Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay,khi đất nước thống nhất thì nhu cầu hướng về cội nguồn
của con người ngày càng lớn. Do đó nghiên cứu,tìm hiểu về dòng họ một mặt
thể hiện đạo lý “ uống nước nhớ nguồn”. Đồng thời qua quá trình nghiên
cứu,truyền thống văn hoá dòng họ. của dân tộc từng bước được khẳng định.
Dòng họ là một hiện tượng lịch sử nên có sản sinh,có vinh thăng,có
suy thoái,thậm chí có khi không tồn tại nữa. Nhưng cũng có những dòng họ
được cả vùng hay cả nước biết đến,thường những dòng họ này có nhiều đóng
góp cho lịch sử dân tộc và thường có những nhân vật “tiờu biểu”. Các dòng
họ ở Nghệ An vốn có truyền thống cần cù lao động và đoàn kết theo tinh thần
thương thân tương ái,có ý chí mạnh mẽ và thông minh. Đã từng sát cánh bên
nhau đấu tranh oanh liệt để bảo vệ Tổ quốc,quê hương xóm làng. Trong các
dòng họ đó có họ Phan ở đất Đông Thành (Yên Thành - Nghệ An) trong suốt
chiều dài lịch sử (từ thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XX) đã đóng góp sức người
sức của,phục vụ cho chính nghĩa,cho công bằng xã hội. Truyền thống yêu
nước và anh hùng của dòng họ cần được làm sáng tỏ để thế hệ con cháu được
tự hào về tổ tiên mình,trên cơ cơ đó từng bước học tập và phát huy. Trong
thực tế,dòng họ này có nhiều đóng góp lớn cho lịch sử dân tộc cống hiến
nhiều nhân tài cho đất nước,đặc biệt ở thời kỡ Lờ Trung Hưng. Do đó nghiên
cứu về dòng họ Phan ở Đông Thành (Yên Thành - Nghệ An) giúp chúng ta
nhận thức đúng đắn hơn về gia tộc,cộng đồng và mối quan hệ giữa các dòng
họ. Trên cơ sở đó phát huy những mặt tích cực,hạn chế những mặt tiêu
cực,góp phần củng cố mối đoàn kết toàn dân. Bởi vậy,tôi xin chọn đề tài “
Tìm hiểu về dòng họ Phan trên đất Đông Thành (Yên Thành- Nghệ An) từ thế
kỉ XV đến thế kỉ XX” làm bài tiểu luận của mình.
Từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quá trình phát
triển “Dũng họ Phan ở đất Đông Thành từ thế kỉ XV đến thế kỉ XX”. Trên
thực tế,con cháu hội đồng gia tộc họ Phan và một số nhà khoa học đó cú
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
TRấN ĐẤT ĐễNG THÀNH (YấN THÀNH - NGHỆ AN)
TỪ THẾ KỈ XV ĐẾN THẾ KỈ XX
1. Vài nét về mảnh đất và con người Đông Thành (Yên Thành - Nghệ An)
1.1 Hình thành địa danh.
Huyện Yên Thành được thành lập tách từ huyện Đông Thành,phủ Diễn
Châu từ năm 1837,huyện Đông Thành tách ra làm hai huyện Đông Thành và
Yên Thành. Trong đó huyện Yên Thành nằm ở phía Tây,huyện Đông Thành
nằm ở phía Đông,đều thuộc phủ Diễn Châu.
1.2. Địa hình và điều kiện tự nhiên;
1.2.1.Địa hình:
Yên Thành nằm vè phía Đông Bắc tỉnh Nghệ An,cách thành phố Vinh 55
km vè phía Bắc,phía Đông giáp huyện Diễn Châu và Quỳnh Lưu,phía Nam
giáp huyện Nghi Lộc và Đô Lương. Huyện có diện tích là 56.204ha trong đó
đất canh tác chiếm 29%. Địa hình Yên Thành không bằng phẳng,ba phía
Bắc,Tây,Nam đều là đồi núi,chỉ có phía Đông là đồng bằng. Đồng bằng có độ
nghiêng lớn,mặt cắt dài nên quá trình mài mòn rủa trôi nhanh,đất ít màu mỡ.
