hệ thống thương cảng vân đồn
qua các nguồn tư liệu lịch sử, điền dã và khảo cổ học
Nguyễn Văn Kim
Khoa Lịch sử, Trường ĐH
KHXH & NV
1. Về địa danh và vị trí của Vân Đồn
Trong các di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng của nước ta Vân
Đồn, một thương cảng cổ nằm trong vịnh Bái Tử Long, cùng với Hạ Long
là một trong những kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng thế giới. Từ thế kỷ XV,
Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi đã có những vần thơ trác tuyệt về
cảnh quan và hoạt động kinh tế Vân Đồn:
Lộ nhập Vân Đồn san phục san
Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan
Nhất bàn lam bích trừng minh kính
Vạn héc nha thanh đoá thuý hoàn
Vũ trụ đốn thanh trầm hải nhạc
Phong ba bất động thiếc tâm can
Vọng trung ngạn thảo thê thê lục
Đạo thị Phiên nhân trú bạc loan (1).
Nhưng, Vân Đồn không chỉ là một danh thắng, một Di sản thiên nhiên
của thế giới mà còn là một trung tâm thương mại lớn, một khu vực có vị trí
quân sự chiến lược gắn liền với quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây
dựng, phát triển đất nước của dân tộc ta.
Tên gọi Vân Đồn lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Việt Nam từ thời
Lý (1010-1226). Năm 1149, thời Lý Anh Tông (cq: 1138-1175) nhà vua đã
cho khai mở trang Vân Đồn để đón thuyền buôn các nước. Trong Đại Việt
sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê viết: “Năm Kỷ tỵ, hiệu
Đại Định năm thứ 10 (1149), (Tống Thiệu Hưng năm thứ 19). Mùa xuân,
tháng hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông
xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để
mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương”(2).
Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An
Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô.
Đổi lộ làm phủ, đổi trấn làm châu. Rồi sai các chức thừa tuyên xét núi sông
trong chỗ mình cai quản, làm thành địa đồ”(6). Nh vậy, đến thời Lê sơ,
trong chủ trương chung về chuyển đổi đơn vị hành chính, trấn Vân Đồn thời
Trần đã được đổi thành châu thuộc thừa tuyên An Bang. Châu Vân Đồn đã
được mở rộng về quy mô và địa giới bao gồm 10 trang, 1 phường.
3
Trong Đại Việt địa dư toàn biên, nhà sử học, địa chí học nổi tiếng
Phương đình Nguyễn Văn Siêu đã xác định: “Quảng Yên là đất Giao Chỉ
đời xưa. Đời Lương (552-557) là quận Ninh Hải, Hoàng Châu. Đời Tuỳ
(581-618) gọi là quận Ninh Việt. Đời Đường (618-907) gọi là quận Ngọc
Sơn, Lục Châu”(7). Trước đó, từ thế kỷ XVIII, sách Vân Đài loại ngữ của
nhà bác học Lê Quý Đôn dẫn lại Đường chí cũng đã viết về Lục Châu rằng:
“Ngọc Sơn quận ở Lục Châu. Đất Giao Chỉ vốn là Ngọc Châu, đến năm
Thượng Nguyên thứ hai (tức năm 675 đời vua Đường Cao Tông - TG) mới
đổi làm Lục Châu vì trong địa giới châu có sông Lục Thuỷ nên mới lấy mà
đặt tên; có lẽ Lục Châu ở địa hạt trấn Quảng Yên (giáp Quảng Châu và
Khâm Châu)(8). Trong khảo cứu của mình Nguyễn Văn Siêu cũng có sự bổ
khuyết cụ thể về vùng đất Quảng Yên: “Trước thời Đinh, đời Lê gọi là trấn
Trào Dương, đời Lý đổi là châu Vĩnh An. Năm Đại Định thứ 10 lập trang
Vân Đồn (ngày Êy thuyền buôn các nước Trà Và, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải
Đông xin để buôn bán cho lập trang để ở, sau gọi là châu Vân Đồn). Đời
Trần thuộc về lộ Hải Đông. Thời thuộc Minh là đất châu Tĩnh An, phủ Tân
An(9).
