Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay vấn đề nhân cách được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trong quá trình phát triển của các khoa hoc, đặc biệt là các khoa hoc xã hội,
nghiên cứu về con người nói chung và nhân cách nói riêng là một đòi hỏi tất
yếu.
Ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đặc
bịêt coi trọng nguồn lực con người. Muốn công nghiêp hoá, hiện đại hoá đất
nước thành công thì phải đặt con người lên vị trí trung tâm, phải có con người
đạo đức trí tuệ. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền
với xây dựng nhân cách phát triển hài hoà.
Trong khoa học tâm lý, nhân cách là vấn đề trung tâm và hết sức rộng lớn,
trong đó mỗi chuyên nghành lại đi sâu vào những lĩnh vực khác nhau. Giống
như các chuyên nghành khác, tâm lý học pháp lý cũng nghiên cứu nhân cách
nhưng đối tượng mà nó hướng tới là nhân cách của những người tham gia tố
tụng như: bị can, bị cáo, người phạm tội, luật sư, kiểm sát viên.
Trong các nhóm xã hội, phạm nhân là nhóm người đăc biệt. Họ là những
người đã phạm lỗi lầm nghiêm trọng trong quá khứ, bị đưa ra xét xử, bị kết án tù
và hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam. Theo các nhà tâm lý học
pháp lý, ở phạm nhân có nhiều nét nhân cách tiêu cực, có nhiều biểu hiện lệch
lạc trong lĩnh vực động cơ. Ngoài ra, trong tâm lý học tội phạm từ lâu cũng đã
tồn tại quan điểm cho rằng, phạm nhân là những người có nhiều điểm tâm lý
không phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của xã hội và đây chính là một trong những
nguyên nhân đưa họ đến hành vi phạm tội. Thời gian phạm nhân chấp hành hình
phạt tại trại giam là thời gian diễn ra nhiều diễn biến tâm lý phức tạp trong con
người họ. Đây có lẽ là một trong những lí do khiến không ít nhà tâm lý học chọn
phạm nhân làm khách thể nghiên cứu, thậm chí trong tâm lý học còn xuất hiện
nhiều chuyên nghành nghiên cứu về phạm nhân: tâm lý học tội phạm, tâm lý học
cải tạo.
1
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm nhân cách của phạm nhân.
- Khách thể nghiên cứu
Phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam.
Ngoài ra, chúng tôi có tiến hành thu thập và lấy ý kiến của một số cán bộ
giáo dục, quản giáo trại giam.
5. Giới hạn nghiên cứu
- Về khách thể nghiên cứu:
Chúng tôi chỉ tiến hành điều tra,khảo sát trên một số lượng hạn chế các
phạm nhân hiện đang thi hành án tại trại giam.
- Nội dung: Vấn đề nhân cách là một vấn đề phức tạp và đến nay vẫn còn
nhiều tranh luận trong giới khoa học. Trong khoá luận này, chúng tôi đi vào tìm
hiểu đặc điểm nhân cách của các phạm nhân được nghiên cứu, tìm hiểu các
nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn họ tới hành vi phạm tội. Trong đó,
đặc biệt chú trọng đến các nguyên nhân liên quan đến bản thân phạm nhân, gia
đình và các yếu tố xã hội khác.
6. Giả thuyết khoa học
Qua quá trình tổ chức nghiên cứu, tiếp xúc với các phạm nhân, tôi cho
rằng nhân cách của phạm nhân có những nét đặc trưng, khác biệt so với các đối
tượng khác. Sự khác biệt này biểu hiện trên nhiều mặt khác nhau: nhận thức,
cảm xúc, hành vi, các thuộc tính tâm lí nhân cách.
7. phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu;
- Trắc nghiệm nhân cách của Cattell;
- Phương pháp phỏng vấn sâu;
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ phạm nhân;
- Phương pháp thống kê toán học
và vô thức quyết định việc hình thành nhân cách, coi đối tượng của tâm lý học
không phải là ý thức mà là vô thức, coi sự thoả mãn tình dục là động lực hoạt
động. Ông giải thích mọi hiện tượng xã hội, tệ nạn, chiến tranh đều do bản năng
tình dục gây ra.
Không đồng ý với chủ nghĩa sinh học trong học thuyết phân tâm của S.