1.2.2. Khí hậu:
Khí hậu và thời tiết tương đối phức tạp,thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm gió
mùa,nhiệt độ trung bình hằng năm 23 độ C,lượng mưa lớn,bão lũ nhiều. Mùa
hè nóng,có gió Tây Nam thổi vào,tạo nên khí hậu khô lạnh. Mùa đông lạnh,có
gió mùa Đông Bắc xâm nhập vào,nhiệt độ hạ đột ngột,mưa kéo dài trong
nhiều ngày.
1.3. Truyền thông văn hoá của cư dân Yên Thành:
Tuy cuộc sống chật vật khó khăn nhưng nhân dân Yên Thành luôn ra sức
xây dựng cho mình cuộc sống yêu đời,lạc quan hoà đồng với tất cả mọi
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
người. Nhân dân Yên Thành thường tổ chức các trò chơi mang tính dân gian
như: đánh đu,chọi gà,đấu vật vào những ngày nông nhàn rỗi. Hiếu học là một
trường Quốc Tử Giám. Lúc này Hồ Quý Ly lấn quyền,có ý chiếm đoạt ngôi vua.
Hồ Quý Ly mời ông làm quan nhưng ông từ chối không nhận. Ông xin vua Trần
bổ nhiệm làm chánh sứ doanh điền tại vùng Thượng Du,Thanh Hoá.
Căn cứ theo Phổ ký Tràng Thành cũng như Phổ ký Bắc Thành (Yên
Thành),ông Phan Võn cú ba anh em. Gặp phải loan,Hồ Quý Ly lấn ngôi nhà
Trần,cả ba anh em đều phải ẩn tránh,mỗi người một nơi. Người em thứ hai
vào huyện La Sơn (Hà Tĩnh),người em thứ ba lên tỉnh Sơn Tây,cũn ông là con
trưởng ở lại Phủ Lý thuộc huyện Đông Sơn (Thanh Hoá),lánh vào xã Tiền
Thành Châu Hoan,yên cư ở đó,nơi ông ở vì thế gọi là thụn Chỏnh Sứ.
Căn cứ đối chiếu vào các tư liệu chính sử thỡ ụng Phan Vân có thể là
con ông Phan Nghĩa. Ông Phan Nghĩa làm tu sử (biên soạn quốc sử).
Tháng 10 năm Tân Hợi,vua Trần Nghệ Tông lấy ông làm lang trung bộ
Lễ. Năm Quý Hợi Xương Phù thứ 7 (1383),vua Chiêm Thành đánh ta,đã
chiếm đóng kinh thành Thăng Long,vua tôi nhà TRần phải dời sang đóng ở
núi Lam Khê (tức núi Phật Tích ở huyện Tiên Du,tỉnh Bắc Ninh). Thượng
hoàng Nghệ Tông sai Phan Nghĩa và hai triều Quan thay nhau dạy vua (tức
Tràn Đế Hiện) học. Cuối năm ấy,giặc Chiêm Thành rút về,vua va các quan lại
quay về Thăng Long.
Lúc này Hồ Quý Ly đã nắm hết quyền bính trong tay,được Thượng
Hoàng Nghệ Tông tin dựng,nờn ra vào triều không kiêng nể gỡ ai.Thỏng 8
năm 1388,vua Trần Đế Hiện cựng Thỏi uý Ngạc và một số triều quan cận
thần tìm cách trừ khử Hồ Quý Ly,khụng ngờ mưu ấy lại bại lộ.Hồ Quý Ly
bèn tìm cách dốm pha,núi xấu nhà vua và tâu với Thượng Hoàng Nghệ
Tụng,Thượng Hoàng Nghệ Tông nghe theo bèn hạ chức vua xuống làm Linh
Đức Vương,lập người con khác tên là Ngang mới 12 tuổi lên thay,đú chính là
vua Thuận Tông.Vua Trần Đế Hiện bị đưa xuống phủ Thái Đường rồi bị Hồ
Quý Ly sai người treo cổ chết,năm đó vua 26 tuổi,sử gọi là Trần Phế Đế.
Các triều quan theo nhà vua đều bị Hồ Quý Ly giết hại,Phan Nghĩa nắm
bắt được tin ấy liền cùng người con thứ 2 chạy trốn,vào ẩn náu tại huyện La
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
Kiểu,Phan Hoằng Nậm biên soạn vào tháng 2 năm 1998,trong khoảng thời
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
gian từ 1398 đến thế kỷ XX dòng họ Phan đã trải qua 23 đời,42 chi và 7000
hộ và có đến 3 nhà thờ lớn ở Yên Thành. Ở đây dòng họ Phan đã phát triển
thành 2 nhỏnh,nhỏnh trưởng định cư ở xã Hạ Thành(Hoa Thành,Nghệ
An),nhỏnh thứ định cư ở làng Hào Kiệt, xã Vĩnh Thành,Yờn Thành.