Dùa theo sách Thiên Nam dư hạ trong Đại Việt địa dư toàn biên,
Nguyễn Văn Siêu cũng viết rằng: Thừa tuyên An Bang có một phủ là Hải
Đông, có 3 huyện là Hoành Bồ, Yên Hưng, Chi Phong, có 4 châu là Tân
An, Vạn Ninh, Vân Đồn, Vĩnh An. Còng theo nhà sử học họ Nguyễn thì
vào thời Lê, châu Vân Đồn thuộc thừa tuyên An Bang. Vân Đồn gồm có 37
sâu 1 trượng 8 thước, mực nước ban đêm sâu 1 trượng, rộng 40 trượng”.
5
Chuyên gia Đông Nam Á học hàng đầu của Nhật Bản GS.Yamamoto
Tasturo còng cho rằng: “Theo chỗ những ghi chép của An Nam gọi Vân
Đồn là tổng Vân Hải thì nhận định cho rằng trung tâm của huyện Vân Đồn,
châu Vân Đồn là ở đảo Vân Hải có lẽ đúng”(14).
Về vị trí của Vân Đồn, Đại Nam nhất thống chí còng cung cấp những
thông tin có giá trị: “Tên châu Vân Đồn đặt từ đầu triều Lê, ở lánh ngoài hải
đảo, giáp dương phận nước Thanh, chỉ có 2 xã, năm Minh Mệnh thứ 16 mới
đặt thổ lại mục, do tri châu Vạn Ninh kiêm quản, năm Thiệu Trị thứ 3 mới
bỏ tên châu Vân Đồn, chỉ để tổng Vân Hải, bỏ lại mục, đặt cai tổng, lệ vào
huyện Nghiêu Phong”(15). Điều quan trọng là, các tác giả Đại Nam nhất
thống chí đã xác định chính xác huyện trị Nghiêu Phong ở xã Hoà Hy, còn
cửa Nghiêu Phong cách huyện Nghiêu Phong 4 dặm là nơi thuyền bè công
tư thường qua lại, phía bắc giáp xã Yên Khoái, phía nam là xã Phù Long.
Chính các tác giả sách này cũng cho biết: Cửa Vân Đồn cách huyện Nghiêu
Phong 120 dặm còn đảo Vân Đồn ở cách huyện Nghiêu Phong 125 dặm về
phía đông. Cửa Nội cách huyện 133 dặm về phía đông, hai bên bờ đều là
núi đất, cửa biển rộng 277 trượng, thuỷ triều lên sâu 8 trượng 6 thước, thuỷ
triều xuống sâu 7 trượng 9 thước, ngược lên đều là khe. Cửa Đối ở địa phận
tổng Vân Hải, cách huyện Nghiêu Phong 133 dặm về phía đông, hai bên bờ
đều là núi đất, chân đá, cửa biển rộng 103 trượng, thuỷ triều lên sâu 57
trượng, thuỷ triều xuống sâu 5 trượng. Đảo Trà Bản ở trong biển, phía đông
huyện, có dân tổng Vân Hải ở, sản chè. Đảo Ngọc Vựng (Ngọc Vừng -TG)
ở phía tây đảo Vân Đồn, dân thôn Ngọc Vựng ở đấy. Trước có đảo Tĩnh
Hải, đến thời Nguyễn thì bỏ. Lại có đảo Vạn Cảnh, ở phía bắc đảo Trà Bản,
phía Nam có vũng Huyện, phía tây có đảo Ghềnh Vạn(16).
