tiểu luận đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt vào thời Lý Trần ,đặc thù của Phật giáo thời Lý Trần - Pdf 26

DẪN NHẬP
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên.Và sự du
nhập ấy đã phát triển dần và đạt đến đỉnh điểm vào thời Lý Trần.Có thể nói
vào thời này, Phật giáo ảnh hưởng hết sức tự nhiên đến mọi lảnh vực trong
đời sống của người dân Việt.Sự ảnh hưởng ấy đã góp phần tạo nên những
đặc trưng nổi bật trong con người Đại Việt.Đó là con người vừa biết kiểm
soát thân tâm, phát triển tận cùng khả năng giác ngộ hoàn toàn, lại vừa
không ngừng tích cực xây dựng an lành cho cuộc sống, hết mình phục vụ cho
nhân sinh dân tộc.Góp sức xây dựng một đất nước Việt Nam, thật sự tự chủ,
độc lập và có đủ nội lực đối kháng những thế lực xâm lược mạnh mẽ từ bên
ngoài.Cụ thể là cuộc xâm lăng của nhà Tống dưới triều lý (1075-1077), và ba
cuộc xâm lăng của quân Nguyên dưới triều nhà Trần(1257-1258, 1258,1287-
1288). Cả hai cuộc chiến tranh xâm lược do Trung Hoa phát động đều khốc
liệt và kéo dài.Nhưng thắng lợi cuối cùng lại thuộc về nước Việt nhỏ bé.
Từ những quan điểm và dữ kiện lịch sử nêu trên cho thấy trang lich sử hào
hùng thời đại Lý Trần là độc nhất không bao giờ lập lại.Dĩ nhiên bên cạnh yếu
tố quan trọng nhân bản là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc,còn có Phật
giáo đóng vai trò hướng đạo.Một trào lưu tư tưởng hưng thịnh, một dòng sản
phẩm văn hóa thông suốt và phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước từ
thế kỷ x-xiv.
Trên cơ sở đó từ trước đến nay, đã có khá nhiều học giả nghiên cứu về lịch sử
văn học thời Lý Trần với các tác phẩm như: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô
Sĩ Liên,Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam Trích Quái của Trần
Thế Pháp…Gần đây có bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập 1 của Nguyễn
Lang,Tập sách Thiền Học Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, tập Thiền
Học Đời Trần của Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Ngoài ra còn có một
số giáo trình lịch sử văn học của các trường Đại Học và các bài viết của Trần
Lý Trai trong Tạp Chí Văn Học. Đặc biệt, khi nhận định về hình ảnh con người
Đại Việt Mạn Đà La đã viết trong bài”Vài Nét Tìm Hiểu Về Trần Nhân Tông,Vị
Tổ Sáng Lập Dòng Thiền Trúc Lâm”như sau :”Một mặt không ngừng phát
triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát hoàn toàn,mặt khác không

 Bối cảnh lịch sử
 Bối cảnh xã hội
 Bối cảnh Phật giáo
2. GIỚI THIỆU VĂN HỌC PHẬT GIÁO THỜI LÝ TRẦN
3. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN
1. QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI TÂM
1. CON NGƯỜI GIÁC NGỘ VỚI PHẨM HẠNH CAO CẢ
1. CON NGƯỜI ĐÓNG GÓP CHO XÃ HỘI
 Con người đóng góp xã hội trong chiến tranh.
 Con người đóng góp xây dựng xã hội trong thời bình
4. CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
C.PHẦN KẾT LUẬN
B.NỘI DUNG
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN.
a) Bối cảnh lịch sử :
Ngay khi vua Lê Long Đĩnh mất (1009), Đào Cam Mốc và sư Vạn Hạnh hợp
lực phò Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, triều Lý chính thức ra đời.Trong lịch
sử Việt Nam, đời Lý là một triều đại lớn, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên các
lĩnh vực như chính trị (dời đô từ Hoa Lư ra La Thành đặt tên là thăng Long,
Đặt quốc hiệu nước là Đại Việt, và Trung Hoa thừa nhận nền độc lập của
nước ta goi là An Nam Quốc), về quân sự ( phá tan âm mưu của Tống trong
việc lợi dụng Chiêm Thành tấn công ta, phá tan tiềm năng xâm lăng mà Tống
đã dày công chuẩn bị và tập hợp ở châu Ung, châu Khâm và châu Liêm thuộc
Quảng Đông- Quảng Tây Trung Quốc, và ta đã toàn thắng trong trận quyết
chiến Như Nguyệt 1071), về văn hóa ( thành lập văn miếu, mở khoa thi đầu
tiên).
Sau khi Đại Việt thắng lợi trận Chiêm Thành,năm 1069 triều Lý mở rộng lãnh
thổ ở ba châu (Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính) tương đương với toàn bộ tỉnh
Quảng Bình cộng với phía bắc tỉnh Quảng Trị. Triều Lý trãi qua 9 đời vua (Lý
Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh

tin hào hùng, phóng khoáng và trong sáng mà đời sau khó gặp lại, dù trình độ
văn minh có ngày càng cao hơn.Ngay giữa lòng xã hội phong kiến, những
mẫu người tuyệt vời-mà muôn đời sau thế nhân vẫn ngưỡng mộ-đã hình
thành và phát huy tối đa năng lực giác ngộ bản thân để cống hiến và tô điểm
cho đời, cho dân và cho nước, dựa trên cơ sở bình đẳng vô sai biệt đối với vạn
pháp của nhà Phật .
C) Bối Cảnh Phật Giáo: Qua “Sáu lá thư”-tác phẩm xưa nhất của lịch sử văn
học và Phật giáo Việt Nam, đã cho thế hệ sau biết biết được về sự ảnh hưởng
nhất định của Phật giáo trong đời sống xã hội và sinh hoạt của người
dân.”Bằng nổ lực tiếp thu có ý thức phê phán, mà khi người nước ta bắt đầu
hùng cứ đế vương, tập thể Phật giáo đã có thể đóng góp một cách tích cực
vào việc giải phóng và bảo vệ đất nước trước những tham vọng thôn tính của
tập đoàn thống trị Trung Quốc. Cũng nhờ nỗ lực ấy, mà Phật giáo đã thẩm
thấu đời sống thường ngày của người dân Việt Nam. Trong liên hệ này, cần
nói thêm là sự tiếp thu đó không chỉ xảy ra ở một lĩnh vực”[1]. Tuy nhiên Phật
giáo giai đoạn này lại mang tính quyền năng.
Đến các thế kỷ VI-VII-VIII và IX, ở Việt Nam có rất nhiều thiền phái kế tiếp
nhau thành lập và từng bước khẳng định vị trí của họ. Trong thế kỷ thứ X,
Việt Nam giành được quyền tự chủ và khởi đầu xây dựng nhà nước phong
kiến, cũng cố chủ quyền và ý thức dân tộc. Trãi qua các triều đại Đinh-Ngô-
Tiền-Lê,bên cạnh những nhà lãnh đạo có phần giỏi hơn các các vua thời
trước về phương diện học thức, không thể không nhắc đến các thiền vị
Thiềnsư: Khuôn Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Giác Hại…những vị thiền sư
được trọng vọng và có vị trí cao trong bộ máy nhà nước (làm quốc sư, cố vấn
chính trị).
Sang đời Trần, vào những năm đầu thời đại, ba phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi-
Vô Ngôn Thông-Thảo Đường dần dần nhập thành một và đưa đến sự phát
triển lớn của Phái Thiền Yên Tử-Thiền phái duy nhất đời Trần. Theo Nguyên
Lang, Đây là thời đại ”Phật giáo nhất tông”[2]. Có thể nói, “Phật giáo Nhất
Tông” là đại diện cho Phật giáo đời Trần trong lịch sử Phật giáo Việt nam.