Như vậy, từ thuỷ tổ Bái Dương Hầu Phan Võn,dũng họ Phan đã trải qua
hơn 600 năm phát triển thành nhiều chi nhánh lớn nhỏ, từ Kẻ Rộc lan ra các
huyện, các tỉnh, lớp hậu duệ của ngài đã sống xứng đáng với thuỷ tổ của
mỡnh.Dũng họ Phan đã trở thành một dòng họ lớn,con cháu ngày càng phát
triển phồn thịnh, có truyền thống hiếu học, tinh thần yêu nước,con cháu họ
Phan ngày nay càng tô điểm thêm truyền thống tốt đẹp đó của cha ông.
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
Chương 2
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DÒNG HỌ PHAN Ở ĐÔNG THÀNH
(YÊN THÀNH – NGHỆ AN) ĐỐI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC
TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XX
Lịch sử phát triển của dòng họ Phan từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX gắn
liền với các triều đại phong kiến từ thời Lê sơ đến cuối thời Nguyễn. Trải qua
quá trình lịch sử gần 600 năm,dòng họ Phan đã có những đóng góp to lớn đối
với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc,nhiều con cháu đã hy sinh
cả đời mình cho đất nước vẻ vang.
2.1. Thời trung đại
2.1.1. Thời Lê
2.1.1.1. Thời Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
Thủy tổ Phan Vân là người nổi bật nhất trong thời kỳ này. Ông là người
văn,học vấn uyên bác cổ kim,được kinh giảng kinh sách cho vua) lầ Liên Hoa
Phan Cảnh Nho đã chép trong phổ ký các sự kiên trên theo lối rẽ bút,rồi sau
đó được con cháu họ Phan Vân chi Tràng Thành chép lại như sau : ông húy là
Vân,nguyên vốn là ngưòi Hoằng Hóa,trấn Thanh Hóa,đậu hương cống,khoa
thi Đinh Mão (1387) đời Trần Phế Đế nhưng không ra làm quan,về sau gặp
loạn giặc Minh, bèn rời vào Châu Hoan,xã Tiền Thành Èn cư,kịp đến lúc vua
Lê Thái Tổ thừa lệnh phái lập đồn điền, được thăng chức chánh sứ sơn phòng,
thiết lập doanh cư ngay tại xã đó.
Mùa xuân năm Ất Tỵ(1425),đại quân Lam Sơn tiến dọc triền Lam
Giang xuống tới huyện Thổ Du. Lê Lợi hạ lênh cho nghĩa quân,kể cả dân binh
trong nghĩa quân, đồng loạt lấn chiếm lại các huyện châu thuộc trấn Nghệ An
ở vị trí phía đông đường sơn cước. Yên Thành bang cách nơi chỉ huy và trại
dân binh “doanh cư” của Phan Vân 10km đã bị tiêu diệt. Giảỉ phóng được
phía đông huyện Đông Thành (sau này lại thuộc Diễn Châu) tạo điều kiện
khai thông từ vùng núi đường sơn cước phía tây xuống giáp biển Đông thuộc
hải phận Diễn Châu ngày nay.
