Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
MỤC LỤC
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1: kết quả huy động vốn tại Techcombank chi nhánh Hoàng Quốc Việt. .Error:
Reference source not found
Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn tại chi nhánh Techcombank. Error: Reference source
not found
Hoàng Quốc Việt Error: Reference source not found
Bảng 3: Tổng nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu Error: Reference source not found
Bảng4: Số lượng thẻ phát hành và số đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) Error:
Reference source not found
Bảng 5: kết quả hoạt động kinh doanh của Techcombank Hoàng Quốc Việt Error:
Reference source not found
Bảng 2.6 Số lượng thẻ F@stAcess của TCB Hoàng Quốc Việt đã phát hành từ
2006-2012 Error: Reference source not found
Bảng 2.7 : Doanh số thanh toán thẻ Error: Reference source not found
Bảng 2.8: Tình hình giả mạo thẻ trong lĩnh vực phát hành của TCB HQV từ năm
2010-2012 Error: Reference source not found
Bảng 2.9: Tình hình giả mạo thẻ trong lĩnh vực thanh toán của TCB HQV từ năm
2010 - 2012 Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.1 : Số lượng thẻ F@stAccess của TCB Hoàng Quốc Việt Error: Reference
source not found
Bảng 2.9 Số lượng thẻ tín dụng TCB Hoàng Quốc Việt phát hành từng năm từ 2006
– 2012 Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Số lượng thẻ tín dụng của TCB HQVError: Reference source not found
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Lời nói đầu
Trong sự biến động không ngừng của nền kinh tế,các giao dịch mua bán hàng
hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh
Hoàng Quốc Việt” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình.
Kết cấu nội dung chuyên đề bao gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về phát triển hoạt động phát hành và thanh
toán thẻ của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân
hàng thương mại cồ phần kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
Chương 3: Phát triển hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân
hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
Trong quá trình thực tập trước hết em xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên phòng
kinh doanh thẻ tại NHTMCP kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã
tạo điều kiện thuận lợi cho em tiếp cận với những số liệu cần thiết để em có thể
hoàn thành chuyên đề của mình.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Ths.Phan Thị Hạnh đã tận tình chỉ bảo và
hướng dẫn cho em trong quá trình làm và hoàn thành chuyên đề. Em xin cảm ơn các
Thầy,Cô giáo đã đã dạy dỗ và giúp đỡ em trong quá trình học tập trong những năm
học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Chương 1: Lý luận chung về thẻ Ngân hàng
1.1 Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt
“Thanh toán không dùng tiền mặt là tổng hợp tất cả các khoản thanh toán tiền
tệ giữa các đơn vị, được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản hoặc
bù trừ lẫn nhau thông qua ngân hàng mà không trực tiếp sử dụng tiền mặt trong
khoản thanh toán đó.”
1.1.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt có ba đặc điểm lớn sau:
các dịch vụ cho khách hàng, tạo điều kiện để tăng lợi nhuận một cách hiệu quả nhất.
1.1.3.3. Ý nghĩa đối với nền kinh tế
Thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm khối lượng tiền mặt lưu thông, từ
đó làm giảm chi phí lớn cho việc in ấn, bảo quản, vận chuyển, kiểm đếm. Mặt khác
thanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm tăng hiệu quả quản lý của ngân hàng.
Thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần chống thất thu thuế có hiệu quả.
Ngoài ra nếu tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt còn góp phần
thúc đẩy quá trình vận động của vật tư hàng hóa trong nền kinh tế, thông qua đó
mối quan hệ kinh tế lớn sẽ được giải quyết nhanh chóng, an toàn chính xác và tiết
kiệm được thời gian.
1.2 Tổng quan về thẻ ngân hàng
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cấu tạo của thẻ
1.2.1.1 . Khái niệm thẻ
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ
phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng
công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
“Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử
dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của
mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng đã ký kết
giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.”
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
1.2.1.2. Đặc điểm cấu tạo của thẻ
Từ khi ra đời đến nay, đặc điểm cấu tạo của thẻ đã có nhiều sự thay đổi nhằm
đảm bảo tiện ích cũng như sự an toàn khi khách hàng sử dụng.
