Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta bắt đầu từ năm 1986, từ
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tính đến nay đã gần 30
năm. Đây là một bước nhảy vọt về tư duy lý luận của Đảng ta, chấm dứt
một thời kỳ dài nếp tư duy cũ gắn liền chế độ bao cấp, khởi nguồn cho sự ra
đời và phát triển của tư duy mới đúng quy luật, đầy sáng tạo. Trong đó, đổi
mới về kinh tế được coi là trọng tâm, là khâu đột phá để từng bước đổi mới
hệ thống chính trị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế kế hoạch hoá, vận
hành theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp từng bước chuyển sang nền
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước và định hướng XHCN. Điều đó đã mang lại nhiều thành tựu quan
trọng trong phát triển KT-XH ổn định, liên tục trong những thập kỷ qua,
từng bước đưa Việt Nam phát triển và hội nhập với thế giới. Song song
với quá trình này, nền HCNN cũng có những bước thay đổi. CCHCNN
được đặt ra như một yêu cầu khách quan của thực tiễn, của quy luật sự phù
hợp giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng.
CCHCNN được xác định là một bộ phận quan trọng trong đường lối
của Đảng và Nhà nước, là nội dung cơ bản, nhiệm vụ trọng tâm trong đổi
mới hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền
XHCN. Trong những năm qua dù có những khó khăn và tồn tại nhất định
song CCHC đã góp phần đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo tốc độ tăng
trưởng kinh tế, giữ vững và ổn định chính trị, tăng cường khả năng hội
nhập quốc tế của đất nước và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, nhất là khi Việt Nam tham gia vào WTO
(Tổ chức Thương mại thế giới), yêu cầu CCHC càng trở nên cấp thiết và
trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhằm xây dựng một nền hành
chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực, từng bước hiện
đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
2
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
- Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ tập
trung tìm hiểu làm rõ vai trò và sự tham gia của báo TPO và Tạp chí
QLNN trong công tác CCHC chung của đất nước trong khoảng thời gian
từ tháng 1/2009 đến tháng 5/2010.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề CCHC trên TPO và tạp chí QLNN nhằm
mục đích:
- Góp phần làm sáng tỏ vai trò của báo chí trong hoạt động tuyên
truyền, phổ biến, trao đổi kinh nghiệm lý luận và thực tiễn về hoạt động
CCHC, cụ thể là qua báo TPO và tạp chí QLNN;
- Tìm hiểu những đóng góp của báo chí trong quá trình thực hiện
CCHC ở nước ta trong những năm qua.
- Thông qua quá trình nghiên cứu, người viết muốn đóng góp một vài
kiến nghị, đề xuất các giải pháp góp phần gợi mở hướng giải quyết những
vấn đề khó khăn đang đặt trong công tác tuyên truyền, phản ánh CCHC trên
báo chí, truyền thông, cụ thể là trên báo TPO và tạp chí QLNN.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về vai trò của báo chí, đặc biệt
trong công tác tuyên truyền, phản ánh công cuộc CCHC.
- Chỉ ra thực trạng CCHC và các hình thức phản ánh, thông tin về
vấn đề CCHC trên báo TPO và tạp chí QLNN.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
thông tin tuyên tuyền về CCHC trên báo chí nói chung, và trên báo TPO
và tạp chí QLNN nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, dựa trên học thuyết Mác - Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà
phong Online và tạp chí Quản lý nhà nước;
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng
truyền thông cải cách hành chính trên Tiền phong Online và tạp chí Quản
lý nhà nước.
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
4
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
Chương 1:
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Đây là chương tác giả tập trung làm rõ hệ thống các khái niệm,
những vấn đề lý luận chung nhất về CCHC và vai trò của báo chí đối với
việc tuyên truyền, phản ánh các nội dung của CCHC để có một cái nhìn
bao quát nhất về vấn đề.
1.1. Một số khái niệm cơ bản của CCHC
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (năm
1991) Đảng ta đã nhấn mạnh cần xây dựng một hệ thống hành chính và
QLHCNN thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả. Chính quan
điểm chỉ đạo đó đã tạo tiền đề cho hàng loạt các chủ trương, chính sách
mới được thực hiện nhằm cải tổ lại nền HCNN Việt Nam trong những
năm qua.
“Hành chính” là một thuật ngữ của Khoa học Hành chính và đến
nay vẫn chưa có một khái niệm đồng nhất. Trên thực tế, thuật ngữ này
xuất hiện trong cả khu vực công và khu vực tư.