Freud, một số cộng sự cũng như học trò của ông đã rời bỏ học thuyết Freud và
hình thành học thuyết phân tâm học mới phát triển theo nhiều hướng khác nhau:
Karl Jung, Erich Fromn.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lí thuyết đặc điểm nhân cách với các đại diện như: Cattell, Allport,
Esensk, mặc dù đi sâu vào những vấn đề khác nhau và đưa ra các quan điểm
khác nhau về nhân cách nhưng theo họ nhân cách con người đều có những nét
đặc trưng nhất. Các đặc trưng đó là nền tảng của nhân cách. Những nhà tâm lý
học này đều cho rằng, hành vi và nhân cách con người có thể được sắp xếp theo
trật tự trên dưới, trật tự này là thứ tự của các đặc điểm nhân cách. Tuy nhiên các
nghiên cứu đều còn coi nhẹ mặt thực tại xã hội của nhân cách.
Có những lý thuyết khác lại đề cao tính xã hội trong quan điểm về nhân
cách. Họ cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về
nhân cách con người, mà không hề tính đến vai trò của các yếu tố sinh học, như
thuyết siêu đẳng bù trừ (Adler), thuyết tương tác xã hội (G. H Mead), thuyết liên
nhân cách (R. Sears), thuyết hiện tượng ( C. Rogers)…
Gần đây, các nhà tâm lý học khác cũng đưa ra một số định nghĩa về nhân
cách. David G. Myers cho rằng, nhân cách là mô hình tư duy cảm xúc và hành
động mang đặc điểm của bản thân. Robert A. Baron lại nhận định nhân cách là
những hành vi, tư duy và cảm xúc có tính ổn định và đặc biệt của cá nhân…
Ở Liên Xô cũ trước đây, có nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu về nhân cách
như: Rubinstein, Lêônchiev, Ananiev, Platonov… Dựa trên quan điểm của triết
học Macxit và phương pháp luận duy vật biện chứng, các nhà tâm lý học đều có
sự thống nhất chung về phương pháp luận nghiên cứu.
riêng lẻ và các chức năng tâm lý với hình thức phản ánh. Cấu trúc thứ 4 là các
thuộc tính sinh học qui định nhân cách, đó là thuộc tính của khí chất, giới tính,
lứa tuổi, bệnh lý của cá nhân.
Ngoài ra, ở Liên xô còn có xu hướng nghiên cứu nhân cách theo xu hướng
là cách tiếp cận cá thể hoá. Hoặc trên cơ sở phân tích hành vi phản xạ có điều
kiện của con người (quan điểm của Dobrưhin). Kovalev nêu quan điểm cho
rằng, nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu điều kiện hình thành nhân cách, hành
vi, ý thức đạo đức, mối quan hệ nhân cách…
Nền tảng tâm lý học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của nền tâm lý học
Liên xô cũ. Những luận điểm cơ bản của các nhà tâm lý học Macxit, sự vận
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của họ mãi mãi là bài học lớn cho
các nhà tâm lý học Việt Nam.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ở nước ta, các nhà tâm lý học như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê
Đức Phúc, Nguyễn Quang Uẩn đều có những công trình nghiên cứu, bài viết về
vấn đề nhân cách, đặc điểm nhân cách. Các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu
lý luận, làm rõ khái niệm nhân cách, đặc điểm nhân cách và các khía cạnh có
liên quan mà còn tiến hành nhiều phương pháp thực nghiệm, từ đó chỉ ra những
nét đặc trưng, cấu trúc, đăc điểm của nhân cách. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn tồn
tại nhiều quan điểm khác nhau.
Tác giả Trần Trọng Thuỷ nhấn mạnh: nhân cách có quan hệ với các thuộc
tính nhất định của cá thể, có nghĩa nó là tính cá biệt [ DT 7; tr.41]
Theo Lê Đức Phúc, nhân cách là những nét bản chất, những phương thức
hành vi, biểu hiện độc đáo riêng biệt trong hoạt động với những mối quan hệ
hiện thực của một người. Và khi người ta chết đi, sự hoạt động của não bộ
không còn nữa, thì chỉ có sự phản ánh nhân cách của họ thông qua những người
khác, tạo nên những hiện tượng tâm lý có thể giải thích khác nhau mà thôi [16].
