Tài liệu Tiểu luận " Hệ thống Juts In Time " - Pdf 98


ĐỀ TÀI
Hệ thống Juts In TimeGiáo viên thực hiện :
Sinh viên thực hiện :
MỤC LỤC
A. MỞ BÀI
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
B. NỘI DUNG
I . Giới thiệu sơ lược về đề tài
Sơ lược về logistics
Hệ thống Juts In Time
I. Những đặt trưng cơ bản của Just In Time
1. Mức độ sản xuất đều và cố định
2. Tồn kho thấp
3. kích thước lô hàng nhỏ
4. Lắp đặt với chi phí thấp và nhanh
5. Bố trí mặt bằng hợp lý
6. Sửa chữa và bảo trì định kỳ
7. Sử dụng công nhân đa năng
8. Đảm bảo mức chất lượng cao
9. Lựa chọn người bán hàng tin cậy và nâng cao tinh thần hợp tác của các
thành viên trong hệ thống
10.Sử dụng hệ thống “kéo”
11.Nhanh chóng giải quyết sự cố trong quá trình sản xuất
12.
13.Liên tục cải tiến
II. Lợi ích và hạn chế của hệ thống Just In Time

em là phải trả lời những câu hỏi trên sao cho hoàn mĩ nhất
Đây là lý do khiến nhóm em chọn đề tài cho bài luận của mình là :Hệ thống
Juts In Time. Một hê thống nhằm loại bỏ ra khỏi dây chuyền sản xuất những công
đoạn không hợp lý hay đúng hơn đó là giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu những rủi ro
có thể xảy ra trong quá trình sản xuất.
2. Mục đích và ý nghĩa
Mục đích của Just In Time là nhằm giảm thiểu những hoạt động không gia
tăng giá trị và không di chuyển hàng tồn trong khu vực dây chuyền sản xuất. Điều này
sẽ dẫn đến thời gian sản xuất nhanh hơn, thời gian giao hàng ngắn hơn, sử dụng thiết
bị hiệu quả hơn, yêu cầu không gian nhỏ hơn, tỷ lệ lỗi sản phẩm thấp hơn, chi phí thấp
hơn, và lợi nhuận cao hơn.
B. NỘI DUNG
I. Giới thiệu sơ lược về đề tài
1 Sơ lược về logistics
Logistics _ một thuật ngữ còn khá mới mẽ tại Việt Nam, chỉ mới đây thôi
thuật ngữ này mới vừa gia nhập vào Việt Nam, nhưng hiện nay nó đang ngày càng
phát triển và thâm nhập vào mọi lĩnh vực.Vậy logistics là gì?
Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài
nguyên, yếu tố đầu vào, từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất,
người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các
hoạt động kinh tế.
Nói đến logistics người ta không thể không nói đến vai trò vô cùng quan trọng
của hoạt động này trong các cuộc chiến tranh trải dài theo lịch sử loài người. Nhưng
có lẽ tiêu biểu chúng ta có thể kể đến Alexander Đại Đế, người đã từng tuyên bố trong
bất kỳ thất bại nào của ông thì người phụ trách logistics sẽ là người bị hỏi tội đầu tiên.
Còn Napoleon hẳn đã rất ngấm bài học thất bại trong cuộc chiến xâm lược nước Nga
mà ở đó thất bại duy nhất là do logistics. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thông
nhất đất nước, thì vai trò của tổng cục hậu cần và đường mòn Hồ Chí Minh là cực kỳ
quan trọng đến chiến thắng 30 tháng 4. Chính nước Mỹ cũng phải thừa nhận họ đã
thất bại vì không thể ngăn được dòng chảy liên tục con người, lương thực phẩm và vũ

đến.
JIT cũng được biết như một phương pháp sản xuất tin gọn (Lean) hay sản
xuất không tồn kho, bởi vì yếu tố then chốt phía sau của việc áp dụng thành công JIT
là giảm tồn kho tại nhiều công đoạn khác nhau dây chuyền sản xuất tới mức tối thiểu.
Điều này cần phải có sự phối hợp tốt giữa những công đoạn sao cho mỗi công đoạn
chỉ sản xuất chính xác số lượng cần thiết cho công đoạn sau. Nói một cách khác, một
công đoạn chỉ nhận vào chính xác số lượng cần thiết từ công đoạn trước.
Tóm lược ngắn gọn nhất là: "Đúng sản phẩm - với đúng số lượng - tại đúng
nơi - vào đúng thời điểm cần thiết".
Trong quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình
sản xuất sẽ được hoạch định để làm ra một số lượng bán thành phẩm, thành phẩm
đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo sẽ cần tới.
Trong JIT, các quy trình không tạo ra giá trị gia tăng phải bị bãi bỏ. Và như
vậy, hệ thống chỉ sản xuất ra những cái mà khách hàng muốn.
Nói cách khác, JIT là hệ thống điều hành sản xuất trong đó các luồng nguyên
nhiên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối
được lập kế hoạch chi tiết nhất trong từng bước, sao cho quy trình tiếp theo có thể
thực hiện ngay khi quy trình hiện thời chấm dứt. Qua đó, không có hạng mục nào
trong quá trình sản xuất rơi vào tình trạng để không, chờ xử lý, không có nhân công
hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành.
JIT còn được áp dụng trong cả suốt quy trình cho đến bán hàng. Số lượng
hàng bán và luồng hàng điều động sẽ gần khớp với số lượng hàng sản xuất ra, tránh
tồn đọng vốn và tồn kho hàng không cần thiết. Có những công ty đã có lượng hàng
tồn gần như bằng không.
Hệ thống JIT cho phép hệ thống vận hành hiệu quả nhất, tránh lãng phí không
cần thiết.
Hãng Ford đã áp dụng các dây chuyền lắp ráp theo phương châm JIT từ
những năm 1930 của thế kỷ 20. Henry Ford là người đã phát minh và áp dựng phổ
biến các dây chuyền sản xuất trong hệ thống nhà máy của mình. Tuy nhiên, đó mới
chỉ là sơ khai của JIT.

