Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế Việt Nam - Pdf 26

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang thực hiện chính sách đổi mới toàn
diện mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trọng tâm là chuyển đổi nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần hoạt
động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã nhiều
năm duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhất là gần đây luôn duy trì tốc
độ trên 7%/năm, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, môi trường
kinh tế, chính trị được giữ vững… Để có được những thành tựu trên đã có sự
đóng góp của rất nhiều thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Do vậy, Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thị trường. Mặt
khác, năm 1987 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành đã thể hiện
được quan điểm mở cửa, hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế khu vực
và thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một nguồn vốn quan trọng của
toàn xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá; góp phần nâng cao năng lực quản lý và chuyển giao công nghệ trên
thế giới, mở rộng thị trường và tạo nhiều việc làm.
Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động đầu tư vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế và
cần có nhiều biện pháp để khắc phục. Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực và theo
địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế; hiệu quả tổng thể về mặt
kinh tế - xã hội do hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam vẫn còn ít; trình độ lao động trong các doanh
nghiệp nước ngoài còn chưa cao. Nguyên nhân của tình trạng trên do khung
pháp lí về đầu tư còn nhiều phiền hà; thủ tục rườm rà; việc sử dụng vốn đầu tư
nước ngoài đối với các nội dung phát triển kinh tế còn nhiều hạn chế.
1
Qua những phân tích tác động tích cực và hạn chế của đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam. Chính vì vậy em đã chọn đề tài "Tác động của đầu tư trực

Đầu tư trực tiếp nước ngoài : là hình thức chủ đầu tư đóng góp số vốn đủ
lớn vào lĩnh vục sản xuất hoặc dịch vụ cho phép họ có quyền trực tiếp tham gia
điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư . Việc tang cường thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài là phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện với những nước
đang phát triển. Chính sách này đã và đang là hình thức phổ biến trong chính
sách “ mở của kinh tế “ của nhiều nước trong đó có Việt Nam .
Quan điểm về đầu tư của Việt Nam được quy định tại khoản 1 điều 2 của
Luật đầu tư nước ngoài : Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước
3
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đó để tiến hành
đầu tư theo luật quy định “
1.2 Tính chất của đầu tư nước ngoài :
- FDI có tính dài lâu: Đầu tư trực tiếp các dòng vồn có thời gian hoạt động
trong thời gian dài ,thời gian thu hồi vốn đầu tư ban đầu lâu .
- FDI có sự tham gia quản lý của nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước
ngoài có quyền kiểm soát và tham gia các hoạt động , quản lý của các doanh
nghiệp được tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài .
- Đi kèm dự án FDI có 3 yếu tố : hoạt động , thương mại ,chuyển giao công
nghệ ,di cư lao động quốc tế.
- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa đầu tư
giữa các quốc gia.
- FDI là sự gặp gỡ về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và bên kia là nước
tiếp nhận đầu tư.
2. Tác động của FDI tới kinh tế
2.1 Tác động tích cực
2.1.1 FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Đâu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh
tê giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất như vốn
,lao động ,tài nguyên , công nghệ …
Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP của các nước tiếp nhận đầu

phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở những quốc gia này . Bằng cách tuyển dụng
những lao động địa phương vào doanh nghiệp có vốn FDI .Ngoài ra FDI đã tạo
ra việc làm gián tiếp thông qua các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho các
doanh nghiệp có vốn FDI.
5
Người lao động trong các doanh nghiệp ,công ty có vốn FDI có thu nhập
thường cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước vì : sản lượng các doanh
nghiệp có vốn FDI thường cao hơn ,lao động có chất lượng cao hơn,và những
công ty này có thị trường rộng và quy mô lớn.
2.1.6 FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
Cơ cấu đầu tư của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói các khác
là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế.
Ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia là: (i) cơ
cấu thành phần kinh tế; (ii) cơ cấu ngành kinh tế; (iii) cơ cấu vùng kinh tế.
Trong số ba yếu tố đó, cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết
định hình thức của những cơ cấu kinh tế khác. Do vậy, việc thay đổi cơ cấu
ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Một cơ cấu kinh
tế hợp lý ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng và trình độ quản lý có tác
động mạnh đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi và dịch chuyển cơ
bản cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Việc nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho thấy một
đặc điểm là nguồn đầu tư đó chủ yếu nhằm vào cácngành công nghiệp và dịch
vụ. Đối với ngành nông nghiệp, tỷ lệ của nguồn vốn đầu tư đó là tương đối thấp
hoặc nếu có thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến. Như vậy,
nhìn chung hoạt động FDI sẽ góp phần làm cho cơ cấu kinh tế của nước tiếp
nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng tương đối ngành công nghiệp và dịch vụ so
với ngành nông nghiệp.
2.2 Những hạn chế của FDI
2.2.1. Vấn đề về bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế

xuất tiên tién, vốn lớn so với các doanh nghiệp trong nước. Đó là những đối thủ
cạnh tranh đáng sợ đối với các doanh nghiệp trong nước. Không ít trường hợp
hàng hoá và dịch vụ của các công ty đa quốc gia chiếm dần thị trường của các
7
doanh nghiệp bản địa, thậm chí khiến các doanh nghiệp này đi đến phá sản hoặc
bị thôn tính.
b) Về lao động
Người lao động làm trong doanh nghiệp FDI thường đòi hỏi phải có trình
độ lao động cao nếu không đáp ứng thường bị xa thải. Một trong những nguyên
nhân khác dẫn đến tình trạng người lao động bị sa thải đó là sự hợp nhất, sáp
nhập và giải thể của các công ty, tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới ngày càng
tăng lên.
8
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VIỆT NAM
1. Một số đặc điểm của nguồn vốn FDI ở Việt Nam
- Về quy mô vốn trên 1 dự án : Nhìn chung các dự án vốn FDI váod Việt
Nam có quy mô vừa và nhỏ . Vào năm 2000 là 6,17 triệu USD/ dự án . Giai
đoạn 2001-2006 là 3.65 triệu USD/ dự án . Nhưng trong giai đoạn 2007-2010 đã
tăng đáng kể lên tới 7.3 triệu USD cho 1 dự án .
- Về hình thức sở hửu : Do những hạn chế trông việc thành lập doanh
nghiệp với 100% vốn FDI vào những năm trước năm 1997 được xóa bỏ và đặc
biệt là Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006 đã làm số doanh nghiệp có vốn
FDI tăng vọt . Ước tính so doanh nghiệp có vốn FDI vào năm 2010 là 6546
doang nghiệp , gấp hơn 4 lần so với năm 2000 là 1525 doanh nghiệp .
- Về cơ cấu đầu tư theo ngành : các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh
vực công nghiêp và xây dựng , góp phần không nhỏ vào quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa .
Đâu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phân theo ngành kinh tế 2010

nước Châu Á vẫn là những nhà đầu tư lớn nhất cả về tỷ trọng số dự án và tỷ
trọng vốn đăng ký . Trong khi các nhà đầu tư châu Âu chỉ giữ vị trí khiêm tốn
với tỷ lệ tương ứng 16% và 24 % . Đầu tư Hoa kỳ đã tăng đáng kể trong những
năm gần đây sau hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ (2001) , và nhất là
sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006.
2. Thực trạng vốn đầu tư trực tiệp nước ngoài tại Việt Nam :
Năm
GDP - tổng sản
phẩm quốc nội
(tính theo tỷ
USD làm tròn)
Tỷ lệ tăng trưởng
GDP thực ( so
vơi GDP năm
trước tính theo
%)
Đầu tư trược
tiếp nước ngoài
FDI- thực hiện
( tính theo Tỷ
USD ,làm tròn )
Chênh lệch đăng
ký - thực hiên
FDI ( tính theo tỷ
USD , làm tròn,
%)
2000 31 6.8 2.4 -0.4
2001 32 6.9 2.4 07
2002 35 7.1 2.5 -0.4
2003 39 7.3 2.6 -0.5