Hành chính theo nghĩa rộng được hiểu “là những biện pháp tổ chức
và điều hành của các tổ chức, các nhóm, các đoàn thể hợp tác trong hoạt
động của mình để đạt được mục tiêu chung”
1
.
Hành chính còn được hiểu theo nghĩa hẹp “là hoạt động quản lý các
Đội ngũ cán
bộ, công chức
Bộ máy
hành chính
Tài chính
công
6
Hệ thống thể
chế hành chính
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
“Cải cách” được hiểu một cách chung nhất là việc sửa đổi cho hợp lí,
cho phù hợp với tình hình mới. CCHC là một khái niệm chưa có sự thống
nhất chung của các học giả nghiên cứu về hành chính.
Theo nghĩa rộng nhất, “CCHC là những thay đổi được thiết kế có chủ
định nhằm cải tiến một cách cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ
máy Nhà nước: Lập kế hoạch, định thể chế, tổ chức, công tác cán bộ, tài
chính, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra, thông tin và đánh giá”
1
.
Theo nghĩa hẹp, “CCHC là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao
hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp
hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh
vực quản lý của bộ máy HCNN”
2
.
Ở nước ta, CCHC được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là cải cách bộ máy
hành chính, chức năng và phương thức quản lý của nền hành chính, chế độ
công vụ, sự phân chia quyền lực hành pháp giữa Trung ương và Địa
phương, những nguyên tắc hành chính trọng yếu và phương thức hoạt động
của nền hành chính phục vụ tốt nhất đời sống nhân dân và sự phát triển kinh
kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý
của Nhà nước”. Chiến lược cũng nêu trọng tâm của cải cách là nhằm vào hệ
thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính
thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu lực.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn xác định “Cải cách một bước
nền HCNN được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước…” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khoá VII). Do đó,
CCHC luôn được đặt trong đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy nhà
nước nói chung. CCHC phải được thực hiện đồng thời với cải cách về lập
pháp và cải cách về tư pháp, trong đó cải cách nền hành chính được coi là
cuộc cải cách trọng tâm.
Ngoài ra, Đảng cũng chỉ rõ CCHC phải thúc đẩy đổi mới kinh tế,
phát triển kinh tế - xã hội. Công cuộc đổi mới được xác định là toàn diện,
trong đó đổi mới kinh tế được coi là khởi đầu và là khâu đột phá. Nếu
không tiến hành CCHC thì bộ máy nhà nước sẽ trở thành lực cản cho công
cuộc đổi mới kinh tế. Đảng ta đã xác định phải kết hợp chặt chẽ đổi mới
kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,
đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị và CCHC phải phục vụ
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
8
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
cho phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, Nghị quyết TW 6, khoá X,
Đảng ta đã xây dựng 5 giải pháp phát triển kinh tế xã hội, trong đó đẩy
mạnh CCHC được coi là giải pháp quan trọng, là khâu đột phá.
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo CCHC, Nhà nước ta từng bước hiện
thực hoá chủ trương, đường lối của Đảng vào đời sống. Phải kể đến đầu
tiên là việc Quốc hội thông qua bản Hiến pháp mới thay thế cho Hiến pháp
năm 1980. Hiến pháp 1992 đã xác định rõ hơn: Chính phủ là cơ quan chấp
hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; từng bước xây dựng và thực hiện
chỉ đạo đúng đắn của Đảng cầm quyền là điều kiện tiên quyết để định
hướng cho cuộc cải cách đạt được mục tiêu chính trị đã đặt ra.
1.3. Thực trạng CCHC ở nước ta thời gian qua
CCHC có vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội, là một biện pháp
để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là quá trình
thực hiện Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001 – 2010 CCHC đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và
trật tự xã hội. Trong những năm qua, CCHC đã đạt được những kết quả
quan trọng sau:
- Chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính
từ Chính phủ, các Bộ, ngành TW đến UBND các cấp đã có nhiều thay đổi
tiến bộ, tập trung nhiều hơn vào QLNN;
- Từng bước đổi mới thể chế hành chính trên các lĩnh vực, phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mô hình “Một cửa, một
dấu”, “Một cửa liên thông” được triển khai rộng rãi và có hiệu quả ở hầu
hết các cấp hành chính trong cả nước. Đặc biệt, với việc thực hiện Đề án 30
(Đơn giản hoá TTHC trên các lĩnh vực QLNN giai đoạn 2007-2010) hệ
thống TTHC được rà soát và ngày càng đơn giản hoá, mẫu thức hoá thống
nhất trong phạm vi cả nước. Tháng 10/2009, Thủ tướng Chính phủ đã công
bố Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC tại 4 cấp chính quyền và công khai
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
10
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
trên mạng Internet. Người dân và doanh nghiệp có thể tra cứu. Bộ cơ sở dữ
liệu quốc gia về TTHC trên Website: www.thutuchanhchinh.vn.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và CQHC các cấp được sắp
xếp, điều chỉnh, tinh giản hơn, hợp lý hơn và bộ máy hành chính từ TW
đến cơ sở vận hành ngày càng hiệu quả hơn.