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
Theo “ Đại việt sử ký toàn thư”thì “ các châu huyện đều thu phục
được,duy chỉ có Nghệ An và Diễn Châulà chưa hạ”.Ở đây ta cần chú ý rằng
việc đánh chiếm các châu huyện Êy chính nhà Lê không thể chếp hết và do
đó,ngay trong “Đại Việt sử ký toàn thư”của cỏc nhà sử thần nhà Lê do Ngô
Sỹ Liên đứng đầu vẫn chỉ chép tổng quát tình thế chiến sự lúc đó chứ không
ghi danh tính đích thực của một vị chỉ huy nào,kể cả chánh sứ sơn phòng
Phan Vân vốn chịu hai trách nhiệm lớn vừa nờu tên đối với nghĩa quân Lam
Sơn khi phương án chiên lược của Nguyễn Chích đang được thực hiện kip
thời với hiệu quả lớn . Nhưng sự tích anh hùng của Cỏc vị chỉ huy Êy được
nhắc nhở bằng một tên gọi,một địa danh “đồng chỉ huy”
Lúc quuân Minh mở cửa thành ra tiếp nhận thuyền lương thì bị tập
ngôi hoàng đế,sáng lập ra tiều đại Hậu Lê. Khi xét công ban thưởng,các tướng
được giao chức mới và gắn liền với đất phong (thường là tên một một vùng
nào đó ). Sau đó,đến lượt những người không được giao chức mới nhưng vẫn
phong tước,vì có công lao lớn gọi là tản quan. Và vì thế tước phong không
theo huỵên,tên đất mà chỉ nào mà chỉ chọn một cặp bẩy từ có ý nhĩa khẳng
định đức tính,phẩm chất của người được phong tước. Ở đây từ phương diện
sử học,chóng ta cần chú ý rằng,ngay từ khi đầu pháp chế nhà Lê đã phân biệt
rõ ràng “chức” và “tước”.
Chánh sứ sơn phòng Phan Vân lúc bấy giờ (1428)không được phong
chức mới mà chỉ được phong tước,nói rõ hơn là ông vẫn giữ nguyên chức vụ
của thời chiến tranh chứ không nhận thêm chức mới,được xếp và hàng “tản
quan” và được phong tước hầu với mỹ từ “Bái Dương” có hàm nghĩa khẳng
định bản lĩnh phẩm chất của Phan Vân,một sỹ phu cuối đời Trần đã từ bỏ
bóng tối(nghĩa của chữ “bái”),đi theo ánh sáng mặt trời (nghĩa của chữ
“dương”) tràn đầy khí thế của sự nghiệp phục hồi đất nước Đại Việt dưới
ngọn cờ đại nghĩa Lam Sơn.
2.1.1.2.Thời Lê Trung Hưng
Kháng chiến chống quân Minh xâm lược thắng lợi năm1428,Lê Lợi
lên ngôi hoàng đế,sáng lập ra triều đại Hậu Lê. Song song với sự phát triển và
hoàn thiện thể chế chính trị ở thế kỷ XV,nhà nước Lê sơ đã thực hiện hàng
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
loạt chính sách ruộng đất,từng bước khẳng định sự thống trị của những mối
quan hệ sản xuất phong kiến.
Nhìn chung,xã hội Lê sơ tương đối ổn định,mặc dù còn có nạn cường
hào đói kém nhưng nhờ sự phát triển của nền kinh tế,luật pháp nhà nước,nên
nhân dân chưa bị bức bách đến chỗ phải nổi dậy đấu tranh. Sự thịnh trị đó chỉ
tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn,vào đầu thế kỷ XVI đất nước rơi vào
cảnh chiến tranh,chia cắt trong nhiều thế kỷ. Khi sự thịnh trị này kết thúc thì
đạo lý mà toàn dân tín nhiệm.
Thế nhưng sau 100 năm (1428-1527) đên đời Lê Chiêu Tông,Lê Cung
Hoàng thì bị Mạc Đăng Dung giết chết và giành ngôi báu lập ra nhà Mạc. Nhà
Minh muốn lợi dụng cơ hội Êy đem quân sang xâm chiếm nớc ta,báo thù lại
thất bại 100 năm về trớc,nên lấy lý do sang trị tội kẻ phản thần Mạc Đăng
Dung giết vua. Lo sợ quá nên Mạc Đăng Dung cùng 40 người tùy thuộc lên
cửa ải Nam Quan,buộc vải vào cổ,quỳ lết lạy tướng Minh là Cừu Loan và
Mạc Bá Ôn xin nhận tội,cống hiên vàng bạc và cắt năm động của Việt Nam
hiến cho giặc vua Minh. Đổi lại vua Minh cho Mạc Đăng Dung làm chức Đô
thống sứ,hàm nhị phẩm (không được làm An Nam Quốc vương như trước)
(Xem Việt Nam là thuộc triều Minh). Những cử chỉ giết vua,phản quốc,cắt
đất hại dân,quỳ lạy một tên tướng giặc không biết liêm sỉ,nhục nhã của dân
tộc đã khiến nhân dân oán vọng triều quan phản đối không chiụ hợp tác với
nhà Mạc.
