Luận văn triết học ảnh hưởng của thiên chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil tỉnh Đăk Nông hiện nay - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội luôn gắn liền với đời sống chính trị, xã
hội, văn hóa của một quốc gia. Nó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của một bộ
phận nhân dân và có ảnh hưởng không nhỏ trên phạm vi thế giới.
Hàng chục thế kỉ qua, khoa học kĩ thuật đã giúp loài người thực hiện bước nhảy
cách mạng từ thế giới thần linh sang thế giới hiện thực, nó chắp cho con người đôi
cánh của lí tính, trí tuệ thay thế niềm tin tôn giáo trong cuộc hành trình đi tìm chân lí.
Song, trong thế giới này vẫn còn chứa đựng những sự đau khổ, sự nghèo đói, nỗi lo
lắng, bệnh tật, bất hạnh và những tai họa do tự nhiên mang lại. Đặc biệt là hiện nay
nhân loại đang bước vào thời kì biến động sâu sắc. Sự biến động đó thấm vào tất cả
các mặt của đời sống xã hội. Những khuynh hướng chính trị, phân hoá giàu nghèo,
đường lối phát triển, lợi ích dân tộc khác nhau, thậm chí đối lập nhau đã dẫn đến
những xung đột đẫm máu giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong tình hình đó, mảnh đất tôn
giáo dường như màu mỡ hơn, nó xoa dịu và an ủi những con người đang hoang mang,
vô vọng trong thế giới này. Có thể nói rằng, tôn giáo đã, đang và sẽ từng ngày tác
động đến đời sống tinh thần của xã hội.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, theo đó là các
tôn giáo khác nhau. Trong các tôn giáo ở nước ta thì Thiên Chúa giáo có sự phát triển
khá mạnh mẽ. Thiên Chúa giáo vào nước ta cách đây khoảng gần 500 năm, với sự
truyền đạo của tòa thánh Giáo hội La Mã ở Việt Nam.
Những năm gần đây, Thiên Chúa giáo ở Việt Nam có chiều hướng phát triển cả
về quy mô lẫn số lượng. Nét nổi bật của đồng bào tín đồ Thiên Chúa giáo là ổn định
làm ăn, chăm lo cải thiện đời sống, hưởng ứng chủ trương đổi mới, chấp hành tốt
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước. Các hoạt động xã hội nhân đạo, phong trào an ninh trật tự, phòng
chống các tệ nạn xã hội được các tín đồ hưởng ứng theo tinh thần “tốt đời, đẹp đạo”,
“kính Chúa yêu nước”. Số đông chức sắc Thiên Chúa giáo thực hiện tốt việc hành đạo
theo tinh thần “sống phúc âm trong lòng dân tộc”.
Tuy nhiên, trong Thiên Chúa giáo vẫn còn một số chức sắc không thể hiện rõ ý
thức công dân, không đặt lợi ích của Giáo hội trong lợi ích chung của dân tộc, muốn

Việt Nam, Nxb Tôn giáo Hà Nội, Hà Nội.
- TS. Nguyễn Ngọc Thu (2003), Giáo trình Đại cương lịch sử triết học, Nxb Tổng
hợp Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
2
- Cao Huy Thuần: “Tôn giáo và xã hội hiện đại”, Nxb Chính trị quốc gia, năm
2006.
- GS. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Vui - Trương Hải Cường (2003), Tập bài giảng Tôn giáo học, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các công trình trên đã giải quyết nhiều vấn đề, dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy
nhiên các ấn phẩm, các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu nghiên cứu một cách có
hệ thống về ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiện nay.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà quản lí xã hội
trong việc hoạch định, thi hành chính sách tôn giáo trên địa bàn.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nhận diện thực trạng của Thiên Chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiện
nay.
+ Tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới sự ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trên địa bàn
huyện Đăk Mil hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong quá trình xây dựng, thi hành
các chính sách tôn giáo nói chung và Thiên Chúa giáo nói riêng trên địa bàn huyện
Đăk Mil hiện nay.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Đăk Mil

Một là, sự bất lực của con người trong quan hệ của họ với tự nhiên
Mối quan hệ cưa con người với tự nhiên là mối quan hệ rất cơ bản trong xã hội,
nó cùng với mối quan hệ con người với con người tạo thành bản chất của xã hội.