Đặc điểm của hệ thống JIT là kích thước lô hàng nhỏ trong cả hai quá trình
sản xuất và phân phối từ nhà cung ứng. Kích thước lô hàng nhỏ sẽ tạo ra một số lợi
ích cho hệ thống JIT hoạt động một cách có hiệu quả như sau:
- Với lô hàng có kích thước nhỏ, lượng hàng tồn kho sản phẩm dở dang sẽ ít
hơn so với lô hàng có kích thước lớn. Điều này sẽ giảm chi phí lưu kho và tiết kiệm
diện tích kho bãi.
- Lô hàng có kích thước nhỏ ít bị cản trở hơn tại nơi làm việc.
- Dễ kiểm tra chất lượng lô hàng và khi phát hiện có sai sót thì chi phí sửa lại
lô hàng sẽ thấp hơn lô hàng có kích thước lớn.
4. Lắp đặt với chi phí thấp và nhanh
Như mục đích của JIT là giảm thiểu chi phí ở tất cả các khâu trong quá trình
sản xuất cũng như phân phối. Điều này gắn liền với việc phải đào tạo được một đội
ngũ công nhân lành nghề, thường xuyên huấn luyện để nâng cao kỹ năng trong công
việc. Đồng thời công cụ và thiết bị cũng như quá trình lắp đặt phải đơn giản và đạt
được tiêu chuẩn hóa, có thể giúp giảm thời gian lắp đặt. Hơn nữa, người ta có thể sử
dụng nhóm công nghệ để giảm chi phí và thời gian lắp đặt nhờ tận dụng sự giống
nhau trong những thao tác có tính lặp lại. Quá trình xử lý một loạt các chi tiết tương tự
nhau trên những thiết bị giống nhau có thể làm giảm yêu cầu thay đổi việc lắp đặt, sự
tinh chỉnh trong trường hợp này là cần thiết.
5. Bố trí mặt bằng hợp lý
Hệ thống JIT thường sử dụng bố trí mặt bằng dựa trên nhu cầu sản phẩm.
Thiết bị được sắp xếp để điều khiển những dòng sản phẩm giống nhau, có nhu cầu lắp
ráp hay xử lý giống nhau. Để tránh việc di chuyển một khối lượng chi tiết lớn trong
khu vực thì người ta đưa những lô nhỏ chi tiết từ trung tâm làm việc này đến trung
tâm làm việc kế tiếp, như vậy thời gian chờ đợi và lượng sản phẩm dở dang sẽ được
giảm đến mức tối thiểu. Mặt khác, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu sẽ giảm đáng
kể và không gian cho đầu ra cũng giảm. Các nhà máy có khuynh hướng nhỏ lại nhưng
có hiệu quả hơn và máy móc thiết bị có thể sắp xếp gần nhau hơn, từ đó tăng cường sự
giao tiếp trong công nhân.
6. Sửa chữa và bảo trì định kỳ

