V
V
I
I
Ệ
Ệ
N
N
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
PV
V
I
I
Ệ
Ệ
T
TN
N
A
A
M
N
G
GN
N
Ô
Ô
N
N
G
GH
H
Ó
Ó
A
AT
T
R
R
U
U
N
Ứ
U
UĐ
Đ
Ấ
Ấ
T
TP
P
H
H
Â
Â
N
NB
B
Ó
Ó
N
N
P
H
H
Í
Í
A
AN
N
A
A
M
Me
e
c
c
d
d
f
f
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
Ệ
ỆT
T
H
H
Ô
Ô
N
N
G
G
N
NL
L
Ư
Ư
Ợ
Ợ
N
N
G
GP
P
H
H
Â
Â
N
NB
B
Ó
Ó
M
M
Ộ
Ộ
T
TS
S
Ố
ỐC
C
Â
Â
Y
YT
T
R
R
Ồ
Ồ
N
N
A
A
I
I
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Bích Thu
3.2.2.2. Xây dựng công thức 44
3.3. CÁC BƯỚC TÍNH TOÁN LƯỢNG DINH DƯỠNG CẦN THIẾT CHO CÂY
TRỒNG 46 -59
3.3.1. Cơ cấu chương trình 46
3.3.2. Các bước tính lượng dinh dưỡng cần thiết cho một số loại cây trồng 46
3.3.2.1. Hiện trạng sử dụng dinh dưỡng trên khu vực xã 48
3.3.2.2. Tính toán cho nông hộ 51
3.3.2.3. Tính ước lượng phân bón cần thiết 56
3.4. KẾT QUẢ XÂY DỰNG VÀ TÍNH TOÁN 60-78
3.4.1. Xây dựng bản đồ nhu cầu dinh dưỡng 60
3.4.1.1. Xây dựng các bản đồ thành phần 60
3.4.1.2. Phần mềm ứng dụng trong xây dựng và biên tập bản đồ 60
3.4.1.3. Phương pháp xây dựng 60
3.4.1.4. Kết quả xây dựng 62
3.4.2. Giới thiệu chương trình và kết quả tính 65
3.4.2.1. Giới thiệu chương trình 65
3.4.2.2. Một số kết quả tính toán 73
3.4.3. Thực hiện một số thí nghiệm kiểm chứng kết quả tính toán từ mô hình 78
3.4.3.1. Thí nghiệm trên cây đậu nành 78
3.4.3.2. Thí nghiệm trên cây bắp 79
3.4.3.3. Thí nghiệm trên cây rau cải 80
Chương 4 – KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83
4.1. Kết luận 83
4.2. Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
tỷ lệ NPK so với nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng theo khuyến cáo. Điều đó đã dẫn
đến năng suất và chất lượng nông sản chưa cao, hiệu quả sử dụng phân bón chưa hợp
lý.
Để việc đầu tư phân bón hiệu quả, tiết kiệm chi phí và giảm thiểu lượng tồn dư
trong đất, cần phải tính toán và dự báo trước lượng phân bón các loại cần thiết cho sản
xuất nông nghiệp trên quy mô toàn tỉnh. Rất cần thiết để phát triển một phương tiện
giúp người sử dụng có thể trực tiếp tính toán và dự báo lượng phân bón cho từng loại
cây trồng, từng loại đất, từng vụ… Đó là mô hình toán học có thể tích hợp các thông
số liên quan như nhu cầu dinh dưỡng cây cần để đạt năng suất mục tiêu, lượng dinh
dưỡng cung cấp từ đất, hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây, chủng loại phân bón…
giúp người sử dụng có thể chủ động tính toán lượng phân bón cần thiết cho từng loại
cây trồng trên mảnh đất của mình. Hơn thế nữa, với việc quan tâm tới chất lượng môi
trường và giá cả phân bón tăng cao như hiện nay, đó cũng sẽ là một giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng phân bón, tiết kiệm và giảm ô nhiễm môi trường đất, nước mặt
và nước ngầm
1. 2. Mục tiêu của đề tài:
- Mục tiêu trước mắt:
+ Xây dựng phần mềm tính toán nhu cầu phân bón cần thiết đối với các loại cây trồng
chính trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
+ Giúp các cơ quan chức năng chủ động lập kế hoạch đầu tư phân bón cho sản xuất
nông nghiệp.