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo không phải là hệ quả nảy sinh ngay từ mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên mà bắt nguồn từ tính chất của mối quan hệ này, đó lầ sự
bất lực, thụ động và kém hiểu biết của con người trong quan hệ với tự nhiên. Con
người nguyên thủy, do trình độ văn minh thấp kém, lực lượng sản xuất còn thô sơ,
luôn bất lực trong cuộc đấu tranh với tự nhiên. Thiên nhiên trước con người nguyên
thủy luôn là một đối tượng thù địch, thường câm lặng, dấu mọi bí mật, thách đố và
luôn trả thù lại các hành động của con người. Mặt khác, tự nhiên như một sức mạnh
mù quáng gây ra nhiều tai họa, đau khổ cho con người.
Đứng trước tự nhiên mù quáng, hung hãn, ở con người nguyên thủy xuất hiện hai
loại tình cảm. Một là khát khao tìm hiểu tự nhiên, đến với tự nhiên, yêu mến tự nhiên
với mục đích chinh phục tự nhiên. Hai là lo âu, run sợ trước tự nhiên, thần thánh hóa
tự nhiên. Chính loại tình cảm này dẫn đến tôn giáo. Như Angel viết: “Từ thời đại
nguyên thủy, tôn giáo đã sinh ra từ những biểu tượng hết sức ngu muội tối tăm và
nguyên thủy của con người về bản chất của chính họ và về tự nhiên bên ngoài bao
5
quanh họ” (Mác – Angel, tuyển tập - tập 2. Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội 1971, trang
481).
Một vấn đề đặt ra là: Có thể coi sự thống trị của sức mạnh tự nhiên là nguồn gốc
xã hội của tôn giáo không ? Thực ra sự thống trị này không phải thuộc tính tự nhiên
mà sự thống trị này chỉ xuất hiện như là tính chất của mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên trong sự phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết
là công cụ lao động. Như vậy không phải chính tự nhiên làm nảy sinh ra tôn giáo mà
là tính chất phụ thuộc của quan hệ giữa con người với tự nhiên. Chúng ta có thể thấy
ngay trong mối quan hệ này đã chỉ ra những vấn đề xã hội rồi.
Có thể rút ra, tôn giáo đã nảy sinh trong một xã hội mà trình độ sản xuất hết sức
thấp kém, con người mới thoát khỏi đời sống loài vật và trong mối quan hệ với tự
nhiên, con người hoàn toàn lệ thuộc và bất lực trước những hiện tượng tự nhiên.

trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc sống tốt
đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người nguyên thủy trong
cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đe ra lòng tin vào thần thánh ma quỷ, vào những
phép màu” (Lênin toàn tập, tâp 12, Nxb Tiến bộ Matxcơva, trang 169 - 270)
Với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, con người dần dàn thoát khỏi tình trạng
phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, từng bước làm chủ tự nhiên. Về mặt xã hội, cùng
với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội cũng được cải thiện một bước ở
những nước phát triển, những nước dành độc lập. Số phận con người được chú trọng,
có nhiều quyền dân chủ hơn.
Tuy nhiên, giới tự nhiên là vô cùng vô tận, sức mạnh nhận thức và cải tạo tự
nhiên cao tới đâu đi chăng nữa thì con người vẫn là một bộ phận của tự nhiên. Con
người không thể chinh phục tự nhiên như kiểu một dân tộc này thống trị dân tộc kia
được. Mặt khác, trong những điều kiện lịch sử nhất định sức mạnh nhận thức, cải tạo
tự nhiên là có hạn nên còn chưa giải quyết được nhiều nguyên nhân gây tai họa cho
con người: Ung thư, AIDS, tim mạch… Những biến động xã hội: Chiến tranh, xung
đột sắc tộc, tôn giáo… đã đẫn dến những quan niệm dường như khoa học đã đạt dến
giới hạn của nó và hoạt động của con người cũng có hạn định, vì vậy cần phải nhờ đến
sức mạnh siêu nhiên thần bí.
Từ phân tích trên, chúng ta rút ra kết luận chung về nguồn gốc xã hội của tôn
giáo là những nhân tố khách quan của đời sống xã hội làm nảy sinh và nuôi dưỡng
niềm tin tôn giáo.
Nguồn gốc nhận thức luận của tôn giáo:
7
Tôn giáo cũng bắt nguồn từ tính hạn chế nhất định của nhận thức con người. Sự
hiểu biết của người nguyên thủy, mơ hồ về nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên
và xã hội. Việc không lí giải được những biến động này hay sự kiện có liên quan đến
đời sống, số phận con người … là tiền đề quan trọng hình thành tín ngưỡng tôn giáo.
