MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Về mặt lý luận.
Ngày nay, chóng ta đang sống trong thời kỳ hợp tác, hội nhập và phát
triển với các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi phương diện. Để thực
hiện có hiệu quả sự hợp tác, hội nhập đó chúng ta đã và đang tiến hành CNH-
HĐH đất nước, sử dụng nền kinh tế tri thức, xây dựng xã hội văn minh với
những đòi hỏi rất cao về trí tuệ. Phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu mà toàn
xã hội đang hướng tới, trong đó vai trò của thế hệ trẻ không chỉ là lực lượng
tiên phong với bản lĩnh, năng lực, tri thức khoa học tiên tiến hiện, đại mà điều
quan trọng hơn là họ còn phải có khả năng độc lập, sáng tạo trong mọi lĩnh
vực của cuộc sống. Đứng trước những yêu cầu cấp bách đó nền giáo dục đang
phải chịu những sức Ðp hết sức nặng nề, đặc biệt là đối với hệ thống giáo dục
phổ thông. Nhiệm vụ cao cả là không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy,
nhanh chóng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã
hội và ngành giáo dục.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và các giải pháp trọng tâm cho
cho hệ thống giáo dục phổ thông nói riêng hiện nay, các nhà giáo dục đang
cùng toàn xã hội không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp,
phương tiện dạy học.
Mét trong những cấp học được quan tâm, chú trọng đầu tiên là cấp Tiểu
học và việc nâng cao chất lượng đội ngò giáo viên tiểu học là yếu tố quyết
định đóng vai trò “nền tảng”.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 đặt
ra mục đích cần có những thay đổi triệt để trong giáo dục. Mục đích này có ý
nghĩa nh mét tầm nhìn chiến lược được áp dụng cho cả hệ thống giáo dục từ
Trung ương đến địa phương.
1
Nhiệm vụ đổi mới giáo dục liên tục được đề ra trong các Nghị quyết của
Đảng và Quốc hội:
- Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền
của người giáo viên là yếu tố quyết định cho sự thành công của công tác giảng
dạy. Song việc xác định chính xác, đầy đủ, cụ thể các kỹ năng này đòi hỏi
những nhà giáo dục, nhà nghiên cứu giáo dục phải có trình độ chuyên môn và
phải có thời gian, có tâm huyết và đặc biệt để sử dụng thành thạo, linh hoạt,
sáng tạo và có hiệu quả các kỹ năng này lại là một việc khó hơn. Hiện nay
trước bối cảnh nền giáo dục của chúng ta đang có những chuyển biến mạnh
mẽ về quan điểm, đường lối và cách thức thực hiện, cụ thể là đổi mới chương
trình sách giáo khoa cho các cấp học, từ năm học 2002 – 2003 thì việc người
giáo viên tiếp cận, lĩnh hội những thay đổi đú cũn nhiều khó khăn và sẽ không
tránh khỏi những bất cập.
Một mặt do tính chất mới mẻ, hiện đại, đa dạng của chương trình mới;
mặt khác do công tác tập huấn, chuẩn bị chưa đồng bộ, chưa khoa học, trong
thời gian ngắn nên giáo viên chưa tiếp thu lĩnh hội hết tinh thần, nội dung của
chương trình dẫn đến việc chưa đáp ứng yêu cầu.
Thực tế giáo dục cho thấy rằng, trình độ đào tạo và năng lực của đội ngò
giáo viên Tiểu học ở nước ta còn nhiều hạn chế; mặc dù tỉ lệ giáo viên giỏi
hiện nay tăng lên đáng kể so với những năm trước đây song chất lượng chưa
cao và chưa đồng đều, phương pháp dạy học của giáo viên còn lạc hậu, việc
đổi mới phương pháp chưa đi vào chiều sâu, đội ngò giáo viên già hoá.
Nguyên nhân của thực trạng này là do trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa
cao, chưa đồng đều, chưa đi sâu rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cụ
thể trờn lớp.