- Mục tiêu lâu dài:
Nâng cao hiệu quả đầu tư trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
1.3 . Phạm vi nghiên cứu:
- Vùng nghiên cứu: toàn tỉnh Đồng Nai
- Đối tượng nghiên cứu: Một số cây trồng thuộc 3 nhóm chính: nhóm cây hàng năm
(lúa, bắp, rau , đậu, bông), nhóm cây ăn trái ( Bưởi, sầu riêng, chôm chôm, nhãn…)
và nhóm cây công nghiệp lâu năm (cà phê, tiêu, điều…)
- Nguyên tố dinh dưỡng đa lượng từ phân bón: Nitơ, Phot pho và Kali
1. 4. Nội dung nghiên cứu:
/T
T
í
í
n
n
h
ht
t
o
o
á
á
n
nk
k
ế
ế
t
t
b
b
ằ
ằ
n
n
g
gl
l
ậ
ậ
p
pt
t
r
r
ì
ì
n
n
h
h
e
t
tt
t
h
h
u
u
ậ
ậ
n
nl
l
ợ
ợ
i
ic
c
h
h
o
àc
c
ậ
ậ
p
pn
n
h
h
ậ
ậ
t
td
d
ữ
ữl
l
i
t
e
e
r
r
n
n
e
e
t
t
.
.
Chương 2 - TỒNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ở TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ ở hầu
hết những quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt nam. Có thể nói tất cả các lĩnh vực
của ngành nông nghiệp từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, triển khai đều
sử dụng công nghệ thông tin làm phương tiện đắc lực. Các đối tượng nghiên cứu của
ngành nông nghiệp đều là đối tượng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy công
nghệ thông tin là phương tiện hết sức hiệu quả để phát hiện đặc tính, tìm ra quy luật
phát triển để tác động có lợi cho con người.
Trong vòng 10 năm trở lại đây, nhiều hội thảo quốc tế về lĩnh vực này đã được tổ
chức như: Hội thảo của Hiệp hội các nước châu Á về công nghệ thông tin trong nông
nghiệp (AFITA) được tổ chức lần đầu tiên ở Nhật Bản (AFITA1998), lần 2 ở Hàn
Quốc (AFITA2000) và lần 3 ở Trung Quốc (AFITA2002); hiệp hội các nước Châu Âu
về công nghệ thông tin trong nông nghiệp (EFITA) được tổ chức lần đầu tiên ở Đan
Mạch (EFITA1997), lần 2 tại Đức (EFITA1999), lần 3 tại Hungary (EFITA2001) và
lần 4 ở Pháp (EFITA2003). Ngoài ra, ở Mỹ cũng đã tổ chức 7 lần hội thảo quốc tế về
sử dụng máy điện toán trong nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên (viết tắt là ASAE).
- Quản lý lượng đạm trong cây lúa.
- Kiểm soát lượng phân bón, ngăn chặn quá trình Nitrát hóa.
- Nitrát và sự tích lũy chúng trong đất nông nghiệp.
- Mô hình nitơ trong nông nghiệp.
- Mô hình tính toán hiệu quả của phân lân, khả năng tích lũy trong cây trồng và trong
đất.
- Mô hình tính toán hiệu quả của phân kali, khả năng tích lũy trong cây trồng và trong
đất.
- Mô hình tổng hợp cho cả 3 nguyên tố dinh dưỡng đa lượng N,P,K
- Sử dụng, quản lý phân bón hữu cơ và phân bón sinh học.
Việc xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng là cơ sở cho việc xây dựng các
mô hình tính toán phân bón. Có rất nhiều phương pháp đã được các nhà khoa học sử
dụng để nghiên cứu.
+ Stoorvogel và Smaling (1990), dựa trên bản đồ đất để thiết lập cơ sở dữ liệu,
xem xét các nguồn dinh dưỡng bổ sung vào đất và nguồn dinh dưỡng lấy đi từ đất để
tính toán. Trong đó:
* Quá trình lắng đọng của khí quyển chủ yếu từ hai thông số: nước mưa (vào mùa
mưa) và bụi (vào mùa khô).
* Quá trình cố định đạm, đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Giller; Danso,
1992; Giller và Wilson, 1991; Hartemink, 2001) và được tính trên công thức: Lượng
đạm cố định = 0,5 + 0,1 x √(lượng mưa).
* Quá trình trầm tích: dựa trên 2 thông số chính: dinh dưỡng cung cấp từ nước
tưới và trầm tích do xói mòn (một số nghiên cứu của Doll và Siebert, 2000; Stoorvogel
và Smaling, 1990).
* Sản phẩm cây trồng: dựa trên lượng dinh dưỡng có trong cây trồng (theo
FAOSTAT).