- Việc quản lý, sử dụng CBCC được đổi mới theo các quy định của
Vai trò của CCHC
CCHC luôn được Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh là nhiệm vụ
trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước. Vai trò và
tầm quan trọng của CCHC được thể hiện ở một số luận điểm sau:
CCHC giúp giải quyết công việc của công dân và tổ chức được diễn
ra thuận lợi hơn.
CCHC cũng là "đầu ra" của các cuộc cải cách khác, như cải cách
kinh tế, cải cách tư pháp, kể cả cải cách chính trị, trong cuộc đổi mới toàn
diện đang tiến triển.
Thông qua hệ thống cải cách về chính sách lương, các hoạt động
khen thưởng, kỷ luật, chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC… góp phần
làm trong sạch đội ngũ CBCC và nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ
“công bộc” của dân.
CCHC còn góp phần tinh giảm và sắp xếp lại bộ máy nhà nước hợp
lý hơn và nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy HCNN.
Nhìn chung, CCHC có vai trò rất quan trọng trong ổn định và phát
triển đất nước. Có thể tóm lược vai trò đó như sau: CCHC góp phần nâng
cao hiệu quả, hiệu lực quản lý của nhà nước, giữ vững ổn định chính trị và
phát triển KT - XH, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội công
dân, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Mục tiêu và nội dung của công cuộc CCHC
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
12
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
Ngay từ những ngày đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,
Đảng và Nhà nước ta đã xác định rất rõ mục tiêu của CCHC là “xây dựng
một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực
và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc
của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ
đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật
cao chất lượng đội ngũ CBCC và cải cách tài chính công.
1.5. Vai trò của báo chí và truyền thông trong CCHC
Báo chí - truyền thông xuất hiện trong quá trình phát triển của loài
người nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp, truyền đạt thông tin của con người
trong xã hội. Càng về sau, vị trí, vai trò của báo chí đối với xã hội ngày
càng quan trọng trong việc tạo và định hướng dư luận xã hội dẫn đến sự
thay đổi về nhận thức, hành vi công chúng và trở thành một bộ phận
không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người.
Ở nước ta, vị trí và vai trò của báo chí đặc biệt quan trọng trong
công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. Điều này đã được ghi nhận tại
Điều 1, Luật Báo chí năm 1999: “Báo chí nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội;
là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã
hội, là diễn đàn của nhân dân”.
Nhìn chung, báo chí nước ta đã có bước phát triển nhanh chóng,
mạnh mẽ về nhiều mặt: tăng loại hình và số lượng cơ quan báo chí; tăng số
đầu báo, tạp chí, hệ phát thanh, kênh truyền hình, nhà in, ấn phẩm, chương
trình; tăng chất lượng nội dung, hình thức và hiện đại hóa công nghệ in ấn,
truyền tải thông tin; tăng số lượng, phạm vi phát hành, phạm vi phủ sóng;
tăng số lượng nhà báo và đội ngũ những người làm việc trong các cơ quan
báo chí; tăng số lượng công chúng báo chí cả ở trong nước và ngoài nước.
Tính đến tháng 12/2009, cả nước có 706 cơ quan báo chí, gồm: 178
báo in; 528 tạp chí; một hãng thông tấn quốc gia; hai đài phát thanh,
truyền hình quốc gia, một đài truyền hình của ngành, 64 đài phát thanh,
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
14
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
truyền hình tỉnh, thành phố, hơn 600 đài cấp huyện, hàng nghìn trạm
truyền thanh cấp xã; 37 báo điện tử, 160 trang điện tử của các cơ quan báo
chí, hàng nghìn trang thông tin điện tử
việc phản ánh sự thay đổi kỳ diệu của Việt Nam sau thời kỳ đổi mới nói
chung và trong CCHC nói riêng.