Năm 1533,các triều quan do Nguyễn Kim đứng đầu đã tìm được con của
vua Lê Chiêu Thống là Lê Duy Ninh lập lên làm vua là vua Lê Trọng Tông,mở
đầu khôi phục nhà Lê Trung Hưng và bắt đầu mở cuộc tấn công chống lại nhà
Mạc. Ở Nghệ An trong giai đoạn này có ông Phan Cảnh Quang và em là Phan
Đức Quảng (đời thứ 8,kể từ Phan Vân) ở xã Hạ Thành. Ở làng Hòa Cường tức
Hòa Kiệt có ông Phan Hoàng Thanh cùng con là Phan Hoằng Tích (cũng đời
thứ 8,thuộc nhánh thứ) đều ra Thanh Hóa úng nghĩa với vua Lê.
Còng như bao người khác,Phan Cảnh Quang thao lời kiêu gọi của vua
Lê ra Thanh Hóa tòng quân ứng nghĩa. Ông có bắt được con voi sổ tàu,đợc
nhà vua khen thởng và giao chức các đội chỉ huy quân ngũ đánh giặc. Ông có
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
nhiều mưu trí,đánh thắng nhiều trận nên được phong cấp liên tiếp. Sau đó ông
được phong chức “Chỉ huy vệ cẩm Y với tước Trung Hầu tích”.
Năm 1592,lúc tiết chế Trịnh Tùng đánh thắng giặc,khôi phục lại thành
Khảm.
Trước lực lượng binh sỹ của ta hùng hậu và có chứng cớ rõ ràng,đại
diện nhà Minh ở Lưỡng Quảng phải thừa nhận vua Lê là chính thống. Trịnh
Tùng là kẻ bề tôi và báo cáo với vua Minh là như thế. Cuộc hôị khảm thắng
lợi,ông Phan Cảnh Quang được phong chính thức là “Bắc quân đô đốc”. Tiếp
đó,ông được vua Thần Tông truy phong thêm tước “thiếu bảo” trước chữ
vàng quận công. VÒ sau vua Lê Hiển Tông phong ông là “minh nghĩa uy
dũng đại vương(sắc ghi ngày 26/7 năm Cảnh Hưng thứ 44(1783)).
Đến 1600,Nguyễn Hoàng bày mưu mời Phan Ngạn,mượn cớ dùng
người giả danh sứ giả họ Trịnh đến giao lệnh phải trị tội Phan Ngạn và Ngô
Đình Nga,với cớ Êy Nguyễn Hoàng khuyên Ngạn và Nga chống lại họ
Trịnh(xem âm mưu ghi trong “Hoan Châu ký” của dòng họ Nguyễn Cảnh ).
Ngày 5 tháng 5 năm Êy, Phan Ngạn đột nhiên nổi lên đem quân đánh
Thăng Long, Nguyễn Hoàng xin Trịnh Tùng cho mình tự đem quân chống lại
Phan Ngạn, được Trịnh Tùng đồng ý. Thế là Nguyễn Hoàng đem quân theo
sông Hồng, đường biển trốn vào Thuận Hóa. Phan Ngạn mắc mưu Nguyễn
Hoàng, ra sức chiếm đóng thành Thăng Long, họ Trịnh phải rước vua Lê trốn
vào Thanh Hóa, không kịp đem theo lương thực.
Nhưng mét sự kiện đáng chú ý là con trai của Phan Cảnh Quang là
Phan Cảnh Huy,lúc đó làm chỉ huy vệ kim ngô hết sức phục vụ,phò giá vua
Lê được an toàn. Nên ngày mồng 10 tháng 5 năm Êy,lúc vào Thanh Hóa,vua
Lê phong cho ông Phan Cảnh Huy làm “Đặc tiến phụ quốc thượng tướng
quân Kim Ngô vệ đô chỉ huy sứ thị vệ toàn lễ hầu trụ quốc trung trật” ghi rõ
ngày:Thuận Đức nguyên niên,ngũ nguyệt,sơ thập nhật (năm 1600).
Tháng 8 năm Êy,chúa Trịnh đem quân ra khôi phục Thăng Long,Kế
quận công Phan Ngạn và em là Quỳnh quận công,mặc dầu do mắc mưu
Nguyễn Hoàng,nhưng vẫn mang tội chống lại triều đình nên bị cắt hết chức
tước. Anh em phải lẩn tránh,di cư nhiều nơi. Khi đánh giá về Phan Ngạn,mặc
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
can thiệp Xiêm, với chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút,nghĩa quân quân Tây
Sơn đã khẳng định quyền ;àm chủ đối với đàng Trong .