* Phụ phẩm cây trồng: tính từ chất dinh dưỡng có trong phụ phẩm cây trồng. Đây
là thông số khó xác định nhất; một số nhà khoa học giả định rằng nếu đem đốt những
phụ phẩm đó thì tồn bộ hm lượng đạm bị mất đi do quá trình bay hơi và 50% kali bị
mất đi trực tiếp thông qua quá trình thấm.
bay hơi
= (0,025 + 0,000855 x P + 0,01725 x F + 0,117 x O) + 0,113 x F
Trong đó:
P: Lượng mưa hàng năm (mm);
F: là hàm lượng đạm trong phân khoáng và hữu cơ (kg N/ha);
O: hàm lượng hữu cơ (%);
+ Quá trình xói mòn: Nghiên cứu quá trình này dựa trên mô hình LAPSUS để
đánh giá mức độ xói mòn (theo Schoorl, Sonnevel và Veldkamp, 2000). Các nguồn dữ
liệu đầu vào để tính toán cho mô hình bao gồm:
• DEM, với độ phân giải 1km (USGS, 1998);
• Bản đồ thảm phủ đất đai (USGS, 2000);
• Bản đồ lượng mưa (Leemans và Cramer, 1991);
• Bản đồ xói mịn đất (FAO/UNESSCO, 1997);
• Độ sâu tầng đất canh tác (FAO/UNESSCO, 1997);
- Mô hình Qpais (UK) cũng được các nhà khoa học trường đại học Warwick sử
dụng để xem xét nhu cầu của cây trồng đối với mỗi loại dinh dưỡng chủ yếu. Qpais
được xây dựng và mô phỏng tính toán cho 25 loại cây trồng khác nhau với các thông
số đầu ra bao gồm: khối lượng quy khô của cây, thành phần khoáng của cây, sự phân
bố dinh dưỡng trong đất theo chiều sâu phẫu diện tại những thời điểm trong suốt quá
trình canh tác. Cơ cấu chương trình gồm 4 phần chính như: tính Đạm, Lân, Kali và
tổng hợp NPK. Mô hình được thể hiện qua lưu đồ với các thông số sau:
Lưu đồ mô hình đạm: bài toán dựa trên mối quan hệ giữa các yếu tố như: hàm
lượng hữu cơ trong đất, phụ phẩm cây trồng, phân khoáng, quá trình chuyển hóa đạm
trong phẫu diện đất, quá trình thấm trong các tầng đất, sự phân bố của bộ rễ, thuộc tính
của đất, cây trồng hấp thu, tổng lượng đạm trong cây, sinh khối cây, điều kiện thời tiết
hàng ngày, v.v…
Lưu đồ mô hình phospho: Bài toán tính dựa trên tác động của hàm lượng
photphat trong đất, trong phân bón với sự phát triển hàng ngày của cây trồng, lượng
photphat trong cây và những chuyển đổi từ các dạng khác nhau trong đất.
Lưu đồ mô hình Kali: Cây trồng sinh trưởng và phát triển với bộ rễ của chúng
bức xạ, … Các thông số nào sẽ được xử lí cho phẫu diện đất trong vùng nghiên cứu và
trả về các giá trị đầu ra như: lượng xói mòn, rửa trôi; lượng bay hơi để tính lượng dinh
dưỡng mà cây trồng hấp thu và lượng dinh dưỡng hòa tan.
+ Mô hình NTALE (Nitrogen Tranfomation and Loss Estimates) của trường đại
học OHI State đã đưa ra bài toán đánh giá lượng đạm chuyển hóa và mất đi trong quá
trình canh tác dựa trên các thông số đầu vào: loại phân bón, bảng nhiệt độ chi tiết từng
ngày và từng tháng, đối tượng cây trồng, thời điểm canh tác, loại đất … Nguồn dữ liệu
xuất ra gồm hàm lượng N - NH
4
v N – NO
3
, lượng mất đạm do quá trình bay hơi, khử,
rửa trôi và thấm.
+ Mô hình chọn loại phân bón (Fertilizer Chooser) được viết trên ngôn ngữ
Visual Basic và quản lý dữ liệu bằng Access bởi Thomas FairHust, Achim
Dobermann, Chritian Witt Chương trình không chỉ quy đổi lượng phân bón từ nguồn
phân dạng rắn mà còn dạng lỏng, tính toán tổng chi phí phân bón đầu tư cho cây trồng.