Trước hết, nhận thức xã hội như là sản phẩm của các hoạt động con người. chỉ có
nằm trong nhận thức hoạt động của con người mới được nảy sinh trong mỗi cá nhân và
được duy trì bảo tồn bằng cách truyền lại cho các thế hệ đời sau. Vì thế, nhận thúc tôn

tính chất quyết định vì nó chỉ là nguồn gốc phát sinh từ nguồn gốc xã hội. Vậy nguồn
gốc nhận thức của tôn giáo là những điều kiện, tiền đề, khả năng làm hình thành tình
cảm, niềm tin tôn giáo. Chúng được nảy sinh trong quá trình nhận thức của con người.
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Sự nảy sinh ra tín ngưỡng tôn giáo liên quan đến cảm xúc, trạng thái, tình cảm và
đối tượng của con người.
Đã có quan điểm cho rằng: “Tôn giáo là do sự sợ hãi mà ra”. Song vấn đề không
phải là sự sợ hãi và đây là một trạng thái tâm lí chung, vốn có của mọi người, và ai
cũng có trạng thái sợ hãi này nhưng chưa chắc dẫn đến tôn giáo. Trong quá trình tác
động với thế giới hiện thực con người luôn vấp phải một hiện thực vừa “nghiêm
khắc”, “khó hiểu” vừa “bao dung” vừa “tàn bạo”, vừa “gần gũi” vừa “xa lạ”. Ở họ nảy
sing những tâm lí, cảm xúc, trạng thái lo âu, sợ hãi, đau buồn, cô đơn… Trạng thái tâm
lí này lặp đi lặp lại dẫn đến “tâm thế khuất phục” không làm chủ được mình. Mặt
khác, lòng biết ơn, tôn kính những người có công khai phá, tiến công vào các lực
lượng tự nhiên hay chống áp bức, cường quyền, làm điều thiện cũng được tô vẽ, bổ
sung tạo ra hình tượng “thánh thần”, có tính siêu phàm, xuất chúng. Sự thần thánh hóa
những người anh hùng, lòng tôn kính họ được truyền từ đời này sang đời khác hình
thành niền tin tôn giáo bền vững ở các thế hệ sau. Như vậy, tôn giáo không nảy sinh từ
nỗi sợ hãi mà chính xác là nỗi sợ hãi cộng với những xúc cảm tiêu cực được lặp đi lặp
lại thường xuyên và trở thành nhân tố bền vững trong đời sống tâm lý. Chính những
xúc cảm tâm lý tiêu cực được lặp lại nhiều lần để trở thành bền vững đó là cơ sở nảy
sinh ra niềm tin, tình cảm tôn giáo.
Ta rút ra kết luận: Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo là những điều kiện, tiền đề, khả
năng hình thành niềm tin tôn giáo. Chúng được nảy sinh trong quá trình hoạt động của
con người.
Những nguồn gốc nêu trên chính là những nguồn gốc bên trong của sự hình
thành, tồn tại và phát triển tôn giáo. Ba nguồn gốc này đan xen và tác động biện chứng
9
với nhau không thể thiếu bất kì một nguồn gốc nào cả, song quan trọng và quyết định
nhất vẫn là nguồn gốc xã hội.

10
giáo chính là sự phản ánh hoang tưởng mang tính hai mặt ấy như là mối liên hệ tất
yếu, nội tại quy định sự tồn tại của tôn giáo. Mác nhận xét: “Sự khốn cùng của tôn
giáo, một mặt là biểu hiện sự khốn cùng của hiện thực và mặt khác là sự phản kháng
chống lại sự khốn cùng của hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị
áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những
điều kiện xã hội không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.
Thứ ba, tính chất chung của tôn giáo
Một là, tính chất lịch sử.
Con người sáng tạo ra tôn giáo. Mặc dù tôn giáo còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ
là một phạm trù lịch sử. Tôn giáo không xuất hiện ngay từ đầu cùng với sự xuất hiện
của con người. Tôn giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy của con người đạt tới một
mức độ nhất định.
Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. trong từng thời kì của lịch sử, tôn giáo có sự
biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó. Cải cách tôn giáo
trong Thiên chúa giáo ở thế kỉ XVI là một thí dụ.Thời đại thay đổi, tôn giáo cũng có
sự thay đổi, điều chỉnh theo.