6
Nh vậy, về phạm vi và địa giới hành chính Vân Đồn có nhiều sự thay
đổi qua các thời kỳ lịch sử. Vân Đồn, với tư cách là một đơn vị hành chính,
Nhìn trên bản đồ, vùng vịnh Bắc Bộ trong đó có Vân Đồn có thể coi
là một vùng biển kín. Vân Đồn không chỉ là cửa mở hướng ra biển của toàn
bộ vùng Đông Bắc mà còn là một không gian Địa - kinh tế, Địa - chính trị
và quân sự tiếp giáp với các tỉnh ven biển miền nam Trung Hoa. Từ xa xưa,
cư dân vùng Đông Bắc Việt Nam đã có những mối liên hệ hết sức mật thiết
với trung tâm văn hoá Hoa Nam, Trung Quốc. Sự gần giũ về vị trí địa lý,
môi trường kinh tế biển và con đường giao thông thuận lợi ven biển đã kết
nối dòng chảy kinh tế, văn hoá giữa Việt Nam với Trung Quốc và các quốc
gia khu vực. Có thể thấy, nền văn hoá Hạ Long nổi tiếng là sự tích hợp
những nhân tố nội sinh nhưng cũng chứa đựng và biểu hiện khá rõ những
yếu tố ngoại sinh đặc biệt là những ảnh hưởng các đặc tính văn hoá miền
nam Trung Hoa (17). Một số nguồn sử liệu cho thấy, cho đến thời Hán con
đường giao lưu chủ yếu giữa Trung Hoa với phương Nam được tiến hành
thông qua các hải trình trên biển mà dòng đối lưu hằng xuyên là chảy qua
vùng biển đảo Vân Đồn.
Dựa trên những mối quan hệ diễn ra một cách tự nhiên trong lịch sử,
từ thời Hán, văn hoá và những ảnh hưởng chính trị của trung tâm văn hoá
Hoa Bắc ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến phương Nam. Cùng với dòng
chảy và tiếp giao văn hoá Việt - Trung qua vùng Tây Bắc, tức men theo
8
hướng chảy của sông Hồng, sông Đà và Lô giang cũng từ thời Hán đã nổi
lên một con đường giao lưu kinh tế, văn hoá mới và ngày càng có vị trí
quan trọng đó là con đường Đông Bắc toả rộng theo miền duyên hải và các
cảng ven biển. Sách Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi đời Tống ghi rõ
đường từ Châu Khâm vào Việt Nam rằng: Từ Khâm Châu thuyền đi hướng
tây - nam, một ngày đến châu Vĩnh An, theo trại Đại Bàn (đảo Kế Bào)
ngày nay thuộc Ngọc Sơn, tới Vĩnh Thái, Vạn Xuân (vùng Vạn Kiếp, sông
Lục Đầu) là tới Thăng Long. Thuyền đi mất 5 ngày. Sử cũ cũng ghi từ năm
1006 thời vua Lê Long Đĩnh (986-1009) (hiệu Ứng Thiên; Tống niên hiệu
Cảnh Đức năm thứ 3), Duyên biên An phủ sứ Thiệu Việp từng dâng vua
cảnh giác trước những thế lực xâm lược nhưng các triều đại quân chủ Việt
Nam cũng hiểu rõ rằng việc duy trì và thiết lập quan hệ kinh tế đối ngoại
với các quốc gia khu vực nói chung và vùng kinh tế miền nam Trung Hoa
nói riêng là nhân tố rất có ý nghĩa để phát triển nền kinh tế tự chủ trong
nước. Trên nền tảng của những mối quan hệ truyền thống, từ thế kỷ X vùng
cảng Đông Bắc đã là một khu vực quan trọng trong các mối bang giao quốc
tế. Mối quan hệ đó không chỉ diễn ra giữa hai nước, tức Việt Nam - Trung
Quốc mà còn được thực hiện với nhiều quốc gia trong khu vực.