(Nguồn Đại học Nebraska-Lincoln và một số đơn vị khác như Pacific Rim Palm Oil
Limited (PRPOL), South East Asia Program (SEAP) of the Potash & Phosphate
Institute/Potash & Phosphate Institute of Canada (PPI/PPIC) & International Potash
Institute (IPI)
).
Trên cơ sở những mô hình xây dựng được, việc kế hoạch hóa đầu tư cho sản
xuất nông nghiệp, tập hợp, xử lý thông tin và dự báo khối lượng vật tư nông nghiệp
hàng năm cho từng cây trồng, từng vùng trở nên hết sức thuận lợi. Thực tế ứng dụng
này mang lại lợi ích lớn về nhiều mặt: chủ động được kinh phí, tiết kiệm vật tư, đầu tư
đúng đối tượng và quản lý dinh dưỡng, bảo vệ môi trường…. do đó mang lại hiệu quả
cao cho sản xuất nông nghiệp.
Ở Việt nam nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy phân bón đóng góp làm tăng
nông dân bón phân không theo khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật là rất phổ biến. Bởi vì
khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật là khuyến cáo chung cho cả một vùng rộng lớn mà
việc bón phân phải theo từng đám ruộng nhỏ. Những thông tin mà nông dân có được
trên mảnh ruộng của họ thường đầy đủ và chính xác hơn nên việc bón phân hiệu quả
hơn. Để khắc phục phần nào vấn đề này, một số công cụ như các bộ phân tích nhanh
dinh dưỡng trong đất (“Q” Test Kit); bảng so màu lá, máy đo diệp lục tố để xác định
trạng thái đạm trong cây… đã được phổ biến từ lâu giúp cán bộ kỹ thuật đưa ra khuyến
cáo chính xác cho người nông dân. Tuy nhiên những công cụ này vẫn còn khá đắt nên
chưa thể ứng dụng rộng rãi.
Vì vậy rất cần thiết để phát triển một phương tiện giúp người sử dụng có thể trực
tiếp tính toán và dự báo lượng phân bón cần thiết cho từng loại cây trồng, từng loại
đất, từng vụ… Mô hình toán học có thể tích hợp các thông số liên quan như nhu cầu
dinh dưỡng cây cần để đạt năng suất mục tiêu, lượng dinh dưỡng cung cấp từ đất, hiệu
quả sử dụng dinh dưỡng của cây, chủng loại phân bón… giúp người sử dụng có thể
chủ động tính toán lượng phân bón cần thiết cho từng loại cây trồng trên mảnh đất của
mình. Hơn thế nữa, với việc quan tâm tới chất lượng môi trường và giá cả phân bón
tăng cao như hiện nay, đó cũng sẽ là một giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân
bón, tiết kiệm và giảm ô nhiễm môi trường đất, nước mặt và nước ngầm.
3.1. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN CHO MỘT SỐ LOẠI CÂY
TRỒNG Ở ĐỒNG NAI
Đồng Nai hiện có khoảng 302.845 ha diện tích đât nông nghiệp, chiếm hơn 50%
diện tích đất tự nhiên. Những năm gần đây, tuy có nhiều biến động trong tình hình sử
dụng đất đai nhưng Đồng Nai vẫn là tỉnh có qui mô sử dụng đất nông nghiệp lớn nhất
Đông Nam Bộ. Các loại nông sản thế mạnh của tỉnh là các loại cây ăn trái, cây công
nghiệp. Trong đó, cà phê, điều và cao su là những loại cây công nghiệp lâu năm có giá
trị xuất khẩu và có sản lượng xếp vào hàng nhất nhì cả nước.
Bảng 1- Diện tích - năng suất – sản lượng một số cây trồng chính ở tỉnh Đồng Nai
11.6382.745
1.523
70043.100
12.082
4.276
1.314
6.900
16.80042,70
52,20
118,64
9,75
2.963
1.561
1.10052.400
117.408
16.756
8.793
10.600
23.400
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT 2007).
Nông dân Đồng Nai trong những năm gần đây đã nhận được nhiều sự hỗ trợ từ
chính quyền địa phương, các nhà khoa học, để từng bước cải thiện điều kiện canh tác,
nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng nông sản. Thực tế cho thấy, sản xuất nông
nông nghiệp ở Đồng Nai đã có những bước tiến đáng kể trong những năm qua, tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những yếu kém về mặt kỹ thuật, cơ sở vật chất, trình
độ canh tác. Đây là vấn đề chung của nền nông nghiệp cả nước bởi một tập quán canh
tác lâu đời, quan điểm về nền nông nghiệp hàng hóa để đáp ứng với hội nhập quốc tế
còn chưa được chú trọng. Việc tin học hoá trong nông nghiệp từ lâu đã được ứng dụng
rộng rãi ở các nước phát triển, ở Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng thì vấn đề
thu 26.200 ha và ở vụ Đông Xuân một số loại cây trồng khác được thay thế cho cây
lúa như bắp, rau màu nên diện tích gieo sạ chỉ đạt 15.900 ha.