chính, chí công, vô tư”, không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ
hoàn toàn.
Sống cho người: Thiền sư mong cầu giải thoát không có nghĩa là thờ ơ với
thực tại xã hội, mà ngay lúc dầu sôi lửa bỏng cũng là thiền.Với tâm không
dính mắc thì đời là đạo, tâm ấy chính tâm thiền.Do đó mọi người “không
ngừng tích cực xây dựng an lành cho cuộc sống, bằng cách trước hết phục vụ
đất nước, dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống
của mình”.
Văn học là nhân học dù ở thời đại nào cũng thế, Nó phản ảnh hiện thực cuộc
sống của con người.Vì thế trong bài về con người cá nhân trong văn học cổ
Việt Nam, Trần Đình Sử có viết “Trên thực tế vấn đề con người cá nhân trong
văn học không chỉ là nổi băn khoăn ám ảnh đặt ra trong giới nghiên cứu
chúng ta, mà từ lâu đã là đối tượng khảo sát và ngày càng thu hút mối quan
tâm của các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới”[4].
Như vậy xưa giờ nhiều nhà nghiên cứu đã tốn nhiều công sức để tìm hiểu về
con người trong văn học cổ Việt Nam. Đặc biệt có khá nhiều bài viết đề cập
đến con người trong văn học thời Lý Trần.Đại để, các nhà nghiên cứu cho
rằng con người trong văn học Phật giáo Lý Trần là con người bản lãnh, vô úy,
vô ngôn, vô ngã, vô tạp,vô nhiễm, vô niệm, con người tự chủ, tự do phá chấp
với trí tuệ siêu Việt đầy sức mạnh. Con ngưới ấy có thể hòa nhập vũ trụ ,
mang chiều kích lớn. Đó cũng là con người biết kết hợp đạo vào đời,nhập thế
tích cực, vào đời để cứu độ nhân sinh, mang những gì tốt đẹp nhất đến con
người.Điều đó giảo thích tại sao Thiền sư Huyền Quang, vị Tổ thứ ba Thiền
phái Trúc Lâm, tâm đã thanh tịnh, lòng đã trống không mà vẫn cảm nhận cái
đẹp dạt dào của mùa xuân khiến cho người đời sau dị nghị trong “xuân nhật
tức nhật”[5].

3. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG XÃ HỘI THỜI LÝ TRẦN
3.1 QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI TÂM
Con người có thể ung dung tự do tự tại giữa cõi đời này, là nhờ đã tìm thấy

đời thêm sáng tươi là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ dành cho giới Phật giáo
mà còn phải huy động toàn thể sức mạnh cả dân tộc.Trên cơ sở đó, chủ
trương hòa quang đồng trần được phát biểu với nhiều dạng thức khác nhau
trong các tác phẩm của Tuệ Trung và được vận dụng vào trong đời sống thực
tiển. Mục đích là làm hưng thịnh đạo pháp, tức là làm phồn vinh đất nước và
ngược lại. Cho nên mỗi cá nhân không thể tách rời cộng đồng, không thể
buôn bỏ cộc đời, chỉ trong sanh tử mới tìm thấy không có sanh tử, ở trong
phàm tục mới có bậc Thánh giác ngộ ở đời.Với cái nhìn như thế các khái niệm
đối đãi cần được đập vỡ từ trong nhận thức:
“Niết bàn sanh tử mạn la lung
Phiền não bồ đề nhàn đối địch”
( Niết bàn và sanh tử ràng buộc lỏng lẻo thôi-Phiền não và bồ đề coi thường
cả sự đối nghịch của chúng).Cũng ý tứ này trong bài “Trữ từ tự cảnh văn”[9],
Tuệ Trung tuyên bố :
“Cầu chân như nhi vọng niệm,
Tự dương thanh chỉ hưởng tương ma
Xả phiền não như thủ nê hoàng
Như nhật ảnh đào hình ban loại“.
(Tìm chân như mà giất vọng niệm
Có khác chi dối nhau bằng cách thét lớn để ngăn tiếng vang
Bỏ phiền não để ngăn niết bàn
Thật chẳng khác trốn hình trong nắng trời )
Theo Thượng Sĩ, kinh điển, giới luật, tọa thiền, niệm Phật chỉ nhầm giới thiệu
con đường phương thức sống. Con người cần phải sống và thực hành mới có
cơ duyên tiếp cận và chứng đạt chân lý.
Như vậy, với quan điểm Phật tại tâm, con người không cần đi tìm Phật ở đâu
xa, Phật hiện hữu ngay trong tâm thức mình. Ngay từ đầu đời Trần, Quốc sư
Viên Chứng-thầy của Trần Thái Tông đã đưa ra quan điểm về Phật “Tâm tịch
nhi tri , thị danh chân Phật” (Lòng lặng mà biết, đó là chân Phật )[10].tức là
con người thấy rõ chân lý một cách trực tiếp, Đồng nghĩa “kiến tánh”, thấy