3
Trước thực tế đó, để cú thờm cơ sở khoa học cho việc đánh giá kết quả
chương trình đổi mới nội dung sách giáo khoa của cấp Tiểu học, đặc biệt là
đánh giá các kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học tụi đó chọn đề
tài nghiên cứu “Thực trạng kỹ năng dạy học trờn lớp của giáo viên Tiểu học
Yên Dũng – Bắc Giang theo yêu cầu của chương trình mới”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng kỹ năng dạy học
6. Phạm vi nghiên cứu
Kỹ năng dạy trờn lớp của giáo viên là một trong những yếu tố quyết định
sự thành công của công tác giảng dạy và giáo dục. Việc hình thành, rèn luyện
các kỹ năng này đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc mục tiêu, nội dung
chương trình, phương pháp của cấp học; phải có sự say mê, nhiệt tình, lòng
yêu nghề, mến trẻ…
Trong đề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 126 giáo viên Tiểu học
của 9 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.
Song do điều kiện và thời gian hạn hẹp đề tài chỉ tiến hành điều tra thực
trạng kỹ năng dạy trờn lớp của giáo viên Tiểu học theo yêu cầu của chương
trình mới.
7. Phương pháp nghiên cứu
7. 1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan, sắp xếp lại thành hệ thống và
phân loại hệ thống các tài liệu đó.
7. 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7. 2. 1. Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát trực tiếp quá trình tổ
chức dạy học trờn lớp của giáo viên.
7. 2. 2. Phương pháp điều tra.
5
- Thông qua phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với giáo viên, cán bộ quản
lý, phụ trách chuyên môn.
- Phỏng vấn, trò chuyện với học sinh
- Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi
7. 2. 3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
- Thông qua hồ sơ, giáo án giảng dạy, kế hoạch giảng dạy, biên bản dự
giê, thu hoạch cá nhân.
- Thông qua sản phẩm của học sinh.
7. 2. 4. Phương pháp chuyên gia.
Qua trao đổi trực tiếp, hội thảo khoa học để hỏi ý kiến các chuyên gia.
động dạy học của giáo viên ụng đó phân chia năng lực sư phạm thành cỏc
nhúm:
- Nhúm các năng lực dạy học
- Nhúm các năng lực thiết kế
- Nhúm các năng lực tri giác
7
- Nhúm các năng lực truyền đạt
- Nhúm các năng lực giao tiếp
- Nhúm các năng lực tổ chức [19, tr . 226- 227]
Ông kết luận rằng: các năng lực đó không chỉ là điều kiện để hoạt động
giáo dục đạt hiệu quả mà nó còn là kết quả của chính hoạt động giáo dục đú.
Cỏc năng lực này sẽ được hình thành, phát triển trong quá trình “hành nghề”
của giáo viên và để có được những năng lực này thì việc đầu tiên mà mỗi giáo
viên cần làm là rèn luyện các kỹ năng cơ bản khác nhau. Sự hình thành các kỹ
năng đó là sự nắm vững cả một hệ thống phức tạp các thao tác, phát hiện và
cải biến thông tin chứa đựng trong các tri thức và tiếp thu được từ đối tượng,
đối chiếu và xác lập quan hệ của thông tin với các hành động. Các kỹ năng
này được hình thành trên cơ sở lĩnh hội các khái niệm về các mặt và các thuộc
tính khác nhau của đối tượng đang được nghiên cứu. Các kỹ năng cơ bản đó
bao gồm: các kỹ năng chung và các kỹ năng này có vai trò quan trọng nhất.