Trong lịch sử, vùng biển Đông Bắc không chỉ có vị trí địa chiến lược
quan trọng mà còn là nơi chứa đựng và sản sinh ra nhiều nguồn tài nguyên
phong phó. Tuy đất canh tác nông nghiệp không thật phong phú và thời tiết
có phần khắc nghiệt do những đợt gió lạnh tràn về vào mùa đông nhưng cư
10
dân bản địa người Việt và cả một bộ phận người Hoa đã sớm đến đây sinh
sống, phát triển kỹ năng khai thác biển. Họ đã khai thác và trao đổi những
nguồn sản vật địa phương nổi tiếng nh ngọc trai, sá sùng, tôm rồng, bào ngư
cùng nhiều loại hải sản quý. Trên các đảo có nhiều nguồn lâm sản có thể sử
dụng trong kiến trúc và đóng thuyền. Đảo Vân Đồn cũng có những cây
thuốc và động vật quý. Đặc biệt ở vùng Vân Hải, gần với Cửa Đối có mỏ
cát trắng nổi tiếng, được sóng biển bồi tụ một cách tự nhiên, là nguyên liệu
tương đối tinh chất để chế tạo thuỷ tinh cao cấp và pha lê. Trong Lịch triều
hiến chương loại chí, về tài nguyên của Vân Đồn Phan Huy Chú nhận xét:
“Phong thổ và nhân vật đông đúc, giàu thịnh, việc buôn bán lưu thông tấp
nập; cũng là chỗ phồn hoa ở trấn ngoài, mà thật là nơi hình thắng của nước
Nam”(20).
Như vậy, theo chính sử, đến năm 1149 nhà Lý mới lập trang ở Vân
Đồn để trao đổi, buôn bán sản vật với thương nhân ngoại quốc và cho
thương nhân nước ngoài lưu trú nhưng thực ra việc buôn bán giữa Đại Việt
với các quốc gia phương Nam cũng như phương Bắc chắc chắn phải diễn ra
sớm hơn rất nhiều so với mốc niên đại đó. Sự gần gũi về vị trí địa lý, nhu
Tất nhiên, ngoài Vân Đồn, nhà nước Đại Việt thời bấy giờ còn có
những trung tâm mậu dịch đối ngoại quan trọng khác nhưng Vân Đồn vẫn
là một thương cảng chính yếu nhất. Từ thời Lý, thuyền buôn ngoại quốc
cũng đã đến các cửa biển khác của Đại Việt như Diễn Châu (Nghệ An),
Lạch Trường, Hội Triều (Thanh Hoá), Hội Thống, Kỳ Anh (Hà Tĩnh) để
12
buôn bán. Nhưng về sau, từ đầu thế kỷ XIII, do biến đổi của điều kiện tự
nhiên, sự quấy nhiễu, cướp phá của thuỷ quân Chămpa cũng như do sự
hưng khởi của vùng kinh tế Đông Bắc nên hoạt động kinh tế đối ngoại của
nước ta có khuynh hướng chuyển dần ra phía Bắc(24). Các hoạt động đó tập
trung về thương cảng Vân Đồn và các cảng sông thuộc hệ thống sông Hồng.
Do vậy, Vân Đồn càng trở thành một thương cảng quan trọng. Thuyền buôn
các nước phần nhiều tụ tập ở đấy.
Sang thời Trần, Vân Đồn tiếp tục có nhiều biểu hiện phát triển và trở
thành một thương cảng quan trọng nhất vùng Đông Bắc. Trên các cảng đảo,
cư dân, thương nhân tụ họp ngày một đông đúc. Điều chắc chắn là có cả
một bộ phận ngoại kiều cũng đến Vân Đồn buôn bán và sinh sống lâu dài.