Hầu hết các loại thẻ hiện nay được cấu tạo bằng nhựa cứng (plastis), có kích
cỡ 84mm x 54mm x 0,76mm, các góc đều được gọt tròn gồm có hai mặt ghi thông
tin của thẻ.
Mặt trước của thẻ ghi các thông tin:
lĩnh vực tiền tệ tín dụng, các tổ chức ngân hàng tài chính có đủ khả năng cung cấp
cho khách hàng những khoản vay miễn lãi trong một thời gian nhất định.
Năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ lần đầu tiên cung cấp
cho các khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm. Western Union
đã phát hành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện hai chức
năng: nhận diện, phân biệt khách hàng và cung cấp, cập nhật dữ liệu về khách hàng,
bao gồm các thông tin về tài khoản và các giao dịch thực hiện. Không lâu sau, các
tổ chức khác cũng nhận ra giá trị của loại hình dịch vụ nói trên và chỉ trong một thời
gian ngắn rất nhiều đơn vị như nhà ga, khách sạn cũng như các cửa hàng trên toàn
nước Mỹ đã cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình.
Tiếp bước các tổ chức cung cấp hàng hóa dịch vụ, các ngân hàng nhanh chóng
xâm nhập vào thị trường thẻ với mục tiêu nhanh chóng nhân rộng hình thức thanh
toán. Với tốc độ phát triển rất nhanh, chỉ vài năm sau đó hơn 100 ngân hàng trên
nước Mỹ cùng thực hiện cung cấp dịch vụ thanh toán trả chậm, tiền thân của thẻ tín
dụng sau này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển quá nhanh, những ngân hàng cũng
như các tổ chức tài chính đã gặp những bài học xương máu và buộc phải xem lại
chiến lược kinh doanh của đơn vị mình.
Vào năm 1950, Diners Club phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm
bằng chất liệu Plastic. Năm 1958, sau Diners Club, công ty American Express cũng
tham gia vào thị trường thẻ ngân hàng ,American Express chú trọng phát triển thẻ
trong lĩnh vực giải trí và du lịch - hai lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh tại Mỹ và
châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới.
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Đến trước năm 1970, khái niệm thẻ tín dụng đã được nhiều người biết đến và
nhanh chóng được đón nhận. Năm 1966, ngân hàng Bank of American chính thức
trao quyền phát hành thẻ BankAmerican của mình cho những ngân hàng khác thông
qua việc ký các hợp đồng đại lý, khởi đầu cho giai đoạn tăng tốc trong phát triển
dịch vụ thẻ. Thẻ tín dụng lúc này không chỉ mặc định dành cho những đối tượng
1.2.3.1 . Phân theo đặc tính kĩ thuật
Nếu căn cứ theo đặc tính kỹ thuật thẻ ngân hàng chia thành 2 loại: thẻ băng từ
và thẻ thông minh:
Thẻ băng từ: Là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt
trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ, các thông tin này
phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Thẻ từ hiện nay đang chiếm đa số trong
tổng số lượng thẻ đang lưu hành trên thị trường. Thẻ từ có nhược điểm là số lượng
các thông tin được mã hoá không nhiều và mang tính cố định nên không thể áp
dụng kỹ thuật mã hoá an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
8
Thẻ
tín
dụng
Thẻ thanh
toán
Tính chất
thanh toán
Phạm vi
sử dụng
Đặc tính
kỹ thuật
Thẻ
băng
từ
Thẻ
thông
minh
Thẻ
ghi
tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo. Thông thường, một tấm thẻ thông minh
được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ. Cũng có trường hợp thẻ
thông minh có cả Chip điện tử và băng từ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn
trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm hai loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ
liệu. Thẻ thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung
gian thanh toán (vì việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng
như việc cập nhật thông tin liên quan tới thẻ đã được thực hiện ngay tại Đơn vị chấp
nhận thẻ ). Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ mới nên giá thành cao, hệ thống máy
móc chấp nhận thanh toán cũng đắt nên loại thẻ này được sử dụng chưa phổ biến
như thẻ từ.