Một là, thiết kế chất lượng cho sản phẩm và quá trình sản xuất. Thực tế cho thấy hệ
thống JIT sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hóa sẽ dẫn đến tiêu chuẩn hóa các
phương pháp làm việc, các công nhân rất quen thuộc với công việc của họ và sử dụng
các thiết bị tiêu chuẩn hóa, tất cả những vấn đề trên sẽ đóng góp làm tăng chất lượng
sản phẩm ở các khâu của quá trình sản xuất.
Hai là, yêu cầu các nhà cung cấp giao nguyên liệu và các bộ phận sản phẩm có chất
lượng cao để giảm thiểu trục trặc do hàng hóa đem tới.
Ba là, làm cho công nhân có trách nhiệm sản xuất những hàng hóa có chất lượng cao.
Điều này đòi hỏi phải cung cấp thiết bị và công cụ làm việc phù hợp, huấn
luyện phương thức làm việc thích hợp cho công nhân, huấn luyện trong đo lường chất
lượng và phát hiện lỗi, động viên công nhân cải tiến chất lượng sản phẩm và khi có sự
cố xảy ra thì tranh thủ sự cộng tác của công nhân.
9. Lựa chọn người bán hàng tin cậy và nâng cao tinh thần hợp tác của các
thành viên trong hệ thống
Có câu “khách hàng là thượng đế”, người bán là thựơng đế của công ty cho nên người
bán được yêu cầu giao hàng hóa có chất lượng cao, các lô hàng nhỏ và thời điểm giao
hàng tương đối chính xác.
Trong hệ thống JIT, hàng hóa kém phẩm chất sẽ đình trệ sự liên tục của dòng
công việc. Việc kiểm tra chất lượng hàng hóa đưa đến được xem là không hiệu quả vì
nó không được tính vào giá trị sản phẩm. Do đó việc đảm bảo chất lượng được chuyển
sang người bán. Người mua sẽ làm việc với người bán để giúp họ đạt được chất lượng
hàng hóa mong muốn
Ngoài ra, hệ thống JIT đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các công nhân, quản lý
và người cung cấp. Nếu không đạt được điều này thì khó có thể có một hệ thống JIT
thật sự hiệu quả.
10. Sử dụng hệ thống “kéo”
Thuật ngữ “đẩy” và “kéo” dùng để mô tả hai hệ thống khác nhau nhằm
chuyển dịch công việc thông qua quá trình sản xuất. Trong hệ thống đẩy, khi công
việc kết thúc tại một khâu, sản phẩm đầu ra được đẩy tới khâu kế tiếp, ở khâu cuối
cùng, sản phẩm được đẩy vào kho thành phẩm.

xuất. Sự cải tiến liên tục này trở thành mục tiêu phấn đấu của tất cả thành viên trong
doanh nghiệp nhằm hoàn thiện hệ thống.
III. Điều kiện cần cho hệ thống Just In Time
Các công ty áp dụng JIT đều mang định hướng khách hàng vì các đơn đặt hàng
tạo ra chu trình sản xuất. Thay cho việc nhập kho các thành phẩm và đợi đơn đặt
hàng, hệ thống JIT sản xuất các sản phẩm trực tiếp theo các đơn đặt hàng nhận được.
JIT thành công nhờ một số yếu tố then chốt sau:
13.Tập trung vào chất lượng
JIT luôn đi đôi với hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp (TQC) và nâng cao
chất lượng sản phẩm. Công nhân tay nghề cao với độ sai sót bằng không sẽ giảm được
các chi phí không gia tăng giá trị như kiểm soát viên hay sửa chữa sản phẩm.
14.Chu kỳ sản xuất ngắn
Chu kỳ sản xuất ngắn giúp tăng tốc độ đáp ứng đơn đặt hàng tức thời và giảm
mức độ tồn kho cho doanh nghiệp
15.Chu trình sản xuất trôi chảy
JIT đơn giản hoá chu trình sản xuất để giảm độ trệ, phát triển mối quan hệ với
nhà cung cấp để có được nguyên vật liệu ngay khi cần với chất lượng đảm bảo. JIT
duy trì tay nghề đều đặn theo nhóm để tránh chi phí ngắt quãng và chi phí chuyển giao
bán thành phẩm bằng cách phân bố máy móc cùng một nhóm công việc càng gần
nhau càng tốt
Công nhân được huấn luyện để sử dụng được toàn bộ các máy móc cùng 1
nhóm một cách thành thục và tạo ra hiệu quả tốt nhất. Đây là hình thức sản xuất theo ô
(cell). Mỗi ô có thể được coi như một nhà máy thu nhỏ với các nhóm máy thường
được sắp xếp theo hình chữ "U".
16.Vận hành sản xuất linh hoạt
Máy móc cần linh hoạt trong khả năng tạo ra các linh kiện và sản phẩm để
tăng thêm sản lượng nếu sản phẩm có mức cầu vượt bậc hoặc tránh cho việc đình trệ
sản xuất vì một máy móc nào đó bị hỏng. Thời gian cài đặt và thay đổi hệ thống máy
móc cũng phải đủ ngắn. Nhân viên cũng cần được đào tạo đa năng nhằm thế chỗ và
kiêm nhiệm, giảm được chi phí lao động bất thường khi xảy ra sự cố bất ngờ.

đặt hàng không dự kiến trước bởi vì tất cả những sản phẩm được làm để đáp ứng nhu
cầu thực tế.
2.3 Đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng của xã hội tốt, hoàn
hảo. Ví dụ chỉ cần một chiếc xe giao hàng của công ty vệ tinh bị kẹt xe trên đường
không kịp giao hàng đúng giờ quy định thì toàn bộ các dây chuyền sản xuất của
Toyota trên toàn quốc phải ngừng hoạt động. Ví như vụ