Nhưng, do phải thường xuyên đối chọi với hoạ xâm lược từ phương Bắc,
nhà Trần đã có ý thức mạnh mẽ hơn đối với vùng chủ quyền Đông Bắc. Do
vậy, vào thời Trần Dụ Tông (cq: 1341-1369), “năm Thiệu Phong thứ 9
(1349), lập trấn Vân Đồn, đặt Bình Hải quân để trấn giữ”(25). Nhà Trần còn
đặt ra nghiêm lệnh: Những người buôn lậu, tự ý giao tiếp với thương nhân
nước ngoài đều bị trừng phạt. Cũng trong năm đó, nhà Trần cho “Đặt Quan
trÊn, Quan lộ và Sát hải sứ (quan trông coi, kiểm soát trên biển - TG) ở trấn
Vân Đồn, lại đặt quân Bình hải để trấn giữ”. Toàn thư còng cho biết thêm
“Trước đây, thời nhà Lý, thuyền buôn tới thì vào các cửa biển Tha, Viên ở
châu Diễn. Đến nay, đường biển đổi dời, cửa biển nông cạn, thuyền buôn
phần nhiều tụ tập ở Vân Đồn, cho nên có lệnh này”(26).
Hiểu rõ những mối hiểm nguy và thách thức khắc nghiệt của chiến
tranh, nhưng nhà Trần vẫn rất chú tâm đến việc phát triển kinh tế trong đó
ngựa lạ”(34) Theo đó, Trảo Oa, Chà Bồ, Chà Bà, Trà Nha, Đại Oa đều
là tên phiên âm của Java - vốn là một cường quốc thương mại, thuộc
Indonesia hiện nay.
Trong lịch sử Việt Nam, các chính thể quân chủ nhìn chung đều có
khuynh hướng muốn nắm độc quyền kiểm soát quan hệ ngoại thương. Nhà
nước muốn thông qua đó vừa để củng cố, phát triển tiềm lực kinh tế trong
nước vừa thể hiện tầm ảnh hưởng cùng uy quyền của mình. Trong khi thiết
lập trang Vân Đồn và một số trung tâm kinh tế khác dọc biên giới để khai
mở các quan hệ buôn bán, triều Lý cũng như triều Trần đều áp dụng nhiều
biện pháp để hạn chế thương nhân nước ngoài tiến sâu vào nội địa vì sợ họ
dò xét tình hình trong nước. Do vậy, tuy nhà nước cho thuyền buôn nước
ngoài đến giao thương nhưng chỉ cho phép buôn bán trên thuyền hay tại các
hải đảo. Theo Trần Phu thì “các phiên thuyền tụ tập họp chợ ngay trên
thuyền rất đông”(35). Sách Đảo di chí lược của Uông Đại Uyên (đời
Nguyên) cũng chép rằng: “Thuyền buôn không đến buôn bán ở đất Êy (chỉ
Đại Việt), chỉ buôn bán lén mà thôi. Thuyền chỉ lên xuống ở vùng Đoạn
Sơn (tức Vân Đồn), chứ không được ghé vào đất liền, sợ người ta dò thấy
hư thực của nước đó”. Nhà nước Đại Việt thời bấy giờ luôn cảnh giác với
các thế lực bên ngoài nhưng mặt khác trước những thách đố khắc nghiệt của
lịch sử, giới quý tộc cầm quyền cũng rất lo ngại mối nguy của những các
thế lực chống đối, phản loạn bên trong. Và chính Trần Ých Tắc một quý tộc
trẻ tuổi, tài năng nhưng do sai lầm trong tham vọng chính trị đã có những
liên hệ với quân Mông - Nguyên qua các lái thương ngoại quốc ở Vân Đồn.
Toàn thư viết: “Đến 15 tuổi (Trần Ých Tắc - TG), thông minh hơn người,
làu thông kinh sử và các thuật, vẫn còn có ý tranh đoạt ngôi trưởng đích.
15
Ých Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên
xuống nam”(36).