Ở “Phật Tâm Ca” Tuệ Trung thượng sĩ đã hát bài ca về Phật giữa trần gian
như thế, Phật hoàn toàn không ngoài tâm thức biến hiện. Phật với ta chẳng
có gì khác .Phật và ta ở tại cuộc sống đời thường. Con người thật của chúng
ta là Phật. Còn con người giả mà chúng ta tưởng thật với cái tâm vọng động
của tham sân si là con người giả. Mỗi người cần trở về với con người thật. Đó
là lời giải đáp tại sao chúng ta hiện hữu trên đời này.
Quan điểm Phật tại tâm đã cung cấp cho con người Đại Việt một lý tưởng
sống đẹp , cao quý đủ để tạo một cảm hứng sáng tạo vươn lên, không những
cho một đời mà nhiều đời , thậm chí cho đến khi mỗi con người đều trở thành
một vị Phật. Sự thành Phật ở đây chính là nhận chân con người thật của
chính mình ngay ở cỏi lòng. Có gì để nói khi cuộc sống đang trôi trãi, một tâm
thức đang vận hành. Vấn đề đặt ra là thực tại luôn nhiệm màu đối với con
người được thể hiện trong Phật Tâm Ca.
“ Phật Phật Phật bất khả kiến
Tâm Tâm Tâm bất khả thuyết”
( Phật Phật Phật không thể thấy được
Tâm Tâm Tâm không thể nói được ).
Tuệ Trung đã tuyên ngôn thông điệp thiền “Bất lập văn tự , trực chỉ chân tâm,
kiến tánh thành Phật”. Thế là chừng nào con người còn an trú trong ngôn từ,
trong đôi kính màu trần thế, thì còn xa rời thực tại – bây giờ- ở đây. Tuệ
Trung chủ trương Phật tại tâm ở trong bài Phật Tam Ca là như thế.
Còn thượng sĩ Ngữ Lục thì cho rằng khi mê không biết ta là Phật , hay Phật và
chúng sanh không khác nhau:
“Mi tao tiêm hoành ty khổng thùy
Phật giữa chúng sanh độ nhất diện “.
( Mày ngang mũi dọc cũng như nhau
Phật với chúng sanh không khác mặt ).[16]
Như vậy cuộc sống hướng nội, tìm cầu chân lý tối thượng là xu hướng sống
của người dân thời Lý Trần “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong
tâm”[17] . Tư tưởng này được lập đi lập lại, như một điệp khúc trong đời

“Đói thì ăn chừ,cơm tùy ý
Mệt thì ăn chừ, làng không làng
Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ
Lắng xuống chừ ,đốt giải thoát hương”
Với quan điểm tư tưởng đó của Phật giáo nói chung, Thiền Tông thời Lý Trần
nói riêng đã tạo nên đặc trưng con người Đại Việt thời này một bản lĩnh tự
tin đặc biệt. Bản lĩnh này là đĩnh cao của tinh thần nhân văn thời đại, con
người được nâng lân ngang tầm với Phật. Con người tin vào bản chất trong
sáng thuần khiết vô biên và khả năng vô hạn của bản thân.Từ đó giúp họ có
sự tự lực, tự cường, không cần cầu hay hệ lụy, lệ thuộc vào bất cứ cái gì bên
ngoài. Và nhờ bản lĩnh tự tin này mà con người Đại Việt thời đó đã không sợ
địch, dù địch lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần và có bề dày chinh phục Á Âu
đáng nể phục”[21].Không chỉ chế phục được nổi khiếp sợ, quân dân ta thời Lý
Trần còn xóa nhòa được mặc cảm về một đất nước nhỏ bé vừa thoát khỏi ách
đô hộ.Tinh thần vô ngã đã giúp chủ thể-Dân tộc Đại Việt nâng mình lên vượt
qua ngưỡng cửa của một thế giới mới mẻ và kỳ diệu .Điều này cho thấy con
người Đại Việt đã thể nhập chân tâm đến chổ “Nhất Như” vì “thiền đường
chính là chiến trường, chiến trường chính là thiền đường”.
3.2 CON NGƯỜI GIÁC NGỘVỚI NHỮNG PHẨM HẠNH CAO CẢ.
Tinh thần Thiền tông Việt Nam mà các vị vua Trần chủ trương xuất phát và
hình thành từ con người “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm”. Tự thân quan
điểm này đã khẳng định tính bình đẳng giải thoát của con người trước cuộc
sống, đồng thời nó cũng đề xuất một thái độ sống để làm hóa hiện con người
thật, giác ngộ từ trong cuộc sống vốn không bình đẳng. Từ đó một nếp sống
mới được định hình trong cuộc sống đời thường.
Rõ ràng con người giác ngộ là con người đã tìm ra được chính mình. Phật và
chúng sanh không khác.Sinh mệnh con người rốt cuộc chỉ “Tựa ngọn đèn
trước gió, thân hư bọt, nước đầu ghềnh”. Cuộc đời thật mong manh mộng mị.
Con người cần giáp mặt vượt thoát. Ngay cả công danh, chỉ là một giất mộng
dài. Nhờ nhận chân cuộc đời là mộng, tâm thức con người mở rộng không