Thẻ từ và thẻ thông minh đều có thể được in theo kiểu dập nổi và in chìm.
+ Thẻ in nổi : Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được dập nổi các thông tin cần
thiết của thẻ và chủ thẻ.
+ Thẻ in chìm : Là loại thẻ mà thông tin của thẻ và chủ thẻ được in chìm trên
bề mặt thẻ.
1.2.3.2 . Phân theo chủ thể phát hành
Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài
khoàn của mình tại ngân hàng, loại thẻ này hiện đang sử dụng rất phổ biến không
những trong nước mà còn cả thế giới.
Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là các loại thẻ du lịch, giải trí do
các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành và được lưu hành trên toàn cầu.
1.2.3.3 . Phân theo tính chất thanh toán
Nếu căn cứ vào tính chất thanh toán có thể chia thành thẻ tín dụng quốc tế và
thẻ ghi nợ:
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Thẻ tín dụng : Là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, cung cấp cho
nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Tại thời điểm khách hàng thanh
toán hàng hóa dịch vụ ngân hàng sẽ đứng ra tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung
vượt trội so với thẻ tín dụng.
Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, thẻ cho phép khách
hàng có thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động.
Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy ATM như: rút tiền,
chuyển khoản, xem số dư tài khoản, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo tại bất
cứ thời điểm và địa điểm nào kể cả ngoài giờ làm việc, ngoài trụ sở ngân hàng.
1.2.3.4 . Phân theo phạm vi sử dụng
Thẻ trong nước: Có 2 loại
Local use only card : là loại thẻ do tổ chức tài chính và ngân hàng trong nước
phát hành, chỉ được dùng trong nội bộ tổ chức phát hành
Domestic use only card : là thẻ thanh toán mang thương hiệu tổ chức thẻ quốc
tế được phát hành để sử dụng trong nước
Thẻ quốc tế (International Card): là loại thẻ không chỉ dùng tại quốc gia nơi
phát hành thẻ mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế. Để phát hành được loại thẻ
này thì ngân hàng phát hành phải có mối liên hệ với các ngân hàng
1.2.4 Lợi ích của thẻ ngân hàng
1.2.4.1. Đối với ngân hàng phát hành
Với khoản lệ phí hàng năm mà chủ thẻ phải nộp để hưởng dịch vụ thanh toán
mà ngân hàng cung cấp, chủ thẻ đã tạo nên một nguồn thu đều đặn cho ngân hàng
phát hành.
Ngoài ra, việc chủ thẻ nạp tiền vào tài khoản để sử dụng thẻ, ngân hàng cũng
có thêm một nguồn huy động từ tiền gửi không kì hạn của khách hàng. Để có thể sở
hữu thẻ, thông thường chủ thẻ phải có thế chấp hoặc có số dư tài khoản ở mức nhất
định theo quy định của ngân hàng. Điều này đã làm số dư tiền gửi của ngân hàng
tăng một cách đáng kể.
Việc đặt các máy ATM hay liên hệ với các cơ sở chấp nhận thẻ mới cũng góp
phần mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng, điều này rất có ích ở những nơi mà
việc mở chi nhánh là tốn kém.
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Khi chấp nhận thẻ thanh toán, người bán hàng có khả năng giảm thiểu các chi
phí về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm đếm, nộp vào tài khoản ở Ngân hàng…
Ngoài ra, đối với một số đơn vị, việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ của ngân
hàng cũng là một điều kiện để được hưởng các ưu đãi của ngân hàng về tín dụng,
dịch vụ thanh toán…
1.2.5. Quy trình phát hành và thanh toán thẻ của Ngân hàng thương mại
1.2.5.1 Một số khái niệm về các chủ thể tham gia vào công tác phát hành,
sử dụng và thanh toán thẻ
Tổ chức thẻ quốc tế : là tổ chức đứng ra liên kết các thành viên là các ngân
hàng, tổ chức tín dụng, các công ty phát hành thẻ, đặt ra các quy tắc bắt buộc các
thành viên phải áp dụng thống nhất theo một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàngào
hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế đều phải là thành viên của
một tổ chức thẻ quốc tế. Mỗi tổ chức thẻ quốc tế đều phải có tên sản phẩm của
mình. Khác với ngân hàng thành viên, tổ chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực
tiếp với chủ thẻ hay cơ sở chấp nhận thẻ, mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn
thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép cho các ngân hàng thành
viên một cách nhanh chóng.