Đến một giai đoạn lịch sử, khi những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo bị loại bỏ,
khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số nhân dân nhận thức được bản chất của các
hiện tượng tự nhiên và xã hội, tôn giáo sẽ dần dần mất đi vai trò của nó trong đời sống
xã hội và trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
Hai là, tính chất quần chúng
Tính chất quần chúng của tôn giáo thể hiện ở tín đồ các tôn giáo thuộc tất cả các
tôn giáo, tầng lớp trong xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong dân số thế giới. Nếu chỉ tính các
tôn giáo lớn, đã có tới từ 1/3 đến một nửa dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo.
Tính chất quần chúng của tôn giáo xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Một mặt, cho đến
nay sự phát triển của khoa học, sản xuất và xã hội chưa loại bỏ được những nguồn gốc
nảy sinh tôn giáo. Mặt khác, tôn giáo cũng đang đáp ứng phần nào nhu cầu tinh thần
của quần chúng, phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một xã hội tự do,
bình đẳng… Vì vậy, còn nhiều người trong các tầng lớp khác nhau của xã hội tin theo.

Thứ tư, về chức năng của tôn giáo
Một là, chức năng đền bù ảo tưởng
Là sự hứa hẹn, thỏa mãn nhu cầu được an ủi, được đền bù ở thế giới siêu nhiên
của tôn giáo cho giáo dân. Mọi tôn giáo đều đã và đang thực hiện đền bù aỏ tưởng cho
những con người yếu đuối, đau khổ. Sự đền bù này thường hướng con người thoát
khỏi hiện thực đời sống, tìm sự thỏa mãn nhu cầu trong niềm tin vào thần thánh. Sự an
12
ủi, đền bù đẩy con người vào cuộc sống mộng mị với nhiều hoang tưởng. Trong các xã
hội có giai cấp, tầng lớp thống trị thường sử dụng chức năng này của tôn giáo để xiềng
xích thống trị tầng lớp lao động nghèo khổ về mặt tinh thần.
Hai là, chức năng thế giới quan
Đây là chức năng phản ánh hoang đường và ảo tưởng về hiện thực. Tôn giáo đã
tạo ra bức tranh thế giới của mình và nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến giáo dân. Tôn giáo
đã giải thích tự nhiên, xã hội và con người theo bức tranh hoang đường, bóp méo hiện
thực, giải thích mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh bằng mối quan hệ
thần bí giữa con người với cái siêu nhiên.
Ba là, chức năng thường trực
Tôn giáo tạo ra một hệ thống các tiêu chuẩn và giá trị của nó. Nó giải thích các
giá thị siêu nhiên cao nhất và xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn đầu tiên là bảo vệ
và nhấn mạnh niềm tin vào cái siêu nhiên, tôn giáo đề ra các tiêu chuẩn không chỉ bảo
vệ trong lĩnh vực đạo đức trong thờ cúng, nghi lễ mà còn thường trực cả trong đạo đức
xã hội và quan hệ gia đình trong các học thuyết về đạo đức, xã hội của tôn giáo.
Bốn là, chức năng liên kết
Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, tôn giáo thường thực hiện chức năng liên
kết theo mối liên kết với tất cả xã hội, tăng cường, củng cố sự tồn tại của cả hệ thống
xã hội. Tuy nhiên, chức năng này bị nhiều nhà xã hội học tôn giáo không thừa nhận là
chủ yếu và chung cho mọi tôn giáo vì chức năng liên kết này chỉ biểu hiện ở các tín
ngưỡng thời kỳ công xa nguyên thủy mà thôi.
1.1.2. Phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo
Sự tiếp cận vào tôn giáo của tôn giáo học là một tổng thể các hệ thống phương

của cá nhân với tôn giáo và ngược lại trong tiến trình tiến triển của cá nhân. Nghiên
cứu tâm lý riêng biệt của cá nhân trong những giai đoạn khác nhau của sự hình thành
và phát triển nhân cách có tầm quan trọng lớn, bởi nó vừa vạch ra con đường và lối
mòn nẩy sinh ra tôn giáo trong các thế hệ mới, vừa vạch ra được thực chất của tư
tưởng tôn giao tín ngưỡng, khái niệm tôn giáo trong ý thức cá nhân và cộng đồng giáo
dân. Chúng ta có hệ thống phương pháp cơ bản nghiên cứu tâm lý tôn giáo như:
Phương pháp hệ thống-cấu trúc, phân tích-loại hình, chọn lọc sơ bộ thông tin, quan sát,
trắc nghiệm…
Hệ thống những phương pháp trên cho phép chúng ta có đầy đủ các thông tin, tài
liệu, số liệu về tâm lý của các nhóm giáo dân khác nhau, các quan điểm, tình cảm tôn
giáo, các giá trị, các khuynh hướng, hoàn cảnh xã hội. Sử dụng rộng rãi các phương
pháp trưng cầu ý kiến, trắc nghiệm, phỏng vấn, lập các phiếu điều tra để nắm được
14
những đặc điểm khác biệt của các nhóm giáo dân khác tín ngưỡng, tìm ra đặc trưng
chung. Những phương pháp này giúp ta dựa vào thông tin đã có để từ đó phát hiện ra
nguồn gốc tâm lý của giáo dân trong toàn bộ tính phức tạp và mâu thuẫn của họ.