Trần Hiệp viết: “là kết quả của quá trình xã hội hoá cá nhân, nhân cách
bao gồm tập hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý đã qui định hoạt
Ở Việt Nam, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào tiến hành
nghiên cứu về đặc điểm nhân cách của phạm nhân. Các nhà tâm lý học mới chỉ
nghiên cứu về nhân cách chung chung, hoặc đăc điểm nhân cách của môt số đối
tượng khác, mà không nghiên cứu về nhân cách phạm nhân: Nhà tâm lý học Lê
Thị Hà với đề tài nghiên cứu “Đặc điểm nhân cách của gái maị dâm và định
hướng giải pháp giáo dục” (Luận án tiến sĩ tâm lý học).
2. Các khái niệm cơ bản
2.1. Khái niệm nhân cách và đặc điểm nhân cách
2.1.1. Khái niệm nhân cách (NC)
NC là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học và nhiều ngành khoa học
khác: giáo dục học, triết học, xã hội học… Trong tâm lý học, NC là một vấn đề
rất rộng lớn và phức tạp, các quan điểm tiếp cận lại rất đa dạng, mỗi quan điểm
lại đưa ra khái niệm NC trên những góc độ nghiên cứu của mình. Cho nên đến
nay, giới nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Về mặt thuật ngữ, từ NC bắt nguồn từ chữ “persona” trong tiếng Hi Lạp
cổ đại. Trong từ điển Anh - Việt, “personality” nghĩa là nhân cách, nhân phẩm,
cá tính, người, cá nhân. Theo Từ điển Nga- Việt, từ “litrnost” nghĩa là: nhân
cách, nhân phẩm, con người, nhân vật, cá nhân. Còn trong từ điển tiếng Việt, từ
NC được hiểu là tư cách và phẩm chất của con người [15, tr.407].
Trong tâm lý học phương Tây, NC được nghiên cứu trên cơ sở của nhiều
lý thuyết. Có những lý thuyết đề cao quan điểm mặt sinh học trong cách hiểu về
NC, coi yếu tố sinh học là cái quan trọng hơn cả cần nghiên cứu trong hệ thống
nghiên cứu về NC, như bản năng vô thức (S. Freud), đặc điểm hình thể
(Kretschmer), thể trạng (Sheldon)…
Có những lý thuyết lại đề cao quan điểm xã hội trong định nghĩa về NC,
cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về NC con
người mà không tính đến vai trò của các yếu tố sinh học: G.H. Mead, C.
Rogers…
con người có các phẩm chất: đức, trí, thể, mỹ. Thứ hai, NC được hiểu như các
phẩm chất và năng lực của con người. Thứ ba, NC có thể được hiểu như mặt đạo
đức, giá trị làm người của con người.
Trong khoa học tâm lý Việt Nam, NC là một khái niệm được các nhà tâm
lý học nghiên cứu từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có một khái
niệm thống nhất.
Các nhà nghiên cứu khi đưa ra định nghĩa về NC đều căn cứ vào các quan
điểm của tâm lý học Macxit, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người,
đạo đức cách mạng.
Tác giả Phạm Hoàng Gia đã coi NC là giá trị xã hội hay phẩm giá của một
cá nhân.
Theo Bùi Văn Huệ, bản chất của NC là phạm trù thuộc cấp độ xã hội, bao
trùm lên một không gian rộng lớn hơn nhiều so với không gian của lớp đặc điểm
tâm sinh lý cá nhân [10, tr.56].
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ đưa ra định
nghĩa: "NC không phải là tổng hoà không phải mọi đặc điểm cá thể của con
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
người mà chỉ là những đặc điểm nào qui định con người như là thành viên của
xã hội, như là một công dân, một người lao động, một nhà hoạt động có ý
thức… NC là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định
giá trị xã hội và hành vi của họ" [DT 7, tr.84].
Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, "NC là hệ thống những phẩm giá xã hội của
cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể xã hội
với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá
khứ, hiện tại và tương lai" [2, tr.222].
Theo chúng tôi, “NC là một tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá
nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy” [22, tr.179].