Vùng biển Vân Đồn được đặc biệt coi trọng vì có một vị trí xung yếu
trên đường hải vận Trung Quốc - Việt Nam kéo dài xuống Đông Nam Á.
quy định: “Nếu đem gỗ lim, vàng sống, vỏ quế, trân châu, ngà voi bán cho
thuyền buôn nước ngoài thì bị tội biếm ba tư. Quan phường, xã biết mà
không phát giác tội giảm một bậc; các quan lộ, huyện và trấn, cố ý dung
túng cùng bị một tội, nếu vì vô tình mà không biết thì bị tội biếm hay
phạt”(40). Mặt khác, để bảo vệ Vân Đồn đồng thời cũng nhằm để ngăn chặn
mối nguy từ bên ngoài, chính quyền Lê sơ còn đề ra quy định: “Các quan ty
vô cớ mà đi riêng ra những trang ngoài Vân Đồn hay các trấn cửa quan ải
thì xử tội đồ hay tội lưu, thưởng cho người tố cáo tước một tư Thuyền bè
ngoại quốc đến trang Vân Đồn buôn bán mà quan Sát hải sứ đi riêng ra
ngoài của bể kiểm soát trước thì xử biếm một tư. Thuyền buôn Êy muốn
đậu lại lâu thì trang chủ phải làm giấy trình An Phủ ty làm bằng thì mới
được cho ở lại; nếu trang chủ không trình mà tự ý cho ở lại thì xử biếm hai
tư và phạt tiền 200 quan; thưởng cho người tố cáo một phần ba. Nếu chứa
người ngoại quốc chưa đủ tuổi theo luật đã định, thì xử biếm một tư và phạt
tiền 50 quan, thưởng cho người tố cáo cũng một phần ba”(41). Sở dĩ có sự
kiểm soát chặt chẽ ở Vân Đồn như vậy là do, như đã trình bày ở trên, các
triều đại phong kiến nước ta luôn phải cảnh giác với mối đe doạ tiềm tàng
từ phương Bắc. Hơn thế nữa, từ cuối thời Lý, sự quấy nhiễu biên giới và
thâm nhập thường xuyên của các thuyền buôn lậu, nạn cướp biển và các
17
cuộc tấn công của quân Chiêm Thành ra phía Bắc cũng khiến các vua Trần
và chính quyền Lê sơ phải đề cao cảnh giác với hiểm hoạ xâm lược và tác
động tiêu cực về văn hoá từ phương Bắc cũng như phương Nam(42).
Vào thời Lê, thế kỷ XV-XVII, trong sự hưng khởi chung của hệ thống
thương mại châu Á, do có nhiều điều kiện thuận lợi Vân Đồn vẫn tiếp tục là
một thương cảng trọng yếu của nước ta. Dư địa chí viết: “Ở Vạn Ninh và
Vân Đồn, người Hợp Qua và người Trung Quốc đều tuỳ theo phương phục
mà cống các thứ quý lạ”. Nguyễn Trãi cũng cho biết thêm: “Ở An Quảng,
triều đình đặt ra hai châu Vân Đồn, Vạn Ninh sai tướng trấn phủ. Khách
thương đến buôn bán lớp này đến lớp khác, đem đồ dâng cống”(43). Vì lý
sản vật địa phương nhưng đã bị Lê Thánh Tông từ chối không nhận(45).