nên cảm thọ khổ đau ở đời giữa sự thật vô thường, vô ngã.
Thời đại Lý Trần là thời đại hình tượng con người vô ngã, được thể nhập vào
đời sống hiện thực. Trần Thái Tông là nhà lãnh đạo khéo vận dụng triết lý con
người vô ngã để thực thi công cuộc xây dựng đất nước Đại Việt. Trong bài
Phổ Thuyết Sắc thân, Trần Thái Tông khuyến cáo con người, cần nhận thức về
con người sự thật vô ngã để bước ra ngoài thế giới khổ đau do tự thân chiêu
cảm: “Nhĩ khả tử tế lai, chỉ giá sắc thân vị nhập bào thai chi nhật, ná xứ đắc
hữu? Cái do niệm khởi duyên hội, ngũ uẩn hợp thànhthe63 mạo vọng sinh,
hình dung giả xuất; vong chân vong bản, hiện ngụy hiện hư, Hoặc nữ hoặc
nam, hoặc nghiên hoặc xú, tận thị phóng tâm phóng khứ,đô vô thoái bộ hồi
quy. Khu trì sinh tử lộ đầu, thất khước bản lai diện mục” (các người hãy xem
lại cho tường, sắc thân kia chưa vào bào thai thì do đâu mà có? Ấy là do
“niệm”nhóm “duyên” tụ; Ngũ uẩn hợp thành.Dáng vóc lầm sinh, hình dung
giả lộ. Quên thật quên gốc; Hiện dối hiện hư. Hoặc gái hoặc trai, hoặc sinh
hoặc xấu. Hết thẩy đều do tâm rời bỏ; Không làm sao trở gót quay về)[23].
Thẩm thấu triết lý vô ngã trong hiện hữu của con người, mỗi cá thể có thái độ
sống vô chấp “cái này không phải là tôi , tự ngã của tôi “, đâu đâu cũng là thế
giới chân tâm, thanh tịnh. Chính thái độ sống theo tinh thần vô ngã , hướng
nhân loại sống và hành xử theo lý vô ngại trùng trùng duyên khởi với tất cả
giá trị hạnh phúc mong chờ .
Tinh thần vô ngã còn tạo cho con người lòng vị tha-một yếu tố tối cần thiết
đối với những người lãnh đạo, nếu muốn đem hạnh phúc thật sự đến cho dân
và hợp lòng dân. Nhờ tinh thần ấy mà Lý Thánh Tông có thể nhìn hình ảnh
con dân trong bản thân như đứa con yêu của mình và không thôi nghĩ đến họ
đang đói rét, thiếu thốn nên liền chẩn cấp ngay cho họ. Trần Thái Tông biết
gác lại nguyện vọng cá nhân, “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của
mình…”, tiếp tục đảm đương và đã làm tròn trách nhiệm tổ quốc. Và rồi cũng
chính Ông không ai khác hơn, có thể “lìa bỏ ngai vàng như trút bỏ chiếc giày
rách…”. Trần Quốc Tuấn trãi lòng trung nghĩa thờ vua cứu nước, gạt bỏ thù
riêng. Trần Bình Trọng khẳng khái quát vào quân thù: “Ta thà làm ma nước