Ngân hàng phát hành: là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ hoặc
công ty thẻ trong việc phát hành thẻ mang thương hiệu của mình. Ngân hàng phát
hành trực tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài
khoản thẻ của khách hàng, quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho
khách hàng là chủ thẻ. Ngân hàng phát hành có quyền ký hợp đồng đại lý với bên
thứ 3 là một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng khác trong việc thanh toán hoặc
phát hành thẻ. Từng định kỳ, ngân hàng phát hành phải lập bảng sao kê ghi rõ các
khoản cụ thể đã sử dụng và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu
trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ ghi nợ.
Ngân hàng thanh toán: là ngân hàng chấp nhận các giao dịch thanh toán thẻ
với các điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Qua việc ký kết hợp đồng, các điểm cung
Trung tâm xử
lý số liệu
Ngân hàng
phát hành
Cở sở chấp
nhận thẻ
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
+ Hạn mức theo thẻ vàng: thường cấp cho các nhân vật quan trọng, có thu
nhập cao và ổn định. Hạn mức tín dụng theo thẻ vàng thường cao hơn nhiều so với
thẻ thường.
+ Hạn mức thẻ thường: Hạn mức tín dụng theo thẻ thường thấp hơn nhiều so
với the vàng, chủ yếu cung cấp cho người bình dân. Nhưng khách hàng cũng phải
đủ tiên chuẩn để nhận thẻ tín dụng.
- Sau khi thẩm định và phân loại khách hàng , nếu khách hàng đáp ứng đủ điều
kiện, ngân hàng tiến hành phát hành thẻ cho khách hàng. Trước khi giao thẻ ngân
hàng yêu cầu chủ thẻ ký tên, và đăng ký chữ ký mẫu ở ngân hàng. Sau đó bằng kỹ
thuật riêng, từng ngân hàng tiến hành ghi nhũng thông tin cần thiết về chủ thẻ lên
thẻ, đồng thời ấn định và mã hóa mã số cá nhân( số Pin) cho chủ thẻ, nhập dự liệu
về chủ tẻh vào tập tin quản lýầu chủ thẻ giữ bí mật. Nếu mất tiền do để lộ số Pin thì
chủ thẻ hoàn toàn chịu trách nhiệm.
- Sau khi giao thẻ cho khách hàng coi như nhiệm vụ phát hành thẻ kết thúc.
Thời gian kể từ khi khách hàng đề nghị mua thẻ đến khi nhận được thẻ thường
không quá 6 ngày.
1.2.5.3 Quy trình thanh toán thẻ
- C
ác đơn vị, cá
nhân đến
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
15
Chủ thẻ Ngân hàng phát
Tại trung tâm: sẽ tiến hành chọn lọc dữ liệu, phân loại để bù trừ giữa các ngân
hàng thành viên. Việc xử lý bù trừ, thanh toán được thức hiện thông qua ngân hàng
thanh toán và ngân hàng bù trừ.
Tại ngân hàng phát hành: khi nhận thông tin dữ liệu từ trung tâm sẽ tiến hành
thanh toán. Định kỳ trong tháng, ngân hàng phát hành lập bảng sao kê báo cho chủ
thẻ các khoản thẻ đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán (đối với thẻ tín dụng).
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát hành và thanh toán thẻ
của NHTM
1.2.6.1. Yếu tố khách quan:
- Trình độ dân trí và thói quen tiêu dùng của người dân: trong một xã hội mà
trình độ dân trí cao, các phát minh, ứng dụng của khoa học kỹ thuật công nghệ cao
sẽ dễ dàng tiếp cận với người dân. Tiêu dùng thông qua thẻ là một cách thức tiêu
dùng hiên đại, nó sẽ dễ dàng xâm nhập và phát triển hơn với những cộng đồng dân
trí cao và ngược lại. Cũng như vậy, thói quan tiêu dùng cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến sự phát triển của dịch vụ thẻ. Khi người dân quen với việc thanh toán các dịch
vụ, hàng hóa bằng tiền mặt họ sẽ có ít nhu cầu về thanh toán thông qua thẻ.