+ Kỹ năng, kỹ xảo thông tin
+ Kỹ năng, kỹ xảo động viên
+ Kỹ năng, kỹ xảo phát triển
+ Kỹ năng, kỹ xảo định hướng [19, Tr. 221- 223]
N. V. Cudơmina cũng nghiên cứu về những biểu hiện của năng lực sư
phạm bằng cách quan sát các hoạt động của người giáo viên và bà đã đi đến
kết luận: các năng lực dạy học và các năng lực khác của con người đều có
liên quan đến nhau và năng lực được hình thành từ các kỹ năng trong hoạt
động sống, nếu người giáo viên biết vận dụng các kỹ năng khác nhau này
trong hoạt động sư phạm thì sẽ mang lại kết quả tốt. Nh vậy, bà khẳng định kỹ
năng lực này được tạo thành bởi các kỹ năng khác nhau và được rèn luyện
trong quá trình thực hiện hoạt động sư phạm.
9
Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ đi vào nghiên cứu các kỹ năng với tư
cách là những thao tác kỹ thuật giúp cho giáo viên thực hiện hoạt động dạy
học nói chung đạt hiệu quả mà chưa đi sâu nghiên cứu các khái niệm, năng
lực cụ thể của người giáo viên tiểu học ở các điều kiện kinh tế, chính trị, xã
hội khác nhau.
Hơn thế nữa, việc vận dụng các kỹ năng dạy học khác nhau trờn lớp,
trong từng bài, từng tiết học cụ thể đũi hỏi nhiều phẩm chất và năng lực hơn ở
người giáo viên, đặc biệt là giáo viên Tiểu học.
1. 1. 2. Một số nghiên cứu trong nước.
Khi nghiên cứu về năng lực nói chung và năng lực sư phạm nói riêng, rất
nhiều nhà Tâm lý học- Giáo dục học và những người quan tâm nghiên cứu
đến con người, đến thế hệ trẻ, đến “nguyờn khớ quốc gia” đó cú chung mét
quan điểm “năng lực, khả năng của con người là một trong hai thành tố quan
trọng của nhõn cỏch” cũng như “năng lực của người giáo viên sẽ quyết định
sự thành công của công tác sư phạm.” [8, tr. 6- 19]
* Phạm Minh Hạc cho rằng: sự thành công trong việc dạy học và giáo
dục học sinh đòi hỏi người giáo viên phải có thế giới quan tiên tiến, những
phẩm chất đạo đức cao quý, trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
cao, trình độ văn hoá chung và xu hướng sư phạm.
Ông phân biệt năng lực sư phạm và kỹ năng sư phạm. Năng lực là thuộc
tính, là đặc điểm của nhân cách; kỹ năng là những hành động riêng lẻ được
đánh giá về mặt thao tác của hành động sư phạm. Ông viết “tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo là chất liệu để tạo thành năng lực tương ứng, không có tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo thì không có năng lực, tuy chúng không đồng nhất với nhau.
Năng lực chính là tổ hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân tiếp nhận hoặc sử dụng
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vào một hoạt động nào đú” [11, tr. 35].
Khi nghiên cứu cấu trúc năng lực sư phạm, ông chia thành 3 nhóm:
của sự phát triển đó; những nhu cầu cần được giáo dục với từng em.
+ Nhóm năng lực đáp ứng: bao gồm các năng lực đưa ra nội dung, biện
pháp giáo dục đáp ứng đúng đắn, kịp thời nhu cầu của người học tạo hứng
thó, động lực thúc đẩy sự phát triển của học sinh.
+ Nhóm năng lực đánh giá: là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận
thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của học sinh, từ đó chuẩn đoán, hình thành
năng lực tự đánh giá ở học sinh.
+ Nhóm năng lực thiết lập mối quan hệ tốt với người khác, nhất là với học sinh.
+ Nhóm năng lực triển khai chương trình dạy học: là những năng lực tiến
hành dạy học, giáo dục căn cứ vào mục đích, nội dung của chương trình phù
hợp với đặc điểm của từng đối tượng học sinh.