Phần lớn diện tích lúa ở Đồng Nai được trồng trên đất phù sa thuộc hệ thống phù
sa sông Đồng Nai. Đất phù sa chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên
của tỉnh (27.979ha, chiếm 4,76%). Đây là loại đất có thành phần cơ giới thay đổi từ
trung bình đến thịt nặng, pH từ 4 – 5, hàm lượng N và P
2
O
5
tổng số khá, nhưng P
2
O
5
dễ tiêu nghèo. Để sử dụng hiệu quả loại đất này trong canh tác lúa thì lượng phân bón
và kỹ thuật canh tác hợp lý đóng một vai trò rất quan trọng. Dựa vào những đặc điểm
cơ bản của loại đất canh tác để có thể tính toán được lượng phân bón hợp lý, vừa tiết
kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả kinh tế cao.
Kết quả điều tra nông hộ về tập quán canh tác lúa ở khu vực nghiên cứu cho
thấy: nông dân trồng lúa đã chú trọng nhiều đến kỹ thuật sử dụng phân bón, phần lớn
những hộ được điều tra cho rằng phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhất
góp phần gia tăng năng suất, tuy nhiên trong chế độ bón phân thì đa số hộ lại lúng
túng, hầu hết chưa nắm rõ được quy trình kỹ thuật, hoặc là bón với một lượng quá
thấp, hoặc quá nhiều, đôi khi mất cân đối giữa các loại phân bón. Thống kê kết quả
điều tra cho thấy, đối với cây lúa, lượng phân bón được sử dụng như sau: mức phân
đạm sử dụng từ 62 – 84 kg N/ha, mức lân từ 33 – 65 kg P
2
O
5
/ha và mức Kali dao động
từ 20 – 40 kg K
Mức độ đầu tư phân lân cho cây bắp tại khu vực nghiên cứu cho thấy: cũng
tương tự với mức độ đầu tư phân đạm, lượng phân lân dùng cho cây bắp có sự chênh
lệch rất lớn giữa các hộ được điều tra và khác biệt khá lớn so với mức được khuyến
cáo. Có rất nhiều hộ hoàn toàn không có bón lân, trong đó số hộ không bón lân nhiều
nhất là ở huyện Long Thành (9 hộ) và Thống Nhất (8 hộ). Mức sử dụng lân phổ biến là
dưới 20kg/ha/vụ, thấp hơn nhiều so với mức khuyến cáo, ngược lại thì cũng có những
hộ bón quá nhiều so với nhu cầu về lân của cây bắp như ở Xuân Lộc bón tới mức
450kg/ha/vụ(cao gấp gần 10 lần so với mức khuyến cáo, việc bón quá mức này chẳng
những gây lãng phí do cây hấp thụ không hết lượng dinh dưỡng bón và mà về lâu dài
nó còn tích luỹ lại trong đất ảnh hưởng tới các tính chất lý hoá của đất.
Từ kết quả điều tra nông hộ thu được cho thấy: đa số các hộ trồng bắp đều bón
lượng Kali rất thấp so với nhu cầu của cây bắp, bên cạnh đó thì một số ít lại bón với
mức quá cao như ở Xuân Lộc có hộ bón tới 600kg K
2
O/ha/vụ. Cũng như đạm và lân,
trong kỹ thuật bón kali cho bắp ở Đồng Nai còn nhiều bất hợp lý về liều lượng cũng
như tính cân đối giữa các loại phân.
