Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
MỤC LỤC
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay
Ngân hàng là tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế, thực hiện
chức năng trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán và là trung gian
thanh toán trong nền kinh tế. Ngân hàng là trung gian tài chính với hoạt
động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Để thực hiện được vai trò
này, ngân hàng phải huy động vốn và cho vay. Cho vay là hoạt động mang
lại mức sinh lời cao nhất trong cơ cấu tài sản của ngân hàng, là một quan hệ
kinh tế, trong đó người cho vay chuyển giao quyền sử dụng một khoản tiền
trong thời gian nhất định cho người đi vay với cam kết khi đến hạn trả nợ,
người đi vay có nghĩa vụ trả cho người cho vay cả vốn gốc và tiền lãi. Theo
đó, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là hoạt động phải đảm bảo
các nguyên tắc nhất định nhằm mục tiêu tính an toàn và mục tiêu sinh lợi.
Các nguyên tắc bao gồm:
- Thứ nhất, khách hàng phải cam kết trả gốc và lãi với thời gian xác định.
-Thứ hai, khách hàng phải cam kết sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận
với ngân hàng.
-Thứ ba, ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả.
Để đảm bảo được các nguyên tắc trên, giữ được mục tiêu an toàn và sinh
lợi, các ngân hàng tiến hành phân loại cho vay.
1.1.2. Các hình thức cho vay
Việc cho vay của ngân hàng có thể được phân chia dựa trên nhiều tiêu
thức khác nhau:
và hiệu quả, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng ngân hàng sẽ thu nợ trước
hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Nói chung, nghiệp vụ cho vay trực tiếp từng lần
tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay cách biệt.
Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách
hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
2
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng không xác định trước
kỳ hạn nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên,
do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó
kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn
đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa, doanh nghiệp khi
mua hàng thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay mua hàng và sẽ thu nợ khi bán
hàng. Khi vay khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn
nhập hàng và số tiền cần vay, các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho trở
thành vật bảo đảm cho khoản cho vay. Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho
khách hàng, thủ tục chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng
được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy, việc thanh toán cho người cung
cấp sẽ nhanh gọn.
Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận, thường được
áp dụng cho các khoản trung và dài hạn. Cho vay trả góp có rủi ro cao do
khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp.
Cho vay gián tiếp
• Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách
hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
- Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
- Khả năng sử dụng vốn vay
- Khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
• Bước 2: Phân tích khách hàng
Phân tích khách hàng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của
khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay.
Mục tiêu:
- Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng,
dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm
thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
- Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía
khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm
cơ sở cho việc ra quyết định cho vay.
• Bước 3: Ra quyết định cho vay
Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho
vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng
Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:
- Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt
- Từ chối cho vay với một khách hàng tốt.
Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh cho vay, thậm
chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Do đó, quá trình
phân tích tín dụng đặc biệt quan trọng để biết được tình hình tài chính của
khách hàng, giúp ngân hàng ra quyết định cho vay hợp lý.
• Bước 4: Giải ngân
quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sự phát
triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãi công nghệ
thông tin.
Phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp có tầm quan trọng rất
lớn đối với các chủ thể, đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt động của
doanh nghiệp. Trước khi tìm hiểu về phân tích tài chính thì chúng ta phải hiểu
về khái niệm phân tích tài chính là gì? Phân tích tài chính là việc sử dụng một
tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ để thu thập và xử lý thông tin
kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình
hình tài chính, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp cũng như khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, để từ đó giúp
những người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định
quản lý và quyết định đầu tư cho phù hợp nhằm hạn chế các rủi ro có thể xảy
ra trong việc ra quyết định.
1.1.2.Mục tiêu phân tích tài chính
Phân tích tài chính bao gồm việc đánh giá các điều kiện tài chính của
doanh nghiệp trong quá khứ, ở hiện tại và đến tương lai. Mục tiêu của việc
phân tích tài chính nhằm phát hiện những biểu hiện không lành mạnh trong
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
6
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
vấn đề tài chính có thể ảnh hưởng đến tương lại phát triển của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh
khác nhau, các loại hình sở hữu khác nhau … Vì vậy, có nhiều đối tượng
quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Những nhà phân tích ở cương
vị khác nhau sẽ hướng tới các mục tiêu khác nhau. Cụ thể như sau:
Đối với nhà quản trị
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để
định hướng các quyết định của ban Tổng giám đốc, Giám đốc tài chính, dự
cách hệ thống tình hình tài sản của doanh nghiệp tại những thời điểm, kết quả
hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhất định.
Giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng
tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để ra quyết định
phù hợp.
-Thông tin bên ngoài
+ Thông tin chung: là những thông tin liên quan đến nền kinh tế, môi
trường kinh doanh, chính sách thuế … tạo môi trường kinh doanh và hành
lang pháp lý.
+ Thông tin về ngành: là những thông liên quan đến ngành để từ đó
xác định vị trí của doanh nghiệp trong ngành cũng như cơ cấu ngành, các sản
phẩm, công nghệ …
1.2.2.2.Quy trình phân tích tài chính: gồm ba bước sau
- Thu thập thông tin
Nhà phân tích sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết
minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự
đoán tài chính. Nó bao gồm những thông tin bên trong và bên ngoài đã được
đề cập ở trên.
- Xử lý thông tin
Là giai đoạn xử lý các thông tin đã thu thập được, là quá trình sắp xếp
thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích,
đánh giá … để phục vụ cho việc dự đoán và ra quyết định.
- Dự đoán và ra quyết định
Sau khi thu thập và xử lý thông tin, các nhà phân tích dự đoán được tình
hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định có nên hợp tác với
doanh nghiệp đó hay không.
1.2.2.3. Phương pháp phân tích tài chính
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
8
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
số phù hợp với mục đích phân tích của mình.
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
9
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số cần xác định được các ngưỡng, các tỷ
số tham chiếu, vì vậy để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp
thì các nhà phân tích so sánh tỷ số của doanh nghiệp với tỷ số tham chiếu.
- Phương pháp Dupont
Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân
tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Nhờ sự phân tích mối liên kết giữa
các chỉ tiêu mà các nhà phân tích sẽ nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các
hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, phương
pháp này còn được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp
trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn mà doanh nghiệp sẽ
gặp phải.
ROE = Lợi nhuận sau thuế (LNST) / Vốn chủ sở hữu (VCSH)
= LNST / Doanh thu * Doanh thu / Tài sản * Tài sản / VCSH
= PM * AU * EM
PM: Thu nhập cận biên. Đây là chỉ tiêu nói lên hiệu quả của việc quản lý
chi phí và chính sách quản lý giá cả của doanh nghiệp.
AU: Hiệu suất sử dụng tài sản. Để đánh giá chính sách đầu tư của doanh
nghiệp thì nhà phân tích thường sử dụng chỉ tiêu này để xem xét việc phân bổ
các tài sản khác như thế nào.
EM: Hệ số nhân vốn – đánh giá mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp.
1.2.2.4. Nội dung phân tích tài chính
Từ việc thu thập thông tin phục vụ cho quá trình phân tích, rồi đến chọn
phương pháp phân tích, ta có nội dung cụ thể của việc phân tích như sau:
a). Phân tích các tỷ số tài chính
Các tỷ số về khả năng thanh toán
sản phẩm, hàng hóa dự trữ để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng này.
Các tỷ số về khả năng cân đối vốn
Hệ số nợ
Hệ số nợ = Nợ phải trả / Tổng tài sản
Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối
với các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ
trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm
bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu
doanh nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và
muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song nếu tỷ lệ này quá cao thì
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
11
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Vì thế các
ngân hàng thường mong muốn các doanh nghiệp vay vốn có tỷ số này nhỏ
hơn 0,5 tức là có ít nhất một nữa tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ
vốn chủ sở hữu.
Khả năng thanh toán lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Lãi vay
Tỷ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm
như thế nào vì lãi vay hàng năm đối với doanh nghiệp là một chi phí cố định
và ngân hàng muốn biết doanh nghiệp sẵn sàng trả lãi như thế nào. Thông
thường các ngân hàng đòi hỏi tỷ số này cao hơn 1.
Các tỷ số về khả năng hoạt động
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân = (Các khoản phải thu bình quân * 360) / Doanh thu
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian trung bình mà doanh nghiệp phải chờ để
thu hồi nợ trước khi bán hàng. Kỳ thu tiền bình quân phụ thuộc vào chính
sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp cũng như đặc điểm, tính chất sản
xuất của mỗi ngành nghề kinh doanh khác nhau. Kỳ thu tiền bình quân cao
thu, lợi nhuận và khả năng tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE =Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào sản xuất kinh
doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất sinh lời của tổng tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản
ROA cho biết mỗi đồng giá trị tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
b) Phân tích diễn biến nguồn vốn và tài sản (Bảng tài trợ)
Trong phân tích nguồn vốn và tài sản, người ta thường xem xét sự thay
đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong
một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
13
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng kê
nguồn vốn và tài sản (Bảng tài trợ). Nó giúp nhà quản lý xác định rõ các
nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó, từ đó xác định được
doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích không, có hiệu quả hay không từ
đó giúp các nhà quản lý có biện pháp phù hợp để điều chỉnh cách sử dụng vốn
cho phù hợp. Bên cạnh đó, phân tích Bảng tài trợ còn giúp các nhà phân tích
tài chính biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp đó,qua việc phân tích
việc sử dụng vốn sẽ gúp nhà phân tích đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp đó có ổn định không, có nguồn lực mạnh hay không.
Để lập được bảng tài trợ, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản
mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được
phân biệt ở hai cột: tài sản và nguồn vốn theo nguyên tắc:
- Nếu các khoản mục bên tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn
vốn giảm thì điều đó thể hiện việc sử dụng vốn.
những đánh giá về trạng thái tĩnh với những đánh giá về trạng thái động để
đưa ra một bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu
như trạng thái tĩnh được thể hiện qua Bảng cân đối kế toán thì trạng thái động
(sự dịch chuyển của các dòng tiền) được phản ánh qua bảng tài trợ, bảng báo
cáo kết quả kinh doanh. Thông qua các báo cáo tài chính này, các nhà phân
tích có thể đánh giá sự thay đổi về vốn lưu động ròng, về nhu cầu vốn lưu
động. Từ đó, có thể đánh giá những thay đổi về ngân quỹ của doanh nghiệp.
Như vậy, giữa các báo cáo tài chính có mối liên quan rất chặt chẽ: những thay
đổi trên bảng cân đối kế toán được lập đầu kỳ và cuối kỳ cùng với khả năng
tự tài trợ được tính từ báo cáo kết quả kinh doanh được thể hiện trên bảng tài
trợ và liên quan mật thiết đến ngân quỹ của doanh nghiệp.
Khi phân tích trạng thái động, trong một số trường hợp nhất định,
người ta còn chú trọng tới các chỉ tiêu quản lý trung gian nhằm đánh giá chi
tiết hơn tình hình tài chính và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của
doanh nghiệp. Những chỉ tiêu này là cơ sở để xác lập nhiều hệ số rất có ý
nghĩa về mặt hoạt động, cơ cấu vốn … của doanh nghiệp. Cách xác định
những chỉ tiêu này như sau:
Lãi gộp = Doanh thu – Giá vốn hàng bán
Thu nhập trước khấu hao và lãi = Lãi gộp – Chi phí bán hàng quản lý
(không kể khấu hao và lãi vay)
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
15
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Thu nhập trước thuế và lãi = Thu nhập trước khấu hao và lãi – Khấu hao
Thu nhập trước thuế = Thu nhập trước thuế và lãi – Lãi vay
Thu nhập sau thuế = Thu nhập trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trên cơ sở đó, nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và mức
tăng tương đối của các chỉ tiêu qua các thời kỳ để nhận biết tình hình hoạt
động của doanh nghiệp. Đồng thời, nhà phân tích cũng cần so sánh chúng với
các chỉ tiêu cùng loại của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá vị thế của
và quản lý hơn đối với các khoản vay. Tuy nhiên, ngoài sự chính xác về mặt
con số, chất lượng phân tích tài chính còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phù hợp
của các chỉ tiêu với mục đích sử dụng kết quả phân tích đó.
Thời gian và chi phí phân tích tài chính doanh nghiệp
Dù độ phân tích có chính xác, tỷ mỷ nhưng không nhanh chóng kịp thời
thì ngân hàng không thể phục vụ khách hàng kịp thời, khách hàng sẽ mất cơ
hội kinh doanh, như vậy việc phân tích không đạt yêu cầu, trở lên vô nghĩa.
Chất lượng phân tích tốt còn được đánh giá cả trên góc độ thời gian thực hiện
phân tích.
Bên cạnh việc giảm thời gian phân tích, tối thiểu hoá chi phí cũng là
yếu tố góp phần nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp. Tối đa
hoá lợi nhuận, hạn chế rủi ro là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng, nên
việc cân đối chi phí cho các mục tiêu khác nhau cũng được ngân hàng hết sức
chú trọng
Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dư nợ :
Chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp được phản ánh trực tiếp
bằng tỷ lệ nợ quá hạn hoặc tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ. Kết quả phản ánh
được phần lớn quá trình. Trong hoạt động cho vay, phân tích tài chính doanh
nghiệp tốt hạn chế được tối đa rủi ro, và tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn /
tổng dư nợ thấp. Nhờ thế, doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng cũng tăng.
Các phân tích không tốt sẽ làm tăng thời gian và chi phí cho việc kiểm
soát khoản vay, tăng khả năng rủi ro đối với các khoản vay.
Doanh số và lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay :
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Doanh số và lợi nhuận của một ngân hàng cao thể hiện năng lực hoạt
động và uy tín của ngân hàng trên thị trường. Chất lượng phân tích tài chính
doanh nghiệp là một yếu tố góp phần làm nâng cao doanh số và lợi nhuận của
ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay. Ngoài các yếu tố khách quan từ thị
tích tài chính của doanh nghiệp mà ngân hàng có thể sẽ cho vay vốn. Công tác
phân tích tài chính không phải là nghiệp vụ đơn giản, nó đòi hỏi cán bộ phân
tích không những phải am hiểu các lĩnh vực cho vay, đầu tư của ngân hàng
mà còn phải có những hiểu biết về các vấn đề liên quan như: thuế, môi
trường, thị trường, khoa học công nghệ.
Do vậy, phần nào hiệu quả của công tác phân tích tài chính khách hàng sẽ phụ
thuộc vào chất lượng nhân tố con người.
Phương pháp phân tích và các chỉ tiêu phân tích
Phương pháp phân tích là một yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng
phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay ngân hàng. Với nguồn thông
tin đã có được, vấn đề đặt ra với ngân hàng là làm thế nào, lựa chọn phương
pháp nào, chỉ tiêu nào để phân tích mang lại hiệu quả tốt nhất. Việc sử dụng
phương pháp nào , chỉ tiêu nào để phân tích lại phụ thuộc vào quyết định của
mỗi ngân hàng. Mỗi doanh nghiệp có một đặc trưng nhất định, vì vậy việc lựa
chọn các chỉ tiêu tài chính phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp là rất
quan trọng.
Một số nhân tố khác
- Tổ chức điều hành
Phân tích tài chính của một doanh nghiệp để xem xét co nên cho vay vốn
hay không bao gồm nhiều hoạt động liên quan chặt chẽ với nhau, kết quả của
nó phụ thuộc vào nhiều tổ chức và sự phối hợp nhuần nhuyễn hợp lý, khoa
học các bộ phận trong quá trình thẩm định sẽ tránh được sự chồng chéo, phát
huy được những mặt mạnh, hạn chế được những mặt yếu của mỗi tác nhân và
trên cơ sở đó giảm bớt chi phí cũng như thời gian thẩm định nói chung và thời
gian phân tích tài chính doanh nghiệp nói riêng.
- Trang thiết bị công nghệ
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
19
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Hiện nay, công nghệ thông tin đã được ứng dụng vào trong ngành ngân hàng
20
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
ngân hàng nói riêng. Các văn bản này có thể kể tới các văn bản hướng dẫn
tính khấu hao tính tiền thuế đất đai của nhà nước, tính giá trị của tài sản, hay
những hướng dẫn về thuế là những văn bản có ảnh hưởng trực tiếp tới công
tác phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng, dù mức độ ảnh
hưởng là khác nhau.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ TĨNH
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi
nhánh Hà Tĩnh
2.1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Tĩnh (Vietcombank Hà Tĩnh)
được thành lập ngày 31/05/1994 theo Quyết định số 116 của Tổng giám đốc
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Là thành viên thứ 17 của Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN, Ngân
hàng TMCP Ngoại thương chi nhánh Hà Tĩnh (Vietcombank Hà Tĩnh) chính
thức đi vào hoạt động từ tháng 06/1994.Trải qua gần 20 năm xây dựng và
trưởng thành, chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Tĩnh đã không ngừng
lớn mạnh, khẳng định được vị trí quan trọng của mình, trở thành một trong
những chi nhánh hàng đầu trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
và có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội
của Tỉnh Hà Tĩnh.
Những ngày đầu đi vào khai trương hoạt động, từ một phòng giao dịch
của Ngân hàng Ngoại thương Vinh sau ngày chia tỉnh, đến tháng 6 năm 1994
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Tĩnh được thành lập, có thể nói cơ sở
vật chất và các tiền đề về vốn và khách hàng hầu như chưa có gì. Đội ngũ cán
bộ công nhân viên vừa thiếu lại vừa chưa có kinh nghiệm về hoạt động của
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức
SV: Phan Đức Anh Lớp: Tài chính doanh nghiệp 48A
22
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Hoàng Xuân Quế
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Tĩnh là đơn vị thành viên của
Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ-
tín dụng, dịch vụ Ngân hàng và thực hiện nhiệm vụ của một Ngân hàng đối
ngoại là phục vụ các doanh nghiệp làm công tác sản xuất, kinh doanh hàng
xuất nhập khẩu và tiêu dùng trong địa bàn tỉnh, các nhà đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam, Việt kiều về thăm quê hương, các đoàn khách nước ngoài vào
tham quan du lịch tại Việt nam, huy động tiền nhàn rỗi của dân cư (đồng Việt
nam và ngoại tệ).
Đến ngày 31/12/2010 số lao động của Chi nhánh thực hiện là 126
người (tăng so với 31/12/2009 là 08 người), trong đó: nam 53 người, nữ 73
người; cán bộ CNV 113 người, lao động thử việc 3 người; số tuổi đời bình
quân: 30,5.
Trình độ chuyên môn như sau:
- Thạc sỹ: 1 người.
- Trình độ đại học, cao đẳng: 107 người.
- Trình độ trung cấp: 9 người.
Trình độ chính trị:
- Cao cấp chính trị: 02 người.
- Trung cấp: 96 người.
- Sơ cấp: 19 người.
Đảng viên: 46 đồng chí
- Đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo và quản lý: 23 đồng chí
Như vậy tính đến 31/12/2010 Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà
Tĩnh có tổng số 113 cán bộ nhân viên với bộ máy tổ chức gọn, hiệu quả,tuân
thủ theo các quy định được ban hành.
DỊCH VỤ
PHÒNG
NGÂN QUỸ
PHÒNG
KIỂM TRA NỘI
BỘ