng thú hoặc vơn tới
mục tiêu mà cá nhân sẽ lấy làm lẽ sống của mình.
Trong cuộc sống, xu hớng biểu hiện ra bên ngoài ở nhu cầu, hứng thú, lí t-
ởng, thế giới quan và niềm tin.
- Nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của con ngời trong những điều kiện
nhất định, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của họ. Nhu cầu bao giờ cũng là đòi hỏi
2.3.2. Năng lực
Năng lực của mỗi ngời bao giờ cũng gắn liền với hoạt động của chính ngời
đó và các sản phẩm chính của hoạt động ấy. Năng lực chỉ hình thành và phát triển
trong hoạt động. Đến lợt nó. Kết qủa của hoạt động lại tuỳ thuộc vào trình độ phát
triển của năng lực đợc hình thành trong hoạt động này. Vì thế, khi nói đến năng
lực bao giờ ngời ta cũng nói đến năng lực trong về một hoạt động nào đó.
Năng lực là tổng hoà các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp
với những yêu cầu đặc trng của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động
đó diễn ra có kết quả [22, tr.188].
Năng lực là sự tổng hợp các thuộc tính, chúng đợc kết hợp theo một cấu trúc
nhất định. Trong số những thuộc tính tâm lý của nhân cách cấu tạo nên một năng
lực về một hoạt động bao giờ cũng có những thuộc tính có tầm quan trọng hàng
đầu, còn những thuộc tính khác có vai trò bổ sung hỗ trợ. Cấu trúc của năng lực
gồm 3 thành phần chính: những thuộc tính làm chủ đạo, những thuộc tính làm chỗ
dựa, những thuộc tính làm nền.
Năng lực đợc biểu hiện ở các mức độ: t chất, thiên hớng, năng khiếu, tài
năng và thiên tài.
2.3.3. Tính cách
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
19
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức tạp của cá nhân bao gồm một hệ
thống thái độ của nó đối với hiện thực thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ,
cách nói năng tơng ứng.
Theo tác gỉa Bùi Văn Huệ, tính cách là những phẩm chất chung của NC, là
tập hợp không phải tất cả mà chỉ những đặc điểm điển hình nhất của NC ở trong
mối liên hệ rất chặt chẽ [10, tr.65].
Nh vậy, có thể hiểu tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn
định của con ngời, những đặc điểm này qui định phơng thức hành vi điển hình của
ngời đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định thể hiện thái độ của họ
Thông qua nghiên cứu sơ lựơc vấn đề nhân cách nói chung và nhân cách
phạm nhân nói riêng cho thấy, cho đến nay, hầu nh cha có công trình tâm lý học ở
trong và ngoài nớc nghiên cứu về ĐĐNC của phạm nhân.
Trên bình diện tâm lý học, chúng tôi tìm hiểu các quan điểm khác nhau về
NC, ĐĐNC, các mặt của NC, một số lý thuyết chủ yếu về ĐĐNC. Chúng tôi nhận
thấy rằng, các lý thuyết về ĐĐNC đã xem xét một cách tơng đối toàn diện về các
khía cạnh khác nhau của ĐĐNC. Đồng thời các tác giả cũng đã đa ra các phơng
pháp đo về ĐĐNC một cách khách quan và có nhiều ứng dụng trên thực tế.
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận, chúng tôi nhận thấy rằng, nghiên
cứu của R.B. Cattell về các ĐĐNC đã dựa trên nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, có
độ tin cậy tơng đối cao và phù hợp với việc nghiên cứu ĐĐNC của phạm nhân trên
thực tế.
Việc nghiên cứu NC nói chung và ĐĐNC của phạm nhân nói riêng còn có
thể thông qua các đặc điểm của các mặt: xu hớng, tính cách, khí chất và năng lực
đợc biểu hiện trong hoạt động và giao tiếp thực tế.
Tuy nhiên, để tìm hiểu ĐĐNC của phạm nhân một cách toàn diện, đầy đủ
và khách quan, song song với việc sử dụng trắc nghiệm của Cattell, chúng tôi còn
kết hợp sử dụng các phơng pháp nghiên cứu khác: phuơng pháp phỏng vấn sâu,
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
21
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
nghiên cứu văn bản tài liệu, lấy ý kiến của một số chuyên gia (chúng tôi sẽ phân
tích chi tiết ở chơng 2)
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
22
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
Chơng 2
tổ chức nghiên cứu
1. Phơng pháp nghiên cứu
1.1. Phơng pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
nhau: trắc nghiệm khách quan, các tình huống điển hình trong cuộc sống, thông
qua những câu hỏi trên giấy và bút chì. Test Cattell gồm 5 phiên bản với 3 mẫu A,
B, C, nó bao quát tơng đối đầy đủ các yếu tố đặc trng cho cấu trúc NC chung của
con ngời. Chúng tôi chọn mẫu C rút gọn của test Cattell để nghiên cứu ĐĐNC của
phạm nhân.
Mẫu C của Cattell gồm có 105 item. Mỗi item có 3 phơng án trả lời, khách
thể sẽ chọn một trong ba phơng án đó phơng án nào trùng với suy nghĩ của mình.
Điểm số đợc tính theo từng yếu tố và điểm của mỗi yếu tố bằng tổng điểm đạt đợc
trong mỗi item của yếu tố đó. Điểm số của toàn bộ test đợc tính theo bảng mã mà
Cattell đã đa ra. Việc tính điểm đợc tiến hành nh sau:
- Nếu khách thể chọn phơng án 1 và phơng án 3 trùng với những ô đánh dấu
bôi đen của bảng mã thì đợc 2 điểm.
- Nếu khách thể chọn phơng án 2 trùng với ô đánh dấu bôi đen của bảng mã
thì đợc 1 điểm.
- Nếu không chọn phơng án trên thì bị điểm 0.
- Riêng yếu tố B (yếu tố trí tuệ): khách thể chọn phơng án nào trùng với ô
bôi đen của bảng mã thì đợc 1 điểm, còn trờng hợp không trùng thì bị điểm 0.
Cách tính điểm cho các yếu tố nh sau:
- Điểm cao nhất của các yếu tố là 12.
- Điểm thấp nhất là 0.
- Điểm cao nhất của yếu tố MD là 14.
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân
24
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hoài- HS 28 C
- Điểm cao nhất của yếu tố B là 8.
Điểm của nhóm bằng điểm trung bình của tất cả các thành viên trong
nhóm. Vì thế khác với điểm của cá nhân, điểm của trung bình của nhóm có số
thập phân. Mức điểm của từng yếu tố đợc tính cụ thể nh sau:
- Yếu tố B:
+ Mức thấp : 1- 2.9 điểm