Ở Đàng Ngoài,nhận lời cầu viện của Lê Chiêu Thống,nhà Thanh cho
quân kéo sang nước ta. Tháng 11 năm 1788(25 tháng 11năm Mậu Thân),
Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức ra
quân. Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), trên đường hành quân ra bắc Quang
Trung đã dừng chân tại Nghệ An để tuyển thêm binh lính.Chỉ trong vòng mấy
ngày mà Qung Trung đã triệu tập được 5 vạn quân,song ta có thể khẳng định
rằng Yên Thành không thể cung ứng đủ một số lượng quân sỹ như vậy.
Theo Bùi Dương lịch viết trong “Nghệ An ký”,số dân cả hai tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh lúc bấy giờ có khoảng 125.000 người. Thế mà trong một thời
gian ngắn đã huy động được 5 vạn người gia nhập nghĩa quân. Đã được xem
là một kỳ tích tài năng thu phục lòng người của Nguyễn Huệ. Ở những vùng
gần nơi đóng quân của nghĩa quân như Nam Đàn,Nghi Léc,Hưng
Nguyên,Yên Thành ắt hẳn có nhiều trai tráng tham gia nghĩa quân hơn các
vùng khác.
Kể từ khi Quang Trung kéo quân ra Nghệ An đến khi đánh tan quân
xâm lược Mãn Thanh chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn. nhưng theo gia
phả họ Phan ở Hoa thành (Yên Thành ) cho biết,thời gian này con cháu trong
họ đã kéo về giúp vua Quang Trung. Tiêu biểu có Phan Cảnh Nho hay còn
gọi là Cảnh Cầu. Thời cuối đời Lê Trung Hưng,ông Phan cảnh Nho đậu phó
bảng làm quan hộ tụng ở Hải Dương,tiếp đó được vua triệu về triều giữ chức
“hàn lâm viện nhật giảng”dạy cho vua học. Tiếp sau đó ông được vua giao
xuống Hải Hưng quản trị 13 đạo quân thủy bộ. Nhưng Lê Chiêu Thống cầu
cứu quân Thanh sang đánh nước ta,thì ông sinh ra chán nản. Nhân lóc vua
Quang Trung kéo quân ra Tam Điệp,ông đã mang quân đến giỳp tạo điều kiện
cho đạo quân vua Quang Trung ra đánh chiếm Hải Dương được thuận lợi dễ
của Trần Tấn và Đăng Như Mai (Thanh Chương) thì nhân dân Yên Thành
cũng kịp thời đứng dậy ứng nghĩa. Hoạt động của cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất
lan ra cả Yên Thành,nhân dân nhiều làng như: Liên Trì,Mậu Long,Trụ
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
Pháp…đã tích cực tham gia tiếp tế quân lương ủng hộ nghĩa quân. dân làng
Liên Trì đã chặt tre vang,bốc bùn non bỏ lên mặt đường dựng lũy chiến đấu
từ cầu Thông vào làng để ngăn chặn bước tiến của quân thù.
Hòa mình vào không khí chung của đất nước,của nhân dân Yên
Thành,con cháu họ Phan cũng đã tham gia kháng chiến chống Pháp hết mình.
nhiều thanh niên trai tráng trong dòng họ đã tham gia tòng quân nhập ngũ.
Lòng căm thù không chỉ được thể hiện ở hành động cầm súng đứng dậy cầm
súng chiến đấu với kẻ thù mà còn được thể hiện ở thái độ bất hợp tác với
chúng qua việc làm cụ thể sau của ông Phan Văn Trứ,đời thứ 11,nhánh thứ
của họ Phan. Ông đậu võ cứ,khoa Giáp Tuất ở Thanh Hóa,được bổ dụng làm
đội trưởng đội thủy quân,với nhiệm vụ chuyên chở thóc gạo từ Thanh Hóa
vào kinh thành Huế,một lần năm 1883,thuyền của ông gặp tàu Pháp đánh vào
cửa Thuận An,chúng bắt ông phải đầu hàng. Ông đành phải nhượng bộ nhưng
rồi ban đêm khi trời tối,thuyền ông trốn thoát. Từ đó ông bỏ việc,không làm
quan nữa. tục gọi ông là “ cố đội” thời kỳ thuộc Pháp.