Lượng phân bón được khuyến cáo phổ biến ở Đồng nai là 160 N - 80 P
2
0
5
- 120
K
2
0/Ha
+ Cây rau
Nhìn chung, ở Đồng Nai có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên các loại rau đậu đều
thích hợp được trên nhiều loại đất, trồng được quanh năm. Bên cạnh đó đa số các loại
rau lại có yêu cầu kỹ thuật canh tác đơn giản và quan trọng là không đòi hỏi mức độ
đầu tư cao và nhanh thu hồi vốn nhờ vào thời gian sinh trưởng của các loại rau đậu
chú ý nhiều đến quy trình bón phân sao cho đúng, đủ, cân đối hợp lý để vừa đáp ứng
nhu cầu sinh trưởng của cây rau mà còn đảm bảo chất lượng của nông sản. Mức độ sử
dụng phân bón cho cây rau ăn lá tại khu vực điều tra được trình bày qua bảng sau:
Bảng 2 - Lượng phân bón dùng cho 1ha rau ăn lá các loại
Loại phân bón Đơn vị tính Số lượng
Phân chuồng
Phân tro, trấu
Phân urê
Phân super lân
Phân KCl
Tấn
Tấn
Kg
Kg
Kg
10-12
8-10
50-100
100-120
20-30
(Nguồn: Điều tra nông hộ )
- Tình hình sử dụng phân bón cho các loại rau ăn trái:
Nhu cầu về dinh dưỡng của các loại rau ăn trái thường cao hơn so với rau ăn lá,
thời gian sinh trưởng cũng dài hơn do đó trong kỹ thuật bón phân phải có liều lượng và
thời kỳ bón thích hợp để có thể đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng cho cây rau sinh
trưởng phát triển tốt, năng suất cao. Thực tế điều tra tình hình sử dụng phân bón của
nông dân tại khu vực khảo sát được trình bày qua bảng sau:
Bảng 3 - Lượng phân bón dùng cho 1 ha các loại rau ăn trái.
Loại phân bón Đơn vị tính Số lượng
Phân chuồng
bazan, đen, đất xám vàng, tuy nhiên năng suất khi trồng trên đất xám không cao. Các
vùng trồng đậu nành phổ biến ở Đồng Nai là Định Quán, Long Khánh, Xuân Lộc. Với
điều kiện tự nhiên của Đồng Nai thì cây đậu nành có thể trồng được 3 vụ trong năm,
tuy nhiên ở vụ Đông Xuân nông dân ít gieo trồng vì hiệu quả kinh tế không cao.
Cây đậu nành là một trong những loại cây trồng có bộ rễ hết sức đặc biệt, cũng
như một số loại cây họ đậu khác, rễ đậu nành có các nốt sần do vi khuẩn Rhizobium
japonicum cộng sinh với rễ hình thành. Quan hệ cộng sinh giữa vi khuẩn này với cây
đậu giúp cho cây đậu có được một lượng đạm khá dồi dào từ sự tích luỹ của sinh vật
nốt sần, lượng đạm này rất hữu ích cho sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu nành.
Chính vì những đặc tính khác biệt đó mà trong quy trình kỹ thuật bón phân cho cây
đậu nành cũng đòi hỏi những yêu cầu riêng, lượng phân bón(kg/ha) thích hợp cho cây
đậu nành trồng ở Đồng Nai theo khuyến cáo là: phân hữu cơ hoai mục 3 – 5 tấn, 500 –
1000 kg vôi (nếu đất chua), phân vô cơ nên bón với liều lượng 40 N + 60P
2
O
5
+ 60
K
2
O.
Từ kết quả điều tra thu được cho thấy: đa số các hộ dân đều có sử dụng các loại
phân hỗn hợp NPK để bón cho đậu nành, có rất ít hộ dùng phân bón lá, đặc biệt là việc
sử dụng phân hữu cơ cho cây đậu nành, chỉ có khoảng 10% số hộ là có sử dụng các
loại phân hữu cơ để bón lót. Đất trồng đậu nành ở Đồng Nai đa số là đất chua, pH
thấp, tuy nhiên trong canh tác đậu nành lại có rất ít hộ có sử dụng vôi. Một vấn đề
đáng chú ý nữa là số lần bón phân trên 1 vụ, trong khi khuyến cáo số lần bón phân
thích hợp chỉ là 3 lần: 1 lần bón lót, 2 lần bón thúc vào khoảng 10 – 12 ngày sau trồng
và khoảng 20-22 ngày sau trồng, nhưng thực tế điều tra cho thấy, chỉ có 35% số hộ
được điều tra là áp dụng theo quy trình kỹ thuật khuyến cáo, số còn lại hoặc chỉ bón 1-
2 lần, hoặc bón quá nhiều lần. Việc bón phân không theo cơ sở khoa học này chẳng
Bảng 4 - Số lần bón và lượng phân bón cho cây bông tại huyện Thống Nhất
Lượng phân bón (kg/ha) Số lần bón
N P
2
O
5
K
2
O
Bón lót 16 – 24 16 – 24 8 – 12
Thúc 1 37 – 69 8 – 32 22 – 64
Thúc 2 26,4 – 45,9 8 – 16 22 – 44
Thúc 3 33 – 54 10 – 24 25,1 – 52
(Nguồn: Điều tra nông hộ)
Công thức bón: 112,4 – 192 kg N – 42 – 96 kg P
2
O
5
- 77,1 – 172 kg K
2
O.