+ Nhóm năng lực đáp ứng trách nhiệm với xã hội, tạo điều kiện thuận lợi
cho giáo dục trong nhà trường và ngoài xã hội. [8, tr. 10- 11]
* Nhóm tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng đã chỉ
ra được những đặc điểm lao động của người thầy và cấu trúc nhân cách của họ
“núi đến năng lực là nói đến mặt hiệu quả của tác động vào con người, vào sự
việc như thế nào và đem lại hiệu quả gì? ”. Dùa vào chức năng đặc trưng của
người thầy giáo là dạy học và giáo dục, nhóm nghiên cứu này đã phân chia
năng lực sư phạm thành 3 nhóm:
- Nhóm năng lực dạy học: gồm năng lực hiểu học sinh, năng lực chế biến
tài liệu học tập, tri thức và tầm hiểu biết, năng lực nắm vững kỹ thuật dạy học
và năng lực ngôn ngữ.
- Nhóm năng lực giáo dục: năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học
sinh, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hoá học sinh, năng lực khéo
léo ứng xử sư phạm.
12
- Nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm: thể hiện ở chỗ tổ chức
và cổ vũ học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác ở trên líp cũng như ở ngoài
trường, nội khoá cũng như ngoại khoá, cho từng học sinh cũng như cho tập
thể; biết đoàn kết học sinh thành tập thể lành mạnh, thống nhất, có kỷ luật, nề
môn học ở cấp học.
Giáo viên Tiểu học là người tổ chức quá trình phát triển của trẻ em, tức là
tổ chức, hướng dẫn cho mỗi học sinh tự hoạt động để lĩnh hội cái cần học và
cách học. Việc tổ chức cho học sinh tiến hành hoạt động học tập ở từng tiết
học phụ thuộc vào loại tiết học và nội dung cụ thể của từng tiết học đó. Ở cấp
Tiểu học, ngoài các môn học bắt buộc, học sinh cũn cú một số môn tự chọn
như Ngoại ngữ, Tin học. Hầu hết trong các trường Tiểu học, tất cả các môn
học bắt buộc đều do một giáo viên giảng dạy (trừ một số Ýt trường có giáo
viên chuyên dạy Hát- Nhạc, Mỹ thuật, Thể dục), vì vậy người giáo viên Tiểu
học không chỉ phải huy động các năng lực chung như: năng lực tổ chức các
hoạt động sư phạm, năng lực giao tiếp, năng lực học tập… mà còn phải huy
động các năng lực chuyên biệt như: năng lực Toán, năng lực Tiếng Việt, năng
lực Âm nhạc, năng lực Hội hoạ… trong các buổi lờn lớp của mình.
- Lao động của người giáo viên Tiểu học là lao động bận rộn.
Ở các cấp học khác, mỗi tuần giáo viên chỉ lo giảng đủ một số tiết theo
quy định chung, cũn cỏc công tác khác là của giáo viên chủ nhiệm- người
được giảm đi một số tiết trong tuần để làm công việc quản lý học sinh. Ở cấp
Tiểu học, người giáo viên vừa phải dạy tất cả các bộ môn, vừa phải làm công
tác giáo dục trẻ em với tư cách là một giáo viên chủ nhiệm. Vì vậy, họ phải
làm tất cả các công việc, từ việc tìm hiểu học sinh, đọc sách bỏo, cỏc tài liệu
tham khảo, soạn giảng, làm đồ dùng dạy học, tiến hành giảng dạy và tổ chức
các hoạt động thực hành, vui chơi múa hát, thể dục thể thao, chấm bài, phụ
14
đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh khá giỏi đến việc xử lý các sự việc, tình
huống sư phạm, quan hệ với cha mẹ học sinh và chính quyền địa phương…
Ngoài ra, để thực hiện phổ cập giáo dục cấp Tiểu học, giáo viên Tiểu học còn
phải tham gia công tác xoá mù chữ, chống tái mù chữ, tham gia một số hoạt
động chuyên môn khác của nhà trường. Đa số giáo viên Tiểu học cho biết họ
phải làm việc ở nhà vào tất cả các buổi tối và vào các ngày nghỉ. Với những
trường đã thực hiện việc học hai buổi một ngày, giáo viên càng bận rộn hơn.