Những phương pháp này còn giúp ta so sánh, đối chiếu những khía cạnh chủ quan và
khách quan trong đặc tính của giáo dân, phẩm cách của họ, hiểu rõ hành vi của họ để
tìm thấy khía cạnh biểu hiện của tâm lý tôn giáo. Ngoài ra, hệ thống những phương
pháp này cần phải liên kết chặt chẽ với nhau để vạch ra kiểu tác động của ý thức của
tôn giáo, vị trí của tư tưởng và tín ngưỡng tôn giáo trong cấu trúc của ý thức và phẩm
hạnh của giáo dân.
1.2. Một số vấn đề về Thiên Chúa giáo
1.2.1. Khái quát về Thiên Chúa giáo ở thế giới
Vài nét về lịch sử và giáo lý của Thiên Chúa giáo
Thiên Chúa giáo còn gọi là Kytô giáo, Cơ đốc giáo hay Gia tô giáo, cả ba tên gọi
này đều được phiên âm từ tiếng La Tinh – Christiannism, chỉ đến thế kỷ thứ X khi
trường phái chính thống giáo(Orthodoxism) và Tin lành giáo(Protestantism) tuyên bố
li khai thì phần còn lại mới gọi là Công giáo (Catholisism). Kitô giáo xuất hiện vào
đầu thế kỉ I ở phía Đông đế chế La Mã cổ. Đế quốc La Mã là nhà nước chiếm hữu nô

không chỉ là bề tôi hay kẻ được cữu rỗi mà là con của Chúa, noi theo gương Chúa yêu
thương đồng loại, vươn tới sự thánh thiện. Trong thực tế kinh thánh khuyên con người
thay đổi cả trong ý thức lẫn hành động từ sự phản kháng bằng bạo lực sang đạo đức
hoàn thiện mỗi con người và sự khiếm khuyết, thiếu nhân tính trong các quan hệ xã
hội là kết quả của sự thiếu hoàn thiện ở mỗi con người. Điểm cốt lõi trong sự hoàn
thiện đó là tinh thần hòa giải, tha thứ, tình bác ái. Lòng khaon dung độ lượng đó biến
Kytô giáo vượt lên trên mọi tôn giáo đương thời và đươch chứng minh hùng hồn bằng
chính cuộc đời hành đạo của Jesus. Ngoài sự can đảm đối đầu với thực tế, không vụ
lợi, có tinh thần trách nhiệm với đời sống, phấn đấu cho tự do, bình đẳng, Chúa Jesus
còn tha thứ cho mọi tội lỗi của con người kể cả kẻ đã sát hại mình.
Jesus là một nhân vật có thực trong lịch sử, ông sinh khoảng năm thứ I công
nguyên trong một hang đá ở Bethleem thuộc chủng tộc Israel. Mẹ là đức đồng chinh
Maria, cha là Joseph làm nghề thợ mộc ở Nazareth xứ Palestin, một xứ thuộc quyền
bảo trợ của đế chế La Mã, nằm tiếp giáp ba lục địa: Châu Á, Châu Âu và Châu Phi.
Đời sống của Jesus được hậu thế thêm vào nhiều màu sắc thần bí, song thực ra,
ông là một người hăng hái có ý chí từ nhỏ. Trong kinh Phúc âm của thánh Luca (Câu
41, đoạn 2) năm 12 tuổi ông đã theo cha mẹ đến đền thờ Jerusalem để làm lễ “Vượt
qua” của Do thái giáo. Sau khi giữ lễ xong, Jesus chốn cha mẹ ở lại đền để đàn đạo với
16
các vị tiến sĩ, thượng tế. Năm 30 tuổi đức Kitô bắt đầu giảng thuyết cho những người
nô lệ. Ông đã đi lang thang khắp nơi vừa chữa bệnh, vừa rao giảng một triết lý nhân ái:
Yêu Thượng đế và yêu nhân loại. Yêu Thượng đế vì Thượng đế là cha của loài người,
yêu nhân loại là anh em ruột với nhau.