Nhìn vào lượng phân bón trên có thể thấy rằng nông dân đã sử dụng phân bón ở
mức khá cao so với mức khuyến cáo của công ty. Tuy nhiên trong thực tế điều tra thì
lại thấy rằng đại đa số nông dân bón phân theo kinh nghiệm, không đồng đều giữa các
loại phân nên hiệu quả sử dụng không cao mặc dù bón nhiều phân.
Bảng 5 - Số lần bón và lượng phân bón cho cây bông tại Trảng Bom
Lượng phân bón (kg/ha)
Số lần bón
N P
2
bazan, đất phù sa…tuy nhiên để đạt năng suất cao thì yêu cầu đất trồng phải có tầng
canh tác dày, thành phần cơ giới nhẹ và trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí, pH thích
hợp từ 5,5 – 7. Đất trồng bưởi khu vực Tân Triều là đất phù sa hệ thống sông Đồng
Nai, rất thuận lợi cho chuyên canh cây bưởi, tuy nhiên pH hơi thấp so với yêu cầu của
bưởi, do đó trong canh tác cần chú ý nhiều đến việc điều chỉnh pH cho phù hợp thông
qua việc bón thêm vôi cho đất. Qua điều tra khảo sát thực tế, một số ghi nhận về hiện
trạng sử dụng phân bón cho cây bưởi như sau:
Phân hữu cơ:
Tập quán bón phân: bón càng nhiều phân chuồng càng tốt nhưng phải ủ cho thật
hoai. Tuy nhiên lượng phân chuồng không phải lúc nào cũng có đủ để đáp ứng yêu cầu
đó. Theo kinh nghiệm nhà vườn cho rằng phân hữu cơ cung cấp độ phì cho đất, cây
hút dinh dưỡng từ từ. Hầu hết nhà vườn bón phân cho cây mang tính tự phát không
theo bất kỳ một công thức bón phân nào cả và chỉ bón theo kinh nghiệm của chính họ
được áp dụng tuỳ mảnh vườn, tuỳ giống bưởi.
- Nguồn gốc phân chuồng: cút, bò, cá, gà, tro rạ. Mỗi năm nhà vườn chỉ bón 1
lần trong năm sau mùa thu hoạch.
- Lượng phân: rất thấp, biến động từ 10 – 30kg/cây.
Ngoài ra một số nhà vườn còn bón tro vì họ cho rằng bón tro thì quả bưởi sẽ chắc
hơn, tăng độ ngọt của quả. Liều lượng thường khoảng từ 10 – 40 kg/cây tương đương
với 1 bao tro (đối với 1 gốc bưởi lớn).
- Thời điểm bón: thời kỳ kinh doanh sau thu hoạch khoảng 20 ngày thì tiến hành
bón phân.
- Cách bón: đắp vòng bán kính 1m cách gốc vào mùa nắng tưới nước thật đẫm
trong vồng. Mỗi năm làm cỏ 1 lần, kết hợp bón phân, sau khi bón 2 tháng thì rắc vôi
đều trên mặt vồng vào mùa mưa.
Đa số đất trồng bưởi ở khu vực nghiên cứu có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp,
hàm lượng hữu cơ ở mức trung bình đến thấp. Do đó, việc sử dụng phân hữu cơ là rất
cần thiết vì ngoài việc cung cấp bổ sung một lượng dinh dưỡng nhỏ cho đất ra thì tính
chất lý hoá của đất cũng được cải thiện đáng kể, làm tăng khả năng hấp thu các loại
phân khoáng của cây. Hiện nay trên thị trường có khá nhiều loại phân hữu cơ chế biến
200
300
300
400
600
600
10
15
30
30
40
40
0,5
0,5
0,5
1
1
1
(Nguồn: Điều tra nông hộ)
Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết nhà vườn trồng bưởi vẫn còn lệ thuộc nhiều
vào các loại phân vô cơ như Urê, DAP, liều lượng bón cũng rất khác nhau, trong số
các hộ được điều tra thì toàn bộ đều sử dụng biện pháp bón phân truyền thống là rải
quanh gốc rồi lấp đất, chưa có hộ nào đầu tư hệ thống bón phân qua đường ống, đây là
phương pháp mới, có nhiều ưu điểm như tiết kiệm được phân bón, tiết kiệm công, tiết
kiệm nước…tuy nhiên mức độ đầu tư ban đầu lớn do đó nông dân chưa có điều kiện
áp dụng. Nhìn chung, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong kỹ thuật trồng bưởi, nhưng
việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất còn nhiều hạn chế dẫn đến năng
suất vườn bưởi chưa cao, hiệu quả kinh tế mang lại chưa tương xứng với tiềm năng
của vùng chuyên canh này.