định, tin vào điều mình làm cho dù kết quả của nó chỉ thể hiện trong tương
lai, phải trung thành với lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng đấu tranh vì lý tưởng
đó.
+ Mặt khác, lòng yêu nghề phải được nhân lên gấp bội vì lòng yêu trẻ, vì
tình yêu tuổi thơ, sự âu yếm và cảm tình với lứa tuổi đang phát triển. Đó là 2
yếu tố tạo nên sự tận tâm, tính kiên nhẫn, lòng độ lượng đồng thời với sự
cương quyết cần thiết của bất cứ người giáo viên nào có trách nhiệm.
+ Cú óc tò mò khoa học, ham thích quan sát, có nhu cầu mở rộng vốn tri
thức và nâng cao tầm hiểu biết, có kỹ năng để làm thoả mãn những nhu cầu
đó. Có phương pháp tự học, có ý thức phê phán đối với ý kiến của người
khác, có quan điểm riêng của bản thân một cách rõ ràng, có nhu cầu luôn đổi
mới… Những yếu tố đú giỳp cho người giáo viên dễ hoà nhập với học sinh và
thích ứng với sự thay đổi của nền văn minh nhân loại.
+ Luôn luôn tươi trẻ về tâm hồn, có lòng vị tha, tốt bụng, có uy tín với
học sinh.
Ngược lại những biểu hiện sau sẽ không phù hợp với người giáo viên:
• Sự xơ cứng về trí tuệ biểu hiện trước hết ở sự lười biếng và
thãi quen làm việc theo đường mòn, không sáng tạo.
• Những biểu hiện của sự thay đổi quá mạnh mẽ trong thái
độ, hay mất bình tĩnh.
16
• Những biểu hiện quá rụt rè, yếu đuối hoặc quá rộng lượng
hoặc quá uy quyền, lắm tham vọng, thích thể hiện quyền lực đối với người
khác [8, tr. 16]
- Những yêu cầu về năng lực:
Cùng với các phẩm chất trên, với chức năng là người tổ chức, hướng dẫn
quá trình học tập chủ động, sáng tạo của học sinh và để tiến hành có hiệu quả
các hoạt động sư phạm, người giáo viên Tiểu học cần có những năng lực cần
thiết thuộc cỏc nhúm năng lực sau:
+ Năng lực chẩn đoán
- Về kỹ năng sư phạm:
+ Biết lập kế hoạch bài học.
+ Biết tổ chức hoạt động dạy học theo hướng đổi mới phương pháp đảm
bảo thực hiện được các mục tiêu của bài học.
+ Biết làm công tác chủ nhiệm líp và tổ chức các hoạt động giáo dục nh
sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lờn lớp, hoạt động của đội thiếu niên và
sao nhi đồng.
+ Biết giao tiếp, ứng xử với học sinh, cha mẹ học sinh, đồng nghiệp và
cộng đồng.
+ Biết lập hồ sơ, lưu giữ hồ sơ và sử dụng hồ sơ vào việc giảng dạy và
giáo dục học sinh. [8, tr. 16- 19].
1. 3. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1. 3. 1. Kỹ năng
- Kỹ năng là vấn đề hết sức phức tạp, các nhà Tâm lý- Giáo dục đó cú
những quan niệm khác nhau về kỹ năng cũng như mối quan hệ giữa kỹ năng,
kỹ xảo với các thành tố tâm lý khác. Tuy nhiên, tất cả những quan niệm này
chỉ có tính chất mở rộng hoặc thu hẹp khái niệm mà thôi.
18
- Quan niệm nghiêng về mặt kỹ thuật, thao tác của hành động với đại
diện là A. G. Cụvaliốp.