Hạn chế khác của đầu tư nước ngoài trong năm 2009 là tỷ trọng vốn đầu tư
vào bất động sản tăng quá nhanh: từ 25% năm 2007, 36,8% năm 2008 lên tới
60% năm 2009. Với cơ cấu đầu tư như vậy, khu vực FDI không tạo thêm nhiều
việc làm và ít có khả năng tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không đẩy mạnh
được xuất khẩu.
Năm 2010 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tính đến hết tháng 11, cả
nước thu hút được 833 dự án mới với tổng số vốn đăng ký đạt 13,3 tỷ USD,
bằng 60% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó vốn thực hiện ước đạt 10 tỷ USD,
tăng 9,9%. Mặc dù vốn FDI đăng ký có thấp hơn nhiều so với năm 2009 nhưng
tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký lại cao hơn nhiều. Đây có thể được coi là
11
điểm sáng trong thu hút FDI năm 2010. Điều này cũng cho thấy sự cam kết lâu
dài các nhà đầu tư nước ngoài ở thị trường Việt Nam.
2.2. Đánh giá FDI trong sáu tháng đầu năm 2011 :
- Nếu chỉ đề cập đến số vốn, thì bức tranh về đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) tại Việt Nam 6 tháng đầu năm 2011 có một điểm sáng quan trọng, đó là số
vốn FDI 5,3 tỷ USD thực hiện đạt xấp xỉ kết quả cùng kỳ năm trước, bằng
98,1% năm 2010 Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất có tác động đến các chỉ tiêu
khác trong thu hút FDI góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
của Việt Nam.( bảng 1)
- Số vốn đăng ký cấp mới trong 6 tháng đầu 2011 đạt trên 4,3 tỷ USD chỉ
bằng 50% cùng kỳ 2010, nếu kể cả số vốn tăng thêm từ các DN có vốn FDI hiện
có, 6 tháng qua cũng chỉ đạt 51,9% cùng kỳ trước đó. Điều này cho thấy mức
giảm đáng kể của dòng vốn FDI mới khi chảy vào Việt Nam trong 6 tháng qua
Bảng 1 : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 tháng đầu 2011
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số vốn
So với cùng kỳ
năm 2010
Vốn thực hiện Triệu USD 5,3 98,1
Vốn đăng ký Triệu USD 5,6 51,9

0.3 5.3
5 Nông,lâm nghiệp,
thủy sản
0.07 1.2
6 Dịch vụ khác
0.6 10.2
Tổng vốn
5.66
- Như vậy đầu tư vào kinh doanh bất động sản cho thấy không còn “nóng”
như hai – ba năm trước. Vậy tình hình này đã phản ánh một phần sự trầm lắng
của thị trường bất động sản trong thời gian gần đây. Còn đối với lĩnh vực nông
lăm nghiệp, thủy sản còn nhiều vấn đề theo Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông
thôn đã đề ra 3 nhóm nguyên nhân chính :
+ Thứ nhất, chưa có chiến lược thu hút và quy hoạch sử dụng FDI cho
phát triển nông nghiệp và nông thôn. Chưa có cơ chế chọn lựa, đề xuất các dự
án FDI ưu tiên trong ngành, mong muốn của ngành chưa thể hiện thành chính
sách ưu đãi. Chưa có cơ quan của ngành theo dõi và giúp đỡ giải quyết vướng
mắc trong quá trình xúc tiến và thực hiện các dự án FDI. Chưa có cơ chế phối
hợp ngành - địa phương.
13
+ Cơ sở hạ tầng và tay nghề ở khu vực nông thôn chưa đủ để hấp dẫn các
nhà đầu tư nước ngoài. Rủi ro khi đầu tư vào nông nghiệp và khu vực nông thôn
cao. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn chưa đủ năng
lực để chủ động kêu gọi FDI theo ý đồ phát triển sản phẩm và thị trường của
riêng mình.
+ Những nguyên nhân bắt nguồn từ thủ tục hành chính, chính sách
chung của Nhà nước. Chưa thực sự ưu đãi cho đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước
ngoài vào khu vực nông nghiệp và nông thôn. Chính sách đất đai, thuế và các
chế độ ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp và các vùng nông thôn chưa rõ và chưa
thống nhất.