- Thu nhập của người dùng thẻ: thu nhập con người cao lên, những nhu cầu
của họ cũng ngày càng phát triển, việc thanh toán đối với họ đòi hỏi một sự thỏa
dụng cao hơn, nhanh chóng hơn, an toàn hơn. Việc sử dụng thẻ đáp ứng rất tốt nhu
cầu này. Hơn nữa, ngân hàng chỉ có thẻ cung cấp dịch vụ cho những người có một
mức thu nhập hợp lý, những người có thu nhập thấp sẽ không đủ điều kiện sử dụng
dịch vụ này.
- Môi trường pháp lý: việc kinh doanh dịch vụ thẻ tại bất kỳ quốc gia nào đều
được tiến hành trong một khuôn khổ pháp lý nhất định. các quy chế, quy định về thẻ
sẽ gây ra ảnh hưởng 2 mặt: có thể theo hướng khuyến khích việc kinh doanh và sử
dụng thẻ nếu có những quy chế hợp lý, nhưng mặt khác những quy chế quá chặt
chẽ, hoặc quá lỏng lẻo có thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực tới việc phát hành
hệ thống điện thoại-Telex…
- Định hướng phát triển của ngân hàng: một ngân hàng nếu có định hướng
phát triển dịch vụ thẻ thì phải xây dựng cho mình các kế hoạch, chiến lược
marketing phù hợp, tham gia khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, tìm mọi
cách để nâng cao tính tiện ích của thẻ cũng như sự thuận lợi cho người sử dụng thẻ
thì ngân hàng đó sẽ có thể mở rộng và phát triển việc kinh doanh thẻ một cách bền
vững và ổn dịnh.
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
1.2.7 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của NHTM
1.2.7.1 Rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ
*Đơn phát hành thẻ giả mạo: Do không thẩm định kỹ các thông tin khách
hàng cung cấp trên hồ sơ xin phát hành thẻ, ngân hàng có thể phát hành thẻ cho
khách hàng có đơn xin phát hành thẻ với các thông tin không chính xác hoặc giả
mạo. Những thông tin không chính xác hoặc giả mạo dẫn đến những khó khăn cho
ngân hàng khi muốn liên hệ với chủ thẻ, đặt ngân hàng trước nguy cơ tổn thất tín
dụng khi chủ thẻ sử dụng thẻ nhưng không có đủ khả năng thanh toán hoặc cố tình
lừa đảo để chiếm dụng tiền của ngân hàng.
* Thẻ giả: Thẻ giả là thẻ do các tổ chức hoặc cá nhân làm giả căn cứ vào các
thông tin có được từ việc đánh cắp những dữ liệu trên băng từ của thẻ thật từ các thẻ
mất cắp hoặc thất lạc. Thẻ giả được sử dụng sẽ gây tổn thất cho NHPH, vì theo quy
định của tổ chức thẻ quốc tế, NHPH chịu hoàn toàn trách nhiệm với mọi giao dịch
mang mã số PIN của NHPH. Đây là loại hình rủi ro có tỷ lệ cao, thường được tội
phạm thẻ sử dụng rộng rãi, phổ biến nhất.
* Thẻ mất cắp, thất lạc: Rủi ro xảy ra khi thẻ bị mất cắp, thất lạc và bị sử
dụng trước khi chủ thẻ thông báo cho ngân hàng phát hành để có các biện pháp xử
lý như chấm dứt sử dụng hoặc thu hồi thẻ. Thẻ bị mất cắp, thất lạc có thể bị tội
phạm thẻ sử dụng làm thẻ giả như những trường hợp thẻ giả kể trên (dập nổi, mã
hóa lại băng từ bằng các thông tin giả mạo). Đôi khi giả mạo do chủ thẻ gian lận, cố
giao dịch đã cố tình in nhiều hóa đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một hoá đơn
cho chủ thẻ ký. Sau đó nhân viên sẽ mạo nhận chủ thẻ hoàn tất giao dịch và nộp các
hóa đơn thanh toán còn lại để chiếm đoạt tiền của ngân hàng. Nhân viên của
ĐVCNT có thể sửa đổi hoá đơn, ghi tăng những giá trị giao dịch mà không được sự
đồng ý của chủ thẻ để lấy tiền tạm ứng của ngân hàng.