Cũng ở đời thứ 11,có ông Phan Đăng Đề đậu võ cứ cùng cùng lúc với
anh ở khoa Giáp Tuất (1874) ở Thanh Hóa. Sau đó làm chức “điển ty” giữ
kho lương ở Tĩnh Gia (Thanh Hóa ) nhưng bị loạn quân khởi nghĩa Tú
Phương nổi lên chống Pháp (1886),chiếm mất kho,ông bị đình chỉ công tác.
sau xem xét được miễn tội,có lệnh mời ông nhưng mượn cớ tuổi già về hưu
mà không làm quan thời thuộc Pháp nữa. Thái độ bất hợp tác với Pháp chính
là xuất phát từ lòng yêu nước thương dân.
Đặc biệt khi ngọn cờ Cần Vương tung bay trên núi Ấu Sơn (Hương
Sơn),thì phong trào đấu tranh của nhân dân Yên Thành cũng phát triển với
lập hội “Duy Tân” và “Việt Nam quang phục hội” để tập hợp lực lượng đánh
Pháp. Ông đã liên hệ với lực lượng còn lại của phong trào Cần Vương,tập hợp
lực lượng phong trào chống thuế ở Nghệ An là Chu Trạc.
Chu Trạc sinh năm 1856 tên thật là Phan Văn Chiểu,xóm Nương Che-
xã Tràng Thành,ông là người có chí khí,đậu cử nhân võ ở Thanh Hóa khoa thi
năm Kỷ Mão (1897). Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan,quê hương bị dày
xéo,ông không ra làm quan mà ở nhà mở cửa hàng bán lâm thổ sản ở chợ
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
Dinh,rồi liên lạc với Đội Quyên và những nhân vật quan trọng trong Phái Am
Xã của hội “Duy Tân”chủ trương sắm vũ khí đánh Pháp. Ông bí mật vận
động nhiều thanh niên yêu nước trong vùng vào tổ chức,riêng ở xã Tràng
Thành có 15 người,trong đó có ông Phan Văn Chiếu,đời thứ 12 của dòng họ
Phan ở Tràng Thành,con của Phan Văn Trứ .
Ngày 26 tháng 2 năm Mậu Thân (1908),Chu Trạc cùng với các cộng sự
của mình làm lễ tế cờ ra quân tại Nương Mạ Su,xóm Che,xã Tràng Thành
trong buổi lễ trang nghiêm,Chu Trạc đã thống thiết đọc lời hiệu triệu “Ai là
khách anh hùng xin hãy chung lưng đấu cật,nước mất còn chỉ ở lúc ni”.
Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa đã không diễn ra như dự tính,do một số người
không từ bỏ được lợi Ých cá nhân,bá quay trở lại,làm vỡ kế hoạch đi mua vũ
khí của cả đoàn ở nước Xiêm,còn bộ phận ở nhà do thiêú cảnh giác để kẻ xấu
để biết kế hoạch,mật báo với Pháp. Vào đêm 10/4/1908,chúng bắt ông về
Vinh và kết án 13 năm tù,khi cuộc khởi nghĩa thất bại,ông Phan Văn Chiểu
chuyển sang làm đông y,chữa bệnh cứu người.
Trong thực tế,tình yêu thương dân nước được thể hiên bằng nhiều
cách,có người thì thể hiện bằng thái độ bất hợp tác với Pháp,với triều đình
Huế,từ bá chốn quan trường,nhung gấm để làm một người dân bình thường
như bao người dân bình thường khác,hay cú người thì quay về dạy học cho
con em trong xóm,mặc dù họ đều đậu đạt khoa cử và có tài. Đó chính là cách
2.2.3.Giai đoạn 1930-1945
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngay 3/2/1930 là một sự kiện có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời chấm dứt
sự khủng hoảng về đuường lối cách Việt Nam kéo dài từ thế kỷ XIX,đầu XX.
Kể từ đó Đảng đã lãnh đạo nhõn dân đấu tranh,trải qua nhiều thời kỳ khó
khăn,gian khổ đã giành được những thắng lợi này đến chiến thắng khác.
Trong phong trào cách mạng 1930-1931,với đỉnh cao là phong trào Xô Viết
Nghệ Tĩnh,nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân Pháp giành lại độc lập
cho nước nhà.