Thái độ cương quyết đó hiển nhiên có những tác động tiêu cực đến một số
hoạt động kinh tế đối ngoại nhưng qua đó chính quyền Lê sơ cũng muốn
khẳng định chủ quyền của đất nước và nghiêm trị những kẻ làm trái pháp
luật.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng vào thế kỷ XVI-XVIII với sự hưng
thịnh của các trung tâm thương mại lớn như Thăng Long (Kẻ Chợ), Phố
Hiến (Hưng Yên) ở Đàng Ngoài và Thanh Hà (Phú Xuân - Huế), Hội An
(Quảng Nam), Nước Mặn (Quy Nhơn) ở Đàng Trong Vân Đồn đã mất vị
trí quan trọng về ngoại thương. Bên cạnh đó, nguy cơ xâm lược nước ta
không còn là các thế lực phương Bắc mà là chủ nghĩa tư bản phương Tây
nên Vân Đồn cũng mất dần đi vị trí quân sự xung yếu với vị trí là vùng biên
19
viễn quan trọng của đất nước. Trên thực tế, qua khảo sát thực tế và thực
hiện công tác giám định các hiện vật tìm được tại các bãi sành sứ cổ trong
hệ thống cảng Vân Đồn vẫn thấy hiện vật tập trung nhất thuộc về thế kỷ
XVI-XVIII. Trong đó, khu vực cảng cổ Tiền Hải, Sơn Hào, Cái Làng là
những ví dụ tiêu biểu.
3. Hệ thống cảng Vân Đồn qua khảo sát điền dã và nghiên cứu khảo cổ
học
Trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, từ năm 1936 nhà bác
học, chuyên gia Đông Nam Á học nổi tiếng Nhật Bản GS.VS.Yamamoto
Tatsuro (Sơn Bản Đạt Lang) trong chuyến thăm và làm việc với Viện Viễn
Đông bác cổ Pháp do GS. G.Coedes làm giám đốc, đã đến khảo cứu ở Vân
Đồn và đã hoàn thành 2 chuyên khảo giá trị về thương cảng này(46). Tại
đảo Vân Hải nhà học giả Nhật Bản đã phát hiện được một số đồ gốm sứ
Trung Quốc đời Tống và nhiều bát đĩa có hoa văn thời Lý - Trần. Giáo sư
cũng đã tìm được ở đảo Vân Hải 125 đồng tiền thời Đường và tiền thời
Tống gồm nhiều triều đại từ “Khai nguyên thông bảo” thời Đường Huyền
Tông (cq: 712-756) đến tiền “Thuận Hữu nguyên bảo”, “Hoàng Tống
hộ dân trên đảo đã đào ao nuôi tôm cá và đây là nguyên nhân chủ yếu làm
mất đi dáng vẻ nguyên sơ và tàn phá khu di tích. Nhưng do được giải thích,
hướng dẫn của một số nhà khoa học và khách tham quan, một số người dân
trên đảo cũng đã có ý thức sưu tập lại những hiện vật mà họ cho là quý
hiếm. Số hiện vật nguyên vẹn hay tương đối nguyên vẹn chỉ có rất Ýt. Có
21
nhiều mảnh vỡ cho thấy là một phần của hiện vật lớn. Các mảnh vỡ phần
nhiều là từ các loại bình, hũ, vại (sành) và đồ gia dụng (chủ yếu là bát, đĩa,
chén gốm sứ). Trong số đó, người dân trên đảo đã đào được một số bình, vò
sành Việt Nam có niên đại thế kỷ XV-XVI, gốm Chu Đậu và mang phong
cách Chu Đậu của hệ lò vùng Hải Dương, Hưng Yên, Bát Tràng và hiện vật
gốm sứ Trung Quốc thời Minh - Thanh. Điều đáng chú ý là, tại nhiều địa
điểm của bến đảo luôn thấy nhiều lon sành có niên đại và kích cỡ khác
nhau. Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về công dụng đa dạng của
loại hiện vật này. Qua quá trình khảo sát có thể thấy, khắp một dải bờ phía
tây của đảo Cái Làng đâu đâu cũng có dấu tích của con người và hoạt động
thương mại trong lịch sử.