* Sao chép và tạo băng từ giả: Trên các thiết bị đọc thẻ tại ĐVCNT có thể bị
cài thêm thiết bị để thu thập các thông tin trên băng từ của thẻ thật, hoặc tổ chức tội
phạm còn có thể gắn các thiết bị ghi âm vào đường dây điện thoại truyền dữ liệu từ
máy EDC, máy ATM về hệ thống của ngân hàng nhằm mục đích đánh cắp dữ liệu,
sau đó giải mã để tạo thẻ giả.
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
* Các ĐVCNT có tỷ lệ rủi ro cao: Các ĐVCNT kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
có giá trị lớn, dễ chuyển đổi sang tiền mặt - là nơi tội phạm thường sử dụng thẻ giả
mạo. Các ĐVCNT thuộc loại có tỷ lệ rủi ro cao bao gồm:
Điểm ứng tiền mặt.
Các hàng hoá dịch vụ đặc biệt như sòng bạc, xổ số…
Kinh doanh vàng bạc, đá quý, đồng hồ cao cấp, phòng tranh.
Kinh doanh điện thoại di động, máy tính, thiết bị viễn thông, điện tử.
Kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bán hàng qua mạng, điện thoại, thư tín.
* Rủi ro tín dụng: Tính chất của thẻ tín dụng là chi tiêu trước trả tiền sau, khi
ngân hàng đồng ý phát hành thẻ cũng có nghĩa là cam kết cho chủ thẻ vay tiền, nếu
như chủ thẻ không thanh toán hoặc không đủ khả năng thanh toán các khoản chi
tiêu đó thì ngân hàng sẽ bị mất vốn. Nếu hiện trạng này xảy ra với số lượng và quy
mô lớn sẽ dẫn đến tình trang vỡ nợ, ngân hàng có thể dẫn đến phá sản như đối với
trường hợp cho vay không thu hồi được.
Ngoài ra còn có các rủi ro về kỹ thuật (là các rủi ro phát sinh khi hệ thống
quản lý thẻ có sự cố liên quan đến xử lý dữ liệu hoặc kết nối), rủi ro về nghiệp vụ
hay rủi ro về đạo đức…
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Phan Thị Hạnh
Chương 2
Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương
mại cồ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam –
Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
2.1.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt
Nam – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
2.1.1.1. Giới thiệu chung
TECHCOMBANK HOÀNG QUỐC VIỆT
Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà Thời báo kinh tế Việt Nam, 98 Hoàng
Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội .
Lãnh đạo: Nguyễn Ngọc Minh - Giám đốc
Điện thoại: 04 62670269
Fax: 04 62670265
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam, tên giao dịch quốc tế
là Vietnam Technological and Commercial Joint Stock Bank - Techcombank ra đời
ngày 27 tháng 9 năm 1993 với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng. Techcombank được
thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với cổ
đông lớn nhất là hãng Hàng không Việt Nam với tổng số vốn góp là 6 tỷ đồng.
Sau 20 năm hoạt động, từ một ngân hàng bậc trung, chưa có mấy tiếng tăm,
Techcombank nay đã trở thành ngân hàng nằm trong nhóm dẫn đầu cuả khối ngân
hàng cổ phần. Hiện nay, Techcombank đã có vốn điều lệ lên đến 6.932 tỷ đồng và
tổng tài sản lên trên 170.000 tỷ đồng (số liệu đến 31/12/2012). Với thương hiệu
Techcombank đã hấp dẫn các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước như HSBC,
Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, Vietnam Airlines, Bảo Việt Nhân Thọ,
Vinacontrol…
SV: Đỗ Ngọc Anh Lớp: TCQT 51B