Mỗi người có một ví trí khác nhau trong xã hội,nên sự đóng góp của sự
nghiệp cách mạng là khác nhau. Người thì phương diện này người thì phương
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
diện khác. Điều quan trọng là hợp sức của đóng góp đó tạo nên thành công
của cách mạng. Trong giai đoạn này cách mạng này có sự đóng góp công sức
của nhiều cá nhân họ Phan,trong đó có ông PhanVõ,tuy sự đóng góp của ông
gián tiếp nhưng hết sức quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng.
Ông Phan Võ (1889-1962) từ nhỏ nổi tiếng là thần đồng hay chữ. Năm
14 tuổi ông đỗ thứ nhì trong kỳ thi thử ở huyện Yên Thành. Năm 20 tuổi
(1909) ông đỗ Giải Nguyên khoa thi cử nhân trường Nghệ An và sau này đậu
phó bảng trong cuộc thi đình ở Kinh thành Huế. Năm 1928-1931,ông được cử
làm viên ngoại rồi làm lang trung bộ lễ trong triều đình Huế. Năm 1932-1937
ông làm án sát tỉnh Hà Tĩnh. Thời kỳ sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-
1931,Nghệ An và Hà Tĩnh là hai điểm nóng giữa cách mạng và thực dân. Ông
phải đảm đương một trách nhiệm rất nặng nề,nếu theo Pháp đàn áp cách mạng
thì phản bội lại dân tộc,đi trái với đạo lý làm người,nhưng nếu không theo
Pháp mà giúp đỡ cách mạng thì bị bọn Nam triều khép tội. Cuối cùng với tài
trí thông minh và đức độ hơn nguời,ông vẫn làm tròn trách nhiệm được
giao,đồng thời giúp đỡ những người cách mạng họat động trong phong trào
nghiệp cách mạng,nhà nước Việt Nam đã tặng thưởng ông huân chương kháng
chiên hạng ba và bằng khen do UBND tỉnh Nghệ An tặng năm 1962.
Như vậy trong chiÕn tranh,không nhất thiết là tất cả mọi người dân
đều phải đứng lên cầm sóng ra chiến trường để giết giặc,mặc dù vẫn biết rằng
đó là mặt trận quan trọng nhất có tính quyết định thành bại của cuộc chiến.
Nhưng đó không phải là tất cả,bởi vì kể thù tán ta trên mọi lĩnh vực,mọi mặt
trận. Do vậy,có những người không trực tiếp ra mặt trận mà dùng tài năng,học
vấn của mình truyền đạt cho con cháu lớp sau,động thái đó không ngoài mục
đích vì sự nghiệp cách mạng. Đó chính là trường hợp của ông Phan Lô
(1898-1949),đời thứ 16 của dòng họ Phan ở Đông Thành.
Là người thông minh học giỏi,học chữ nho do cha là Phan Quang dạy
sau đó theo học Pháp- Việt ở trường Quốc học Vinh. Đậu kỳ thi thành chung
năm 1917. Năm 1918-1928,ông dạy trường tiểu học Pháp – Việt huyện Yên
Thành. năm 1929-1932,chuyển về làm hiệu trưởng trưòng Pháp Việt huyện
Yên Thành. Năm 1933-1941,ông được bổ nhiệm làm giáo thụ ở Diễn
Phan Thị Mai Phương Líp: K54B Lịch
sử
Bài tập điều kiện Lịch sử Việt Nam
Châu(phụ trách giáo dục các huyện phía Bác Nghệ An như Quỳng Lưu,Yên
Thành,Diễn Châu,Đô Lương …). Năm 1942-1943,làm đốc học tỉnh Phú
Yên,năm 1944-1945 làm đốc học tỉnh Hà Tĩnh.
Những đóng góp của con cháu họ Phan ở Đông Thành trên nhiều
phương diện đã góp phần tạo nên thắng lợi vẻ vang của cách mạng tháng
Tám.
2.2.4. Giai đoạn 1945-1975
Cách mạng tháng Tám -1945 được ghi vào lịch sử dân téc ta như mét
trong những trang chói lọi nhất đã mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân
tộc,một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việ Nam. Đó là
thắng lợi của cuộc cách mạng đối với hai kẻ thù là Pháp và Nhật,là sự lật nhào
ngai vàng phong kiến ngót 1000 năm ở nước ta.