Trong khái niệm trên, “thuộc tính tâm lý” được hiểu là những hiện tượng
tâm lý tương đối ổn định, có tính qui luật chứ không xuất hiện một cách ngẫu
tồn tại và dựa trên hệ thần kinh. Chúng đại diện cho những thiên hướng khái
quát của NC và chịu trách nhiệm về tính ổn định trong vận hành của một người
trong suốt các tình huống và thời gian. Ông phân biệt hai loại đặc điểm là đặc
điểm cá nhân và đặc điểm chung. Đặc điểm chung là những đặc điểm có ở đa số
mọi người, đặc điểm cá nhân là những đặc điểm tạo nên tính duy nhất của người
đó hoặc của một số người. Theo ông, lý thuyết NC phải nhấn mạnh đến đặc
điểm cá nhân. Những đặc điểm cá nhân sau này được ông gọi là thiên hướng cá
nhân và thiên hướng này cũng được chia thành ba loại: thiên hướng chủ yếu,
thiên hướng trung tâm và thiên hướng thứ yếu.
Lý thuyết về ĐĐNC của Eysenck cho rằng, NC là một tổ chức có tính thứ
bậc. Cấp độ đơn giản nhất của hành vi là những phản ứng đặc biệt, tiếp đến một
nhóm thói quen kết hợp với nhau tạo nên các đặc điểm. Chúng tổng hợp nên một
yếu tố bậc cao nhất, được gọi là các siêu yếu tố. Ông đã xác định các chiều cạnh
cơ bản của NC nằm sau các yếu tố hoặc các đặc điểm đã tìm được. Các chiều
cạnh cơ bản này ông gọi là các loại hình hay các kiểu loại NC, bao gồm: tính
hướng nội- hướng ngoại, tính nhạy cảm, dễ bị kich thích hay là ổn định và bất
ổn định và tính tâm thần. Eysenck nhấn mạnh rằng các ĐĐNC có cơ sở sinh học
và phủ định vai trò của yếu tố xã hội trong sự hình thành nên các ĐĐNC.
Với Cattell, yếu tố cơ bản về mặt cấu trúc là đặc điểm, được định nghĩa
như là một thiên hướng. Theo ông thì các đặc điểm không đồng nhất với nhau,
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chúng khác nhau về quá trình hình thành, về khả năng thay đổi, về vai trò trong
cấu trúc NC. Ông đã tìm cách để phân biệt các loại đặc điểm khác nhau và chia
chúng thành hai nhóm: nhóm thứ nhất ông phân biệt giữa các đặc điểm năng
lực, đặc điểm tính khí và đặc điểm động thái, còn nhóm thứ hai là phân biệt giữa
các đặc điểm bề ngoài và đặc điểm nguồn gốc. Kết quả hàng loạt các nghiên cứu
thực nghiệm của ông là một bảng hỏi có tên 16 yếu tố nhân cách con người.
Cattell không coi con người là một đơn vị cố định ứng xử theo một cách
thức trong tất cả các tình huống. Các ứng xử phụ thuộc vào ĐĐNC và động cơ
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: "ĐĐNC qui định giá trị xã hội của cá nhân.
Nó tương đối khó hình thành nhưng cũng khó mất đi" [24].
Giáo trình Tâm lý học trường đại học luật Hà nội liệt kê 4 đặc điểm cơ
bản của NC, bao gồm: tính ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao
tiếp [22].
Trên cơ sở các quan điểm khác nhau về ĐĐNC, chúng tôi cho rằng: “Đặc
điểm nhân cách có thể được hiểu chung là những thuộc tính tâm lý nhất định tạo
nên nét đặc trưng cho NC của của cá nhân, giúp ta phân biệt được cá nhân này
với các cá nhân khác, đồng thời quy họ về một nhóm. Nó được thể hiện trong
cấu trúc của NC và trong hành động của mỗi người” [7].
2.2. Khái niệm nhân cách của phạm nhân
2.2.1. Khái niệm phạm nhân
Phạm nhân là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến
trong đời sống hằng ngày cũng như trong khoa học pháp lý. Là thuật ngữ chuyên
ngành của pháp luật hình sự, “phạm nhân” còn được sử dụng rộng rãi trong các
khoa học khác như: điều tra hình sự, tội phạm học, tâm lý học tư pháp…
Theo từ điển Hán- Việt, phạm nhân có nghĩa là người phạm tội. Trong từ
điển tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Y chủ biên), phạm nhân được hiểu là
người phạm tội, người bị kết án. Và trong suy nghĩ của nhiều người, “phạm
nhân” được hiểu đồng nghĩa với người phạm tội.