Theo kinh thánh, Chúa Jesus đã cứu giúp bao kẻ mù lòa có ánh sáng, cứu sống
những kẻ bị căn bệnh hiểm nghèo và quan trọng hơn, ông đã đem đến cho mọi người
tin mừng vĩ đại: Thượng đế đã phái ông xuống trần để cứu chuộc tội lỗi của con người,
đưa mọi người đến hạnh phúc tron vẹn. Các thủ lĩnh tôn giáo đa thần đang ngự tri ở La
Mã rất tức tối vì mất độc quyền thống trị trong đời sống tinh thần. Người theo đạo Do
thái cũng tức giận vì trái với tín ngưỡng của họ, tất cả tầng lớp thống trị đều cho rằng
đạo của ông sẽ gây rối loạn trật tự xã hội. Họ tìm cách ngăn cản và thủ tiêu Jesus. Lợi

đã được tắm trong bầu không khí linh thiêng của Do thái giáo. Theo kinh Phúc âm
(Luca, câu 21, đoạn 2) hồi nhỏ Jesus đã chịu phép: “Cắt bì” – một luật tục của người
Israel. Mặt khác, giáo lý Kytô giáo đã thừa nhận kinh thánh của người Israel và xem
đó là phần Cựu ước (Giao ước cũ giữa Chúa và con người).
Theo “Kinh thánh”, Chúa trời đã tạo dựng nên muôn vật và thủy tổ của loài
người là ông Ađam Và bà Eva. Do phạm lỗi với Chúa trời mà hai người bị đuổi ra
khỏi vườn địa đàng xuống trần gian. Ở trần gain con cháu của Ađam va Eva vẫn
không ngừng phạm tội nên Chúa trời phải gây nên trận Đại hồng thủy đẻ tiêu diệt tất
cả chỉ để vợ chồng Nô-ê sống sót. Con cháu của Nô-ê lại tiếp tục phạm tội và tội lỗi
ngày càng nhiều buộc Chúa trời phải phái “Ngôi thứ hai” của mình xuống trần gian để
cứu vớt con người. Cái chết của Jesus được coi là sự chuộc lỗi cho tội lỗi của con
người. Cái chết này là sự kiện quan trọng nhất và là cơ sở cho các tín điều khác.
Theo Hegel (1770 – 1831), trong “Lịch sử đức Chúa Jesus” thì “Tôn giáo là hình
thức thứ hai của hệ thống tự bộc lộ của tinh thần, sau nghệ thuật”. Ông cho rằng Thiên
Chúa giáo là loại tôn giáo tuyệt đối, là tôn giáo của chân lý tự do và tinh thần, là sự
thống nhất bản chất thần và người.
Xét về mặt tôn giáo, Thiên Chúa giáo là một hệ thống lý thuyết về đức tin và sự
mặc khải - hệ thống này nằm trong Thánh kinh bao gồm hai phần Tân ước và Cựu
ước.
Bộ kinh Cựu ước gồm 45 cuốn sách do các nhà tiên tri Do thái được Thiên Chúa
viết ra trước khi Chúa Jesus ra đời. Cựu ước giải thích nguồn gốc của vũ trụ và loài
người, lịch sử Do thái được Chúa chọn để đón nhận và chuẩn bị cho sự ra đời của
Chúa Jesus. Cựu ước được chia làm ba loại:
18
Các sách lịch sử do thánh Moise viết, các sách về các vị vua của anh em Macabê
viết.
Các sách văn thơ gồm ca vịnh, châm ngôn, nhã ca, truyền đạo
Các sách sấm ký (tiên tri) của các thánh như Saia, Gieremia, Ezechiel, Daniel và
12 nhà tiên tri nhỏ như Osê, Janas, Michê…
Tân ước cũng chia làm ba loại:

toàn bí tích như Thiên Chúa, vì tội tổ tông đó mà nảy sinh ra đau khổ, cái thiện và cái
ác ở con người.
Đức tin lớn thứ tư: Sự phục sinh của Chúa Jesus. Cái chết “tuẫn nạn” của Jesus
không phải là chấm hết, đó chỉ là phương cách cứu con người ra khỏi tội lỗi. Sự phục
sinh sẽ đến với mọi người trên trái đất sau khi chịu sự “phán xử cuối cùng” của Chúa.