cầm quân đại tài cùng toàn thể nhân dân ta ở thời Lý Trần, đã làm nên điều
kỳ tích là lãnh đạo thành công các cuộc chiến tranh vệ quốc khi xác định
“Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp của Tổ tông phải cùng
hưởng phú quý với anh em trong họ.Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn
được cả thiên hạ phung sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào
ruột thịt”[25]. Đó chính là những đóng góp to lớn của Phật giáo Thiền Trúc
Lâm trong giai đoạn chiến tranh.
b) Con người đóng góp xây dựng xã hội trong thời bình:
Tinh thần nhập thế của Phật giáo thiền phái Trúc Lâm không chỉ dừng lại ở
việc ra sức đánh đuổi quân xâm lăng , bảo vệ bờ cõi quê hương đất nước, mà
còn góp phần xây dựng đất nước sau khi đã được tự chủ hoàn toàn. Quan
điểm đoàn kết dân tộc chỉ thực hiện được khi mọi người cùng chung một lý
tưởng. Con người Đại Việt thời này đã làm nên điều đó.Trần Hưng Đạo đã
viết Hịch Tướng Sĩ để cụ thể hóa vấn đề đó với toàn bộ tướng tá binh sĩ của
mình. Còn Trần Nhân Tông thì với chủ thuyết sống đúng đạo lý:
“Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm,
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén bạn,nát thân mình mới khá hồi ân,
Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo”[26].
Chủ thuyết này nhầm xây dựng, định hướng con người Phật tử bảo vệ độc lập
và chấn hưng nước nhà.Mỗi khi sự tồn tại quyền lợi của người này là điều
kiện nhân tố cho quyền lợi người kia thì tất cả đồng phát triển. Từ đó mọi
người dân hiểu, yêu nước là yêu đạo; yêu gia đình là yêu cha mẹ, bà con, yêu
tình vợ chồng, con cái trẻ thơ; yêu mộ phần tổ tiên là yêu hồn thiêng sông
nước.
Vì thế Thiền phái Trúc Lâm nhập thế tích cực hơn nữa. Sau thời bắc thuộc,
Đại Việt không ngừng hoạch định chính sách phát tiển đất nước bằng cách
mở rộng bờ cõi. Nhà Lý đã sát nhập ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính.,
cùng với việc thành lập thiền phái Thảo đường. Đến đời Trần yêu cầu phát
triển kinh tế, phục hưng các giá trị văn hóa, việc gia tăng dân số trong thời

tám ).
Do đó Trần Thái Tông khuyến cáo nguời dân hãy tinh tấn rèn lòng làm Bụt
như là sự thăng tiến đạo đức bằng nhiều phương thức để giác ngộ . Có thể
thực thi hành thiền bằng thoại đầu theo lối thiền sư nam Tuyên Bỗ Nguyện,
hoặc theo cách Tử Hồ Lợi Tung đuổi chó … vv :“Vương lão chém mèo, lạt trẫy
lòng ngựa thủ tọa;
Thầy Hồ khua cho, trỏ xem trí nhẹ con giàng “(Hồi thứ chín)”
Và còn nhiều phương thức khác nữa mà Trần Nhân Tông đã dành cả hồi thứ
chín, để trình bày từ thời Sơ Tổ Đạt Ma gặp vua Lương Vũ Đế nhà Lương, cho
đến thiền sư Linh Vân Chí Cẩn khi thấy hoa đào nỡ rộ mà giác ngộ. Vậy là
thiền phái Trúc Lâm với tinh thần nhập thế đã góp phần giải quyết một loạt
vấn đề đặt ra cho Phật giáo đại Việt, đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi của dân tộc.
Sau thời Trần Nhân Tông, Phật giáo còn tích cực nhập thế với những nhiệm
vụ mới mà lịch sử giao phó. Đó là đi tìm về giá trị ngôn ngữ của dân tộc- đề
cao ý thức tự chủ trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của cha ông ta
ngày xưa để chống lại văn hóa ngoại lai Hán tộc. Sự xuất hiện và tồn tại ngôn
ngữ tiếng Việt qua việc sáng tác các tác phẩm bằng chữ Nôm là sự minh
chứng cụ thể.
Qua những điều nêu trên cho thấy, Thiền phái Trúc Lâm đã khuyến khích dân
chúng xây dựng an lành cho xã hội, lấy tinh thần sống tốt, sống đẹp để xây
dựng cho thế giới an lành, lấy tinh thần tam giáo đồng nguyên để gắn kết
khối đoàn kết dân tộc tạo nên những trang lịch sử hào hùng. Các vị vua Phật
tử đời Trần chính là những tấm gương thiết thực nhất, minh chứng cho tính
thực tiển của Phật giáo Thiền Tông thời Lý Trần trong việc dấn thân đóng
góp xây dựng xã hội, xây dựng đất nước tự chủ độc lập. Các vị vua đã lăn xã
vào cái chết để giành lấy sự sống cho dân tộc, bảo vệ sự tồn vong của đất
nước. Họ, những Thiền Sư, những nhà vua kiêm thiền sư, những nhà Phật
học,nhà chiến lược, tướng cầm quân,nhà tri thức lớn,nhà thơ, nhà văn, thầy
thuốc tùy theo sự phân công và khả năng ở thời Lý Trần chính là những
chứng nhân hùng hồn nhất cho tư tưởng giải thoát, tu đạo, nhập thế của