Báo chí là công cụ để tuyên truyền, phổ biến đường lối của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước về công cuộc CCHC, thông tin đến
công chúng tin tức về hoạt động của các cơ quan nhà nước, thay đổi bộ
máy nhân sự hay chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính lãnh thổ; đăng
tải công báo, các văn bản luật và văn bản pháp quy mới…
Báo chí là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp và nhà quản lý,
hoạch định chính sách để điều chỉnh những chủ trương, đường lối cho phù
hợp với thực tiễn. Thông qua báo chí, những thông tin quản lý của Nhà
nước sẽ được chuyển tải, định hướng cho các doanh nghiệp thực hiện các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn hội nhập, các thông tin
QLNN về kinh tế, thông tin về cải cách thể chế hành chính, TTHC có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp, hạn chế tối đa việc vi
phạm pháp luật và tạo điều kiện để các doanh nghiệp giao lưu, hợp tác với
quốc tế. Đồng thời qua đó để phát hiện những bất cập trong quản lý để có
sự điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế hay thông lệ quốc tế.
Báo chí tham gia vào mặt trận đấu tranh chống tham nhũng, chống
tiêu cực trong quá trình QLHCNN, góp phần làm trong sạch đội ngũ
CBCC nhà nước. Chúng ta biết đến rất nhiều bài báo đã lên án, tố cáo
những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức công vụ của một số
CBCC. Tiêu biểu nhất có thể kể đến các bài báo lên án hàng loạt cán bộ,
công chức cấp cao trong vụ án PMU18 hay vụ án chia chác đất đai ở Đồ
Sơn (Hải Phòng) có dính líu đến cả bộ máy lãnh đạo cấp cao của tỉnh như
Phó chủ tịch Thành phố, Giám đốc sở, Chủ tịch quận… cũng được đăng
tải trên hầu hết các mặt báo và mới đây nữa là vụ án ông Nguyễn Trường
Tô – nguyên Chủ tịch tỉnh Hà Giang được báo chí đưa tin tường tận về
quá trình tha hoá đạo đức của một cán bộ lãnh đạo…
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
16
2.1. Vài nét khái quát về TPO và tạp chí QLNN
2.1.1. Báo TPO
Báo TPO được thành lập trên cơ sở tờ Tiền phong báo in – cơ quan
ngôn luận của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, là tờ
báo cách mạng lâu đời, ra đời và phát triển cùng với cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc cũng như sự nghiệp đổi mới và phát
triển của đất nước. Hiện nay báo Tiền Phong, TPO là một tờ báo rất có uy
tín đối với độc giả Việt Nam với sự phong phú về tin bài, chương mục và
chất lượng bài viết tốt, hấp dẫn độc giả.
Báo TPO được thành lập ngày 16/11/2004, với địa chỉ truy cập:
www.tienphongonline.com.vn. Năm 2006, TPO có thêm địa chỉ truy cập
mới là: www.baotienphong.vn. Từ ngày 01/8/2007, Tiền phong Online thay
đổi địa chỉ truy cập thành: www.Tienphong.vn và đây là địa chỉ truy cập
chính thức của TPO bây giờ. Tuy nhiên, hai địa chỉ truy cập cũ vẫn được
giữ nguyên để cho độc giả tiện theo dõi tin tức trên TPO. Nếu độc giả vào
website: www.baotienphong.vn hoặc www.tienphongonline.com.vn thì
đường link sẽ được dẫn vào trang www.tienphong.vn.
Trong quá trình phát triển, TPO từng bước củng cố và hoàn thiện hơn
về giao diện cũng như hệ thống tin bài tạo nên sức hấp dẫn riêng, cạnh
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
18
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
tranh được với các báo điện tử khác. Theo một thăm dò của công ty
ACNielsen Omnibus (Công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu) cuối tháng
1/2007, TPO nằm trong top 10 báo điện tử được truy cập nhiều nhất ở Việt
Nam. Tháng 8/2009, theo khảo sát của Alexa, TPO nằm trong Top 100
website được truy cập nhiều nhất tại Việt Nam. Có 42,1 % người ở Việt
Nam truy cập TPO và bình quân mỗi người dành 6.2 phút mỗi ngày để truy
cập vào TPO.
Giao diện www.tienphong.vn
2.2. Nội dung chuyển tải thông tin về CCHC trên báo TPO và
Tạp chí QLNN
2.2.1. Số lượng tin bài trên hai tờ báo, tạp chí
Nội dung công cuộc CCHC được thể hiện rất phong phú và đa dạng
trên báo chí, sau đây tôi xin tóm lược một số nội dung chủ yếu được đề
cập đến trên báo TPO và tạp chí QLNN trong thời gian từ 01/01/2009 –
5/2010. Đây là thời điểm Chương trình Tổng thể CCHC giai đoạn 2001 –
2010 đang đi vào giai đoạn tổng kết quá trình thực hiện.