Tín điều về sự phục sinh mang lại cho các tín đồ, niềm tin vào kiếp sống tạm bợ nơi
trần gian và cuộc sống vĩnh hằng nơi thiên đường.
Các luân lý bao gồm mười điều răn và ba lời khuyên:
Theo thánh Misen, Đức tin Thiên Chúa bắt nguồn từ nguyên tắc luân lý cao nhất
là tình yêu thương của Chúa và tình yêu thương đồng loại. Từ nguyên tắc đó mà Chúa
đã có mà đã có mười điều răn:
1. Không được thờ phụng một thần nào khác ngoài ta.
2. Chớ kêu tên Thượng đế một cách vô cớ.
3. Hãy nhớ ngày lễ nghỉ để thánh hóa.
4. Hãy thảo kính cha mẹ.
5. Chớ giết người.
6. Chớ tà dâm
7. Không trộm cắp
8. Không lừa gạt, hại người khác.
9. Không thèm muốn vợ (hay chồng) người khác.
10. Không thèm muốn của cải người khác.
Thực chất luân lý ở Thiên Chúa giáo kêu gọi sự phục tùng ngoan ngoãn, đức
nhẫn nại, hy sinh với sự hứa hẹn đền bù ở Thiên đàng – như trong thánh kinh đã ghi
lại lời răn nỗi tiếng của Jesus: “Nếu chúng con tha thứ lỗi lầm cho kẻ khác, cha chúng
con trên trời sẽ tha thứ cho chúng con. Bằng nếu chúng con không tha thứ cho người
khác. Cha chúng con sẽ không tha thứ cho chúng con đâu”.
Nghi lễ và tổ chức giáo hội của Thiên Chúa giáo:
20
Trong các nghi lễ của Thiên Chúa giáo, các phép bí tích là quan trọng nhất. Bí
tích là những nghi lễ thể hiện mối quan hệ giao tiếp giao tiếp giữa con người với

Chúa. Các linh mục có trách nhiệm tuyệt đối giữ bí mật của phép giải tội và những bí
mật của con chiên khi xưng tội.
5. Bí tích truyền chức thánh: Là nghi lễ để thông quyền cho giám mục, linh mục
đã được tuyển chọn, ban cho họ chức vụ trong cứu độ loài người. Sau khi truyền chức
thánh, các linh mục được quyền tế lễ và ban các bí tích khác, quyền chăn dắt dân
Chúa.
6. Bí tích hôn phối: Là lễ nghi mà Chúa ra để kết hợp hai tín hữu, một nam, một
nữ thành vợ chồng trước mặt Chúa và hội thánh ban ơn cho họ được sống xứng đáng
trong chức vụ của mình. Trong Kinh thánh có ghi lại lời phán truyền của Chúa: “Điều
gì đức Chúa trời đã kết hợp thì loài người không được phân ly’.
Bí tích hôn phối đối với tín đồ rất quan trọng vì tình yêu vợ chồng là hình ảnh
tình yêu của Chúa Jesus với loài người.
7. Bí tích sức dầu bệnh nhân: Là nghi lễ Chúa Jesus đã lập để nâng đỡ Chúa Jesus
về phần hồn và phần xác. Bí tích này nhằm tẩy sạch dấu vết tội lỗi, tha các tội quên sót
vì cơn bệnh mà không xưng tội, nó giúp tín đồ chịu đựng đau khổ, dọn mình chết lành.
Nghi lễ được thực hiện bằng cách linh mục lấy dấu thánh và nhờ lòng từ bi của Chúa
mà làm cho bệnh nhân giảm hết bệnh hoặc dọn mình trước khi chết.
Tổ chức giáo hội của Thiên Chúa giáo là một tổ chức rất chặt chẽ, hệ thống và
được gắn kết lại bởi một đức tin chung.
Đứng đầu hội thánh là Đức Giáo hoàng. Thiên Chúa giáo cho rằng, Đức Giáo
hoàng là người kế vị Thánh Phêrô và thay mặt đức Chúa Jesus làm đầu hội thánh ở
trần gian. Đức Giáo hoàng là biểu tượng và là cơ sở của sự thống nhất trong đức tin và
trong sự hiệp thông của các tín đồ Kytô hiện hữu.