thăng hoa. Chưa bao giờ, con người được mô tả một cách chi tiết, cụ thể và
bằng bút pháp tả thực hết sức sinh động như là ơ Khóa Hư Lục:”Sinh là
khồ,già là khổ, bệnh là khổ,chết là khổ, cái giàe không ưa mà phải hợp là khổ,
cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trược
giả hợp là khổ”.
Chẳng phải ngạc nhiên khi Trần Thái Tông viết lên những dòng văn chương
như thế về thân. Con người theo đó cảm nhận sự vận hành trong không gian
ảm sầu, thời gian như ngắn lại theo dòng tâm lý ngập tràn lo âu: “mây mịt
mù khi mưa lệ chứa chan; trăng hiu hắc chốn gió sầu lay động. Canh khuya
vắng, thần sầu quỷ khóc; tháng năm chày ngựa xéo trâu quần”. Ông khắc họa
hình ảnh con người qua một thân mạng hãi hùng thế kia. Mục đích là tự thân
thoát ra sự vận hành của “cái thân” để đến một cõi lòng tĩnh lặng, sống chia
sẻ lòng mình với mọi người.
Vậy là lần đầu tiên trong lịch sử văn học Phật giáo nước nhà,Trần thái Tông
lấy con người từ trong hiện thực cuộc sống làm đối tượng khắc họa nên hình
ảnh con người. Suy cho cùng Ông không chỉ muốn tái hiện mà còn sáng tạo ra
con người đầy đủ, cụ thể và chi tiết.Nó được phản ánh và lý giải từ cuộc sống
hiện thực theo cách riêng, không chỉ những nét tính cách được phô diễn mà
cả vóc dáng trí tuệ cùng thế giới nội tâm được thể hiện muôn màu muôn vẻ.
Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được Trần Nhân Tông thể hiện hết sức
linh hoạt:
“Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm ”[30]
Đời là thành thị, đạo là sơn lâm. Người dù thành thị gánh vác bao nhiêu việc
đời thân tâm vẫn thanh tịnh, trong sạch như ở núi rừng vậy. Điểm quan trọng
là Tác giả so sánh giữa núi rừng và thành thị đều giống nhau , chỉ cần giác
ngộ là đủ.
Không chỉ dừng ở đó, những lời ca về Phật của Thượng Trung Thượng Sĩ
trong văn học thời Lý Trần đã sử dụng nghệ thuật nghịch ngữ hết sức điêu
luyện:

Qua đó, rõ ràng ta thấy Phật giáo đã có sự ảnh hưởng nhất định, góp phần
tạo nên những đặc trưng nổi bật trong con người Đại Việt.Đó là con người
vừa biết kiểm soát thân tâm, phát triển tận cùng khả năng giác ngộ hoàn
toàn, lại vừa không ngừng tích cực xây dựng an lành cho cuộc sống, hết mình
phục vụ cho nhân sinh dân tộc Phật giáo là gi? Chính là đi tìm chân lý. Chân
lý thì không nằm trong Phật giáo mà nằm trong cuộc sống. Từ đây, chúng ta
không ngạc nhiên gì khi Trần Thánh Tông xây dựng chủ thuyết “ở đời vui đạo
tùy duyên” để làm tôn chỉ hoạt động thiền phái thông qua bài phú “Cư Trần
Lạc Đạo”. Tư tưởng ở đời mà vui với đạo càng làm sáng tỏ tinh thần tùy
duyên để con người an trú với đạo mà cứu giúp đời.Cùng lúc phát triển nội
tâm sao cho đạt đến đỉnh cao tuyệt đối chân thiện mỹ. Thành tựu được sự
giác ngộ hoàn toàn. Ngoại cảnh thì tùy duyên hóa độ nhân sinh, góp phần xây
dựng xã hội mẫu mực, tạo nên những con người chuẩn, có ích cho nước, có
lợi cho nhà, mà mọi thế hệ hằng ca ngợi. Điều đó khẳng định, lời nhận định
của Mạn Đà La về đặc trưng hình ảnh con người Đại Việt trong bài viết ”Vài
Nét Tìm Hiểu Về Trần Nhân Tông,Vị Tổ Sáng Lập Dòng Thiền Trúc Lâm”như
sau :”Một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát
hoàn toàn,mặt khác không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho cuộc
sống,bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc, những người gần mình
và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình” là hoàn toàn đúng. Ngay câu mở
đầu hội thứ nhất của “Cư Trần Lạc Đạo Phú”, sơ tổ đã cho biết phạm trù đời
và đạo được xác định theo quan điểm mới mà các thiền phái Trung Hoa chưa
từng đề cập”Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.Chỉ câu này thôi cũng đã
đủ để thấy con người Đại Việt thời này đã tu đạo tùy duyên. Dù ở thành thị
gánh vác bao nhiêu việc đời, song họ biết sử lý với lòng trong sạch chẳng
khác gì ở núi rừng. Đây chính là quan điểm “chẳng phải đại ẩn, tiểu ẩn,
không phân biệt tại gia , xuất gia” như Trần Thái Tông đề xuất trong Thiền
tông chỉ nam tự. Xưa nay mọi người điều biết đại ẩn chính là sống ở thành thị
nhộn nhịp mà giữ lòng trong sáng, còn tiểu ẩn là sống ở núi rừng để trao dổi
bản thân đến chổ hoàn thiện. Người Phật tử Đại Việt thời Trần chỉ tùy duyên,

Đạo Phật “sở dĩ” được toàn dân Việt nồng nhiệt đón nhận là vì tín chỉ giáo lý
đạo Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất cứ ở đâu, hạng người nào,
khi con người biết hướng về chân lý mà đạo Phật là chân lý .Đạo Phật đã gây
được “ dân phong quốc tục đẹp” nên, từ thưở xa xưa tổ tiên ta đã Sống….và
truyền đến cho con cháu ngày nay-dù lớp con cháu có hiểu hay không hiểu gì
về nguồn giáo lý cao đẹp đạo Phật; những trong tiềm thức họ (không nhiều
thì ít) đều có mang trong mình dòng máu “ tín ngưỡng đạo Phật”-nên mọi ý
tưởng, ngôn từ, hành động họ, nhưng họ đã sống thực và thể hiện đúng tinh
thần của“đạo“ hộ tinh theo hay nói cách khác. Đạo Phật Việc Nam cũng
chính là quần chúng nhân dân Việt Nam”[32].
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Cư Trần Lạc Đạo Phú”-“Khóa Hư Lục”-“Phật Tâm Ca”-Tạp Chí Văn Học,
ĐH KHXHVNV-Trần Lý Trai
2. Lịch sử Phật giáo Việt Nam-Lê Mạnh Thát-NXB Thuận Hóa,2001
3. Việt Nam Phật giáo Sử Luận, tập 1-Nguyễn Lang – NXB VH, Hà
Nội,2000
4. Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ x đến thế kỷ thứ xx-Nguyễn Phạm
Hùng-NXB ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, 2001
5. Nhiều tác giả1997.Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam.Hà
Nội
6. Viện văn học.Thơ văn Lý Trần, tập2, quyển thượng. Hà Nội: KHXH
7. Văn học phương Tây giản yếu-Minh chính-NXB ĐH QG TP.HCM, 2002
8. Thơ Thiền Việt Nam-Thích Phước Sơn—Tri Liên_NXB TP. HCM, 2002
9. Khảo Sát Đặc Trưng Nghệ Thuật Của Thơ Thiền Việt Nam Thế Kỷ X đến
thế kỷ XIV- Đoàn Thị Thu Vân-TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC VÀ
NXB VĂN HỌC HÀ NỘI, 1996
10.Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2,Viện KHXHNV, NXB Khoa Học Xã hội, Hà
Nội, 1998,
11.Đạo Phật Và Dòng Sử Việt-Phật Học Viện Quốc Tế California, Hoa Kỳ ấn
hành, 1998


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status