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
20
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
Bằng phương pháp thống kê và phương pháp tổng hợp, trong thời
gian từ 01/01/2009 – 31/05/2010, có 17 số tạp chí QLNN (từ số 156 đến
số 173). Riêng TPO, website hoạt động thường xuyên ở tất cả các ngày
trong tuần, tin tức được cập nhật liên tục từng giờ trong ngày với hơn 500
ngày đưa tin. Sau đây là bảng khảo sát số lượng tin, bài CCHC được đăng
tải trên TPO và Tạp chí QLNN.
Bảng 2.1. Số lượng tin, bài về CCHC đăng trên báo TPO và tạp
chí QLNN, thời gian từ 1/2009 – 5/2010.
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
Báo,
Tạp chí
TPO
Tạp chí
QLNN TPO
Tạp chí
QLNN
Tháng 1 22 6 22 6
Tháng 2 24 5 12 2
Tháng 3 18 3 15 6
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
Báo, Tạp
chí
Tổng Thông tin
tuyên
truyền
đường lối
Điển
hình
trong
CCHC
Thực
trạng
CBCC
Bài học
kinh
nghiệm
Thông
tin
CCHC
khác
TPO 412 123 76 130 65 18
Tỷ lệ
(%)
100 29,9 18,4 31,5 15,8 4,4
QLNN 76 13 10 12 23 18
Tỷ lệ
(%)
100 17,1 13,2 15,8 30,2 23,7
22
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
23
Khoá luận tốt nghiệp - Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học KHXHX&NV
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước luôn được TPO khai thác
kịp thời, cập nhật một cách nhanh chóng nhất đến với công chúng. Vì thế,
trong thời gian từ tháng 1/2009 – 5/2010, số lượng tin, bài về vấn đề này
được đăng tải trên TPO với số lượng lớn hơn, nội dung phong phú hơn và
nhiều hình thức thể hiện hơn so với Tạp chí QLNN.
Tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước về CCHC được thể hiện dưới các hình thức như:
- Giới thiệu các chính sách, văn bản pháp luật và các quy định
mới liên quan đến CCHC: Đây là hình thức được sử dụng khá phổ biến
trên cả TPO và Tạp chí QLNN nhằm giới thiệu đến công chúng những nội
dung mới, những vấn đề cơ bản nhất đã được quy định.
Ví dụ: “Nhiều chính sách mới từ hôm nay” (01/01/2009), TPO đã
giới thiệu một số chính sách quan trọng bắt đầu có hiệu lực từ ngày
01/01/2010 như Luật thuế thu nhập cá nhân, người thất nghiệp được trợ
cấp 60% lương, nông dân được miễn thủy lợi phí để người dân kịp thời
nắm bắt thông tin quản lý mới của Nhà nước;
Hoặc: Các bài viết giới thiệu về lộ trình cải cách tiền lương của nước
ta như: “Từ ngày 1/5: Lương tối thiểu là 650.000 đồng/tháng”(TPO, ngày
07/4/2009) giới thiệu về Nghị định 33/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định
mức lương tối thiểu chung, thực hiện từ ngày 1/5/2009 là 650.000
đồng/tháng, các nội dung cơ bản về đối tượng hưởng, mức lương được
hưởng được nêu rõ theo quy định mới để người dân quan tâm có thể tìm
hiểu. Để có cái nhìn đúng về chính sách mới của Chính phủ, cũng trong ngày
hôm đó, TPO đăng bài phỏng vấn PGS.TS Ngô Trí Long, nguyên Viện phó
Viện NCKH Thị trường – giá cả về vấn đề này. Ông Ngô Trí Long đã đưa ra
nhận định: “Việc tăng lương tối thiểu, xét cho cùng chính là tăng cầu, là kích
cầu tiêu dùng, thông qua đó để kích thích sản xuất. Trong bối cảnh kinh tế
những vấn đề tương tự xảy ra.
Ví dụ: Nhân sự kiện bà Nguyễn Thị Kim Vân (trú tại 207 Phố Huế,
Hà Nội) phản ánh việc bà bị chủ tịch UBND phường Phố Huế dùng báo
đập vào mặt ngay tại trụ sở UBND phường trước sự chứng kiến của rất
Vũ Minh Nguyệt Lớp BCK50HN
25