Tuy nhiên trong thực tiễn pháp luật hai khái niệm phạm nhân và người
phạm tội hoàn toàn khác nhau, trong đó nội hàm khái niệm người phạm tội rộng
hơn khái niệm phạm nhân. Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người phạm tội là
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện
hành vi phạm tội cụ thể được qui định trong bộ luật hình sự [25]. Trong đó,
người có năng lực trách nhiệm hình sự là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự và không thuộc các trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực
trách nhiệm hình sự.
2.3. Các mặt nhân cách cơ bản
Giá trị xã hội của nhân cách phạm nhân phụ thuộc rất lớn vào hành vi của
họ. Hành vi của phạm nhân đó là kết quả của sự tác động qua lại của nhiều yếu
tố. Vì thế nghiên cứu NC của phạm nhân liên quan đến viêc nghiên cứu các mặt
của NC. Theo Bùi Văn Huệ, “NC có cấu trúc xác định, NC không phải là vô
định. Các phần tử tạo nên NC liên hệ với nhau rất hữu cơ làm cho NC trọn vẹn”
[10, tr.57].
Chúng tôi cho rằng, cấu trúc của NC gồm 4 thuộc tính: xu hướng, năng
lực, tính cách, khí chất.
2.3.1. Xu hướng
Hoạt động của cá nhân trong cộng đồng, trong xã hội bao giờ cũng nhằm
một mục đích nhất định hoặc hướng tới một mục đích nào đó, không có hoạt
động nào là không có phương hướng. Sự hướng tới này được phản ánh trong
tâm lý mỗi người như là xu hướng của nhân cách. Xu hướng nói lên hướng phát
triển của nhân cách, nhân cách phát triển từ đâu theo chiều hướng nào là do xu
hướng quyết định.
Xu hướng cá nhân là một hệ thống động cơ và mục đích định hướng và
thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu, hứng thú hoặc
vươn tới mục tiêu mà cá nhân sẽ lấy làm lẽ sống của mình.
Trong cuộc sống, xu hướng biểu hiện ra bên ngoài ở nhu cầu, hứng thú, lí
tưởng, thế giới quan và niềm tin.
- Nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của con người trong những điều
kiện nhất định, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của họ. Nhu cầu bao giờ cũng là
đòi hỏi về một cái gì đó, có thể là nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần hay là nhu
cầu gắn liền với các chức năng xã hội. Lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc
đẩy con người hoạt động để thoả mãn chính những nhu cầu đó.
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó mà đối
tượng đó vừa có ý nghĩa trong đời sống, vừa hấp dẫn về mặt tình cảm đối với cá
trình độ phát triển của năng lực được hình thành trong hoạt động này. Vì thế, khi
nói đến năng lực bao giờ người ta cũng nói đến năng lực trong về một hoạt động
nào đó.
“Năng lực là tổng hoà các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp
với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt
động đó diễn ra có kết quả” [22, tr.188].
Năng lực là sự tổng hợp các thuộc tính, chúng được kết hợp theo một cấu
trúc nhất định. Trong số những thuộc tính tâm lý của nhân cách cấu tạo nên một
năng lực về một hoạt động bao giờ cũng có những thuộc tính có tầm quan trọng
hàng đầu, còn những thuộc tính khác có vai trò bổ sung hỗ trợ. Cấu trúc của
năng lực gồm 3 thành phần chính: những thuộc tính làm chủ đạo, những thuộc
tính làm chỗ dựa, những thuộc tính làm nền.
Năng lực được biểu hiện ở các mức độ: tư chất, thiên hướng, năng khiếu,
tài năng và thiên tài.
2.3.3. Tính cách
Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức tạp của cá nhân bao gồm một hệ
thống thái độ của nó đối với hiện thực thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ,
cách nói năng tương ứng.
Theo tác gỉa Bùi Văn Huệ, tính cách là những phẩm chất chung của NC,
là tập hợp không phải tất cả mà chỉ những đặc điểm điển hình nhất của NC ở
trong mối liên hệ rất chặt chẽ [10, tr.65].
Như vậy, có thể hiểu tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý
ổn định của con người, những đặc điểm này qui định phương thức hành vi điển
hình của người đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định thể hiện
thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và bản thân.
2.3.4. Khí chất
Khí chất là một thuộc tính tâm lý gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh
tương đối bền vững của cá nhân, đặc trưng cho hoạt động tâm lý về cường độ,
tốc độ, nhịp độ, thể hiện sắc thái riêng về hành vi và cử chỉ của người đó [22].
19
20