Tác giả này cho rằng “con người nắm vững được cách thức hoạt động,
tức có kỹ thuật hành động là có kỹ năng” [19, tr. 14].
Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và
điều kiện không cần đến kết quả.
Còng theo quan niệm này, tác giả Trần Trọng Thuỷ tán thành: con người
thực hiện hành động theo một cách thức nhất định và sử dụng các thao tác kỹ
thuật khác nhau nhằm đạt được mục đích thì được đánh giá về mặt kỹ năng.
Bản thân khái niệm kỹ năng đã được kỹ thuật hoá thành các thao tác cụ
thể của hành động và việc thực hiện kỹ năng mang tính chất kỹ thuật, rập
khuôn máy móc, vì thế việc hình thành và rèn luyện kỹ năng cũng gần giống
biện chứng ở những khía cạnh, dạng thức nhất định. Vì vậy, rất dễ dẫn tới
việc xem xét, nhìn nhận nhầm lẫn giữa hai khái niệm này.
Còng theo tác giả: một năng lực tương ứng với không chỉ kỹ năng mà
còn tương ứng với tri thức và khả năng, kỹ năng là hình thái “kộp” của các
loại năng lực. Kỹ năng có bản chất tâm lý, có hình thức vật chất là hành vi
hoặc hành động nhưng nếu hiểu năng lực thuần tuý theo nghĩa tâm lý học thì chưa
đủ.
+ Năng lực là mức độ được việc có thể có.
+ Kỹ năng là thực sự được việc. [18, tr 45-52]
Các nhà Giáo dục học thì phân chia kỹ năng thành 2 bậc I và II.
- Kỹ năng bậc I là khả năng thực hiện đúng hành động, hành động phù
hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể khi tiến hành hành động Êy cho
dù là hành động trí tuệ hay hành động kỹ thuật thao tác.
20
- Kỹ năng bậc II là khả năng thực hiện hành động thành thạo, linh hoạt,
sáng tạo vì thế để có kỹ năng bậc II phải có kỹ năng bậc I và kỹ xảo.
Vì vậy người ta cũng thường hay đồng nhất kỹ năng bậc II và kỹ xảo. Để
phân biệt rõ điều này chúng ta phải tách rời 2 loại kỹ năng và đặt chúng trong
những tình huống cụ thể.
Những quan niệm về kỹ năng có thể theo phương diện thao tác kỹ thuật
hoặc thiên về mặt năng lực thì cuối cùng đều khẳng định kỹ năng là một thành
tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động của mỗi cá nhân, nú giỳp cho
hoạt động diễn ra có kết quả.
Đồng thời các quan niệm này chỉ là sự mở rộng hoặc thu hẹp khái niệm.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng khái niệm “kỹ năng” theo quan
niệm của tác giả K. K. Platụnốp “kỹ năng là khả năng của con người thực
hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh
nghiệm cũ” [19, tr. 18].
1. 3. 2. Kỹ năng dạy học
1. 3. 2. 1. Khái niệm.
động cụ thể, do đó đòi hỏi người giáo viên cần có kỹ năng vận dụng tri thức
chuyên môn, nghiệp vụ vào giao tiếp, quản lí, tổ chức, điều chỉnh các hoạt
động theo đúng kế hoạch đã đặt ra. Cụ thể giáo viên cần có:
+ Kỹ năng ổn định tổ chức líp
+ Kỹ năng vào bài bằng cách lôi cuốn sự chú ý của học sinh
+ Kỹ năng trình bày nội dung bài giảng trên cơ sở vận dụng phương
pháp, phương tiện hợp lí
+ Kỹ năng củng cố bài giảng, khắc sâu vấn đề, kiến thức trọng tâm
+ Kỹ năng đặt câu hỏi và ra bài tập về nhà
22
+ Kỹ năng đánh giá, kiểm tra học sinh
* Nhóm kỹ năng giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học:
Là sự đánh giá cả một quá trình chứ không đơn thuần là sự đánh giá kết
quả của mỗi người. Vì vậy đánh giá còn nhằm đề xuất những ý kiến làm thay
đổi thực trạng, giúp học sinh có kỹ năng tự đánh giá. Đánh giá phải khách
quan, trung thực, phản ánh đúng thực lực và bằng những phương tiện kỹ thuật
hỗ trợ hiện đại.
* Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học:
Nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹ năng phát hiện vấn đề, phát hiện
những mâu thuẫn trong lí luận và thực tiễn; biết tìm ra những mâu thuẫn nổi
cộm, những vấn đề có tính cấp thiết, từ đó xây dựng giả thuyết khoa học, đề
cương nghiên cứu, phiếu điều tra thực nghiệm sư phạm, xử lý, đánh giá kết
quả nghiên cứu, phân tích rút kinh nghiệm…
* Nhóm kỹ năng tổ chức các hình thức dạy học khác:
Cụ thể, giáo viên cần có kỹ năng hướng dẫn học sinh tự học, thảo luận,
học tập theo nhóm, ngoại khoá, kỹ năng hướng dẫn thực hành, thí nghiệm…
1. 3. 3. Kỹ năng dạy học trờn lớp.
1. 3. 3. 1. Hình thức lờn lớp.
Hình thức lờn lớp là hình thức tổ chức dạy học tập thể theo líp, mỗi lớp
cú một số học sinh nhất định thuộc cùng một lứa tuổi, có trình độ nhận thức
tõm lớ học, giáo dục học và vệ sinh học đường.
- Đảm bảo được sự thống nhất trong phạm vi toàn quốc về các mặt kế
hoạch và nội dung dạy học. Tạo ra được điều kiện thuận lợi cho việc bồi
dưỡng tinh thần tập thể còng nh những phẩm chất đạo đức khác cho học sinh.
* Hình thức lờn lớp cũng có những nhược điểm sau:
- Học sinh không có đủ thời gian để nắm vững toàn bộ tri thức, kĩ năng
và kĩ xảo.
24
- Giáo viên không có điều kiện để chú ý đầy đủ đến đặc điểm nhận thức
riêng biệt của từng học sinh.
- Khó có điều kiện để thoả mãn nhu cầu nhận thức rộng rãi và sâu sắc về
những tri thức vượt ra ngoài phạm vi nội dung chương trình của học sinh.
Do vậy cần nhận thức được rằng lờn lớp tuy là hình thức dạy học cơ bản
nhưng vẫn cần có sự hỗ trợ của các hình thức dạy học khác.
1. 3. 3. 2. Việc chuẩn bị lờn lớp.
Tiến hành công tác dạy học cần theo những yêu cầu nhất định, vừa đảm
bảo tính khoa học, nghệ thuật vừa đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo. Để làm
được điều này cần chuẩn bị chu đáo khi lờn lớp và nó không chỉ cần cho
những giáo viên trẻ, mới vào nghề mà cả đối với những giáo viên lâu năm, có
kinh nghiệm.
Việc chuẩn bị lờn lớp là sự chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng
học kì và từng môn học, tiết học cụ thể.
Trước hết cần tìm hiểu học sinh lớp mỡnh giảng dạy về kết quả học tập-
giáo dục, thái độ, phong trào học tập, tu dưỡng của líp, đặc điểm tõm lớ chung
của líp và những học sinh cá biệt, phong cách sư phạm của những giáo viên
đã và đang dạy lớp đú. Trờn cơ sở đó đề ra những yêu cầu hợp lý đối với học sinh.
Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung tài liệu dạy học, thu thập, lùa chọn
tài liệu cho từng tiết học, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy
học thích hợp.
Tìm hiểu những phương tiện dạy học hiện có, xây dựng kế hoạch, tạo