Đức Giáo hoàng có quyền lực cao nhất và có trách nhiệm điều khiển mọi công
việc của hội thánh theo 4 mục đích:
Hội thánh duy nhất (độc tôn).
Hội thánh thiện.
Hội thánh Công giáo (Giảng dạy chân lý).
Tông truyền liên tục với các tông đồ.
Cơ quan đầu não của hội thánh ở Rôma. Cộng sự viên trực tiếp cho Đức Giáo

sống thánh thiện theo “tin mừng”, có thái độ sống theo đức tin đó là hy sinh vì Chúa.
Có đức bác ái, nhân từ với đồng loại như trong kinh thánh đã răn dạy: “Hãy làm cho
người khác những gì các người muốn họ làm cho mình” hoặc “Thiên Chúa là tình
yêu”.
23
Theo Thiên Chúa giáo, toàn bộ thế giới được chia thành các địa phận và họ đạo,
ngoài ra còn có các dòng tu. Các dòng tu cũng giữ một vai trò quan trọng trong Kytô
hữu. Theo Giáo luật khoản 487, các bậc dòng tu là những người chung sống để đạt tới
những việc hoàn thiện công giáo bởi giữ được ba lời khấn: Vâng lời, sạch sẽ, khá
khăn. Người tu sĩ giống như giáo dân, cũng giữ những điều luật giáo hội, nhưng người
tu sĩ sống trong một tổ chức chặt chẽ hơn, ràng buộc nhiều hơn. Trong lịch sử Thiên
Chúa giáo có những dòng tu nỗi tiếng sau:
1. Dòng tên do thánh Inhaxiô sáng lập năm 1539 – 1541, dòng tên tôn kính cách
riêng Thánh danh Chúa Jesus, nhận lễ Thánh danh Chúa Jesus, nhận lễ thánh danh
chúa làm lễ bổn mạng.
2. Dòng Đa minh, còn gọi là anh em thuyết giáo do Thánh Saint Dominique sáng
lập đầu thế kỉ XIII.
3. Dòng Phanxicô do Thánh Phanxicô sáng lập đầu thế kỉ XVIII.
4. Dòng Lasan do Thánh Gioan Baotixtia Lasan sáng lập.
5. Dòng Biển Đức do Thánh Biển Đức sáng lập đầu thế kỉ thứ VI.
Công việc chính của các dòng tu là chuyên lo cầu nguyện và chiêm nghiệm, có
một số dòng tu đảm trách ở các trường học, bệnh viện, cô nhi viện. Mỗi dòng tu có bề
trên riêng và luật riêng, song các dòng tu luôn có sự phối hợp trong lợi ích chung của
Giáo hội.
Nhìn chung Giáo hội Thiên Chúa giáo luôn cố gắng bảo vệ thuyết Chúa bất di bất
dịch (thông điệp Deilideis 1871). Vẫn khẳng định tính “Không thể sai lầm” của Giapps
hoàng và khuynh hướng quyền lực tối thượng. Những quan niệm về Chúa, hệ thống
đức tin cũng rất ít thay đổi. Tuy nhiên trong lịch sử, với những biến cố lớn trong các
thời đại, Thiên chúa giáo buộc phải thay đổi, sự thay đổi lớn lao trong thiên Chúa giáo
đã dẫn đến sự cách tân, phân phái.

là tuân thủ một cách hình thức với nghi lễ bí mật và lời căn dặn của nhà thờ mà là
niềm tin cá nhân của tín đồ vào sự hy sinh của chúa Jesu để chuộc lỗi cho con người”.
Nếu như trước kia, con người chỉ có thể được cứu rỗi ở nhà thờ thì nay đối với Luter
chỉ cần lòng tin chân thành ở Chúa là được cứu rỗi ở bất kì nơi nào quan điểm mới này
đã được Mác đánh giá: “Luter đã chiến thắng sự nô lệ của sùng đạo bằng sự nô lệ của
niềm tin. Ông đã phá vỡ niềm tin vào uy tín bằng cách tạo ra uy tín của niềm tin…Ông
giải phóng con người khỏi tôn giáo bên ngoài và xây dựng tôn giáo thành thế giới bên
trong con người. Ông giải phóng thể xác con người khỏi gông xiềng nhà thờ nhưng lại
đặt gông xiềng trong trái tim con người.
25

Trích đoạn Nguyên nhân dẫn tới ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiện nay. Một số giải pháp cơ bản nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Thiên Chúa giáo trên địa bàn huyện Đăk Mil hiện nay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status