Trong những lần khảo sát thực tế, trên sườn đồi phía tây của đảo Vân
Hải chúng tôi cũng đã tìm thấy nhiều dấu tích về những khu định cư của
người xưa và cả một hệ thống giếng nước trong đó nổi tiếng nhất là giếng
Hệu, nước trong và mát, chảy từ mạch ngầm trong lòng núi, mà đến nay
một số hộ dân trên đảo vẫn sử dụng. Do những nếp nhà cổ được làm trên
sườn dốc nên người ta thường chọn những địa điểm tương đối rộng và bằng
phẳng rồi tiến hành xẻ đồi, kè đá để giữ phần nền đất và móng nhà. Sự hiện
diện của những nền nhà cổ cho thấy trước đây Cái Làng đã là một khu định
cư đông đúc. Và cũng như bao làng quê Việt khác, Cái Làng cũng có một
ngôi đình làm trung tâm trong sinh hoạt cộng đồng mặc dù đây không phải
là một làng nông nghiệp mà là làng biển với cơ sở kinh tế chính yếu là khai
thác ngư nghiệp và thương nghiệp(48). Trải qua nhiều thế kỷ phát triển sôi
động, đến đầu thời Nguyễn, do cát bồi tụ nên một nhánh của sông Con
23
92 mảnh chủ yếu là vò hũ, đồ sứ ngoài 290 mảnh đồ sứ Trung Quốc, chủ
yếu là đồ sứ Minh - Thanh phát hiện ở những lớp bên trên, còn lại là đồ
gốm sứ Việt Nam có niên đại từ Lý - Trần, Lê trong đó có 18 mảnh gốm
thời Lý, 224 mảnh thời Trần, 251 mảnh gốm thời Lê sơ và 207 mảnh sứ
thời hậu Lê. Đồ gốm sứ chủ yếu là mảnh vỡ của các loại bát, đĩa, chén,
khay, Êm chủ yếu là đồ gia dông.
Với tầng văn hoá có độ sâu trung bình khoảng 1m các nhà nghiên cứu
thuộc Viện Khảo cổ học và Sở VHTT Quảng Ninh cho rằng khu vực Cái
Làng là một trung tâm buôn bán, tụ cư lâu dài trong lịch sử. Sự hiện diện
của những nền móng nhà cổ và hệ thống giếng cung cấp nước cho thấy ở
đây từng là địa bàn tụ cư khá đông đúc. Hiện tượng tiếp nối của các loại
hình hiện vật cũng như quan sát vách hố khai quật không thấy xuất lộ tầng
vô sinh cũng khiến cho các nhà nghiên cứu tin rằng các hoạt động của con
người ở đây là mang tính liên tục. Theo báo cáo khai quật của nhà khảo cổ
học Nguyễn Như Hồ thì: “Mật độ hiện vật tăng lên ở các lớp dưới hố khai
quật cho thấy càng ở lớp dưới, mật độ sinh sống, làm ăn của con người càng
tập trung. Theo đó, hoạt động của bến Cái Làng diễn ra thịnh đạt nhất vào
giai đoạn cuối Trần đầu thời Lê”(49).
Trong quá trình hình thành và phát triển, cảng Vân Đồn đã trở thành
một hệ thống bao gồm nhiều bến cảng liên kết với nhau rất chặt chẽ. Do
vậy, cùng với Cái Làng còn có bến Cống Cái thuộc thôn Sơn Hào, xã Quan
Lạn. Cống Cái còn có tên gọi là “Vụng Cống Cái” hay “Cái Cây Đa”. Suốt
3 mặt vụng và dải bờ bắc, tây bắc của núi Vân là bãi sành sứ có niên đại
tương tự nh ở Cái Làng. Và cũng nh ở Cái Làng, bến Cống Cái cũng có một
không gian tương đối rộng, bằng phẳng, rất thuận lợi cho việc buôn bán,
24
định cư. Trong thung lũng và trên sườn núi vẫn còn hiển hiện khá rõ dấu
tích của nhiều lớp nền nhà, bằng chứng sinh động của một địa bàn cư trú cổ.
Các cụ già trong thôn cho biết thôn Sơn Hào do ba anh em họ Phạm từ