vốn đăng ký cấp
mới và tăng thêm
(đơn vị : triệuUSD)
1
100%vốn nước
ngoài
361 4555.47
2
đầu tư theo
BOT,BT,BTO
3
Liên doanh
92 1096.53
4
Cổ phần
2 14.67
5
Hợp đồng hợp
tác kinh doanh
Tổng số
455 5666.67
- Về hình thức đầu tư (xem bảng 3), cũng phản ánh một thực tế hiện nay
trong thu hút FDI, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lựa chọn chủ yếu hình thức
đầu tư 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ đầu tư thành lập công ty liên
doanh – có sự hợp tác, liên kết trực tiếp giữa các DN Việt Nam và DN nước
ngoài vẫn còn rất thấp, đó là chưa kể đến các hình thức, phương thức đầu tư
khác tuy đã được Luật đầu tư 2005 cho phép thực hiện như thành lập công ty cổ
phần, mua lại và sát nhập (M&A), và gần đây các cơ quan thông tin đại chúng
đẩy mạnh tuyên truyền khuyến khích phương thức đầu tư Nhà nước và tư nhân
(PPP) cho các dự án cơ sở hạ tầng,… nhưng kết quả còn rất khiêm tốn.

8 Samoa 252
9 Thụy Sĩ 247
16
10 Đài Loan 238
-Với các đối tác truyền thống từ khu vực châu Á này, cần có nghiên cứu
chuyên sâu về từng đối tác để có các giải pháp xúc tiến đầu tư thích hợp. Trong 6
tháng đầu năm, mặc dù phải đối mặt với các khó khăn lớn do thảm họa sóng thần
và động đất đem lại, nhưng các nhà đầu tư Nhật Bản hiện có vẫn tăng vốn và mở
rộng sản xuất với 23 lượt dự án tăng vốn và số vốn tăng thêm đạt trên 163 triệu
USD, cùng với 86 dự án đầu tư mới với tổng số vốn đăng ký trên 303 triệu USD
các nhà đầu tư Nhật Bản đã tiếp tục duy trì vị trí cao trong đầu tư tại Việt Nam.
Đặc biệt, các động thái gần đây của các nhà đầu tư Nhật Bản như đề xuất
ký kết văn bản hợp tác giữa tỉnh Kobe của Nhật Bản với tỉnh Kiên Giang; ký kết
thỏa thuận khung giữa một nhóm các nhà đầu tư Nhật Bản với UBND tỉnh Phú
Yên về hợp tác thu mua, bảo quản, chế biến, xuất khẩu và xây dựng thương hiệu
cá Ngừ đại dương của Việt Nam; Việc trao đổi, tổ chức Hội thảo về phát triển
công nghiệp phụ trợ giữa các đối tác và các cơ quan chức năng giữa hai bên gần
đây;… cho thấy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước đang từng bước được
thực thi cụ thể trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Tuy vậy, việc thúc đẩy hiệu quả giữa đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn
cho các DN vừa và nhỏ của Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam để phát triển công
nghiệp, phụ trợ là một hướng đi cần được quan tâm thực hiện. Theo đó một
trong các việc cần làm ngay là các khu công nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị sẵn
sàng mặt bằng, nhà xưởng để cho các DN nhỏ và vừa Nhật Bản thuê lại, tiến
hành sản xuất kinh doanh tại Việt Nam.
Trong 6 tháng đầu năm 2011, cũng đã có một số dự án lớn với quy mô vốn
đăng ký từ 200 triệu USD trở lên, đặc biệt dự án công ty TNHH sản xuất First
Solar Vietnam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế tạo do Nhà đầu tư Singapore đầu
tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD đã làm dài thêm danh mục
trên 20 các “siêu” dự án tỷ USD hiện nay. Về số lượng các dự án lớn này chiếm