+ Sầu riêng:
>5
200
600
1200
2000
100
100
200
300
100
0
0
0
10
30
50
(Nguồn: Điều tra nông hộ)
Kết quả điều tra trên cũng cho thấy rằng nông dân đã sử dụng khá nhiều các loại
phân bón lá. Các loại phân bón lá được sử dụng chủ yếu vào giai đoạn chuẩn bị ra hoa
và tăng cường đậu quả. Các loại phân bón lá phổ biến là các loại có chứa Bo, KNO
3
.
Phân vô cơ phổ biến là các loại NPK chế biến sẵn, được sử dụng chủ yếu là loại NPK
16 – 16 - 8.
+ Cây chôm chôm:
Chôm chôm là loại cây ăn quả lâu năm, được trồng khá phổ biến ở Đồng Nai.
Tổng diện tích trồng chôm chôm trong tỉnh khoảng 12.082ha được phân bố tập trung ở
các huyện, thị xã như: Trảng Bom, Thống Nhất, Long Khánh, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ,
Long Thành, Định Quán. Đất đỏ Đồng Nai (vùng Long Khánh, Xuân Lộc) thích hợp
1,58kg P
2
O
5
, 7,54 – 8,96 kg K
2
O. Nhãn trồng trong vùng có thể đạt năng suất đến 7
tấn/ha (Số liệu thống kê, 2007). Lượng dinh dưỡng cần cung cấp cho cây trong giai
đoạn kinh doanh khoảng 160kg N, 35kg P
2
O
5
và 210kg K
2
O.
3.1.3.3. Nhóm cây công nghiệp:
+ Cà phê:
Cà phê là một trong những loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Ở Đồng
Nai, cà phê được trồng nhiều trên các loại đất đen và đất đỏ, tầng canh tác dày, thành
phần cơ giới trung bình đến hơi nặng (đất thịt nhẹ – sét) và có địa hình không quá dốc,
tập trung nhiều ở Long Khánh, Xuân Lộc. Tổng diện tích cây cà phê ở Đồng Nai trong
năm 2007 là 16.100 ha, lớn nhất vùng Đông Nam Bộ và chiếm 50% diện tích của cả
vùng (34.600ha). Sản lượng cà phê của cả tỉnh năm 2007 đạt 23.400 tấn/năm, tuy
nhiên năng suất cà phê ở đây cũng chỉ ở mức trung bình 14,5 tạ/ha.
Cây cà phê có nhu cầu dinh dưỡng rất cao, đặc biệt rất cần phân hữu cơ, lượng
phân hữu được khuyến cáo trung bình là từ 10 – 20 kg phân chuồng hoai/gốc/năm. So
với các loại cây công nghiệp khác thì cà phê là loại cây đem lại hiệu quả kinh tế khá
cao nên trong kỹ thuật canh tác nông dân cũng chú trọng đầu tư cao hơn so với một số
loại cây trồng khác. Tuy nhiên nhiều người vẫn mắc sai lầm khi sử dụng phân bón cho
cà phê vì nghĩ rằng càng bón nhiều thì năng suất càng cao. Chính quan điểm sai lầm
Đông Nam Bộ (176.334 tấn/năm) và gần bằng 2 lần sản lượng của các tỉnh Tây
Nguyên (19.398 tấn/năm). Theo số liệu thống kê có được thì tính đến năm 2007 Đồng
Nai vẫn là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về diện tích điều (43.100ha) sau Bình Phước
(121.300ha). Năng suất trung bình đạt 12 tạ/ha, năng suất này chưa cao và còn thiếu
ổn định.
Cây điều có tính thích ứng tương đối rộng, có thể trồng được trên nhiều loại đất
khác nhau. Ở Đồng Nai điều được trồng chủ yếu trên đất đen, đất đỏ và đất xám, với
những nơi có địa hình bằng phẳng hoặc dốc nhẹ, tầng canh tác dày. Chính vì địa bàn