khăn cho việc xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như hướng dẫn các
18
doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án (hầu hết
các địa phương đều phản ánh vấn đề này.
b) Về công tác quy hoạch:
Công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu
và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu
tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung. Một số địa phương
cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không
tính đến khả năng thị trường, gây dư thừa, lãnh phí, hiệu quả đầu tư thấp.
c) Về cơ sở hạ tầng:
Sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan
trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư tính
toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng công
trình hạ tầng ngoài hàng rào để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong
không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không
đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng
biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa.
Hệ thống kết cấu hạ tầng ở các khu kinh tế mới được thành lập gần đây
như Chân Mây, Nhơn Hội, Nam Phú Yên… phát triển quá chậm so với nhu cầu
đầu tư phát triển các dự án ĐTNN đang gây quan ngại cho các nhà đầu tư nước
ngoài và đang cản trở việc giải ngân triển khai dự án ĐTNN lớn trong các khu
kinh tế này.
Tình trạng thiếu điện dẫn tới cắt điện luân phiên, cắt điện không theo lịch
khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn không nhỏ trong việc điều hành và
hoàn thành kế hoạch sản xuất.
d) Về nguồn nhân lực:
Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công
nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới
hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội… mà còn ở cả những trung

20
sách. Điển hình là một số dự án đầu tư quy mô lớn, sử dụng nhiều diện tích đất
mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư tại một số địa phương.
Việc sử dụng đất nông nghiệp để đầu tư các khu công nghiệp, khu đô
thị, sân golf đang được dư luận gần đây quan tâm. Do các địa phương chưa có
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nên có tình trạng cấp phép nhiều dự án sử dụng
diện tích lớn đất nông nghiệp để đầu tư khu công nghiệp, khu đô thị, sân Golf.
Về vấn đề này, tại Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008, Thủ tướng
Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài Nguyên và Môi trường chủ trì việc kiểm tra
quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong đó có đất nông nghiệp.
f) Vấn đề phân cấp trong quản lý ĐTNN :
- Chủ trương phân cấp trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực ĐTNN là
đúng đắn, tuy nhiên trong điều kiện hệ thống quy hoạch chưa đồng bộ, kịp thời,
năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà nước trong lĩnh vực ĐTNN tại một số
địa phương còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ nên đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh
thiếu lành mạnh trong việc thu hút ĐTNN, thiếu sự liên kết vùng, khu vực, ảnh
hưởng đến cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư. Một số địa phương không thẩm tra kỹ
về năng lực của các nhà đầu tư trong các dự án có quy mô lớn, chạy đua với nhau
trong việc cấp phép các dự án lớn có quy mô hàng tỷ USD. Do vậy, khả năng
triển khai các dự án này sẽ rất khó khả thi theo đúng cam kết của nhà đầu tư.
- Với chủ trương phân cấp như hiện nay, việc cung cấp thông tin ĐTNN
kịp thời của các địa phương lên trung ương, để phục vụ công tác quản lý, điều
hành, phân tích và dự báo các biến động, các xu thế đầu tư vào Việt Nam cña
Chính phủ chưa được quy định rõ ràng. Việc thu thập thông tin về tình hình hoạt
động của các doanh nghiệp ĐTNN hiện đang là khó khăn lớn nhất đối với các cơ
quan quản lý đầu tư các cấp, kế cả ệô Kế hoạch và Đầu tư, trong khi cơ sở vật chất
và nhân lực phục vụ công tác thông tin kinh tế còn thiếu và yếu so với nhu cầu.
g) Vấn đề môi trường:
Việc xử lý chất thải của các dự án ĐTNN tập trung tại các khu công
nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điểm đã và đang ảnh hưởng nhất định

22
thống biểu mẫu báo cáo, cơ chế hậu kiểm, giám sát đầu tư ); và kiến nghị
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định thuộc thẩm
quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp
để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Khẩn trương ban hành
các văn bản hướng dẫn các luật mới, nhất là các luật mới được Quốc hội thông
qua trong thời gan gần đâycó liên quan đến đầu tư, kinh doanh.
- Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng
các công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho
người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, khu kinh tế.
- Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các
dự án công nghệ lạc hậu; dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự
án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án, tránh lập dự án
lớn để giữ đất, không triển khai; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả
đất KCN.
(2) Nhóm giải pháp về quy hoạch:
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu; rà soát
để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án.
- Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật Đầu tư
trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh
vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế.
- Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều
kiện để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm
tra, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa
phương ven biển nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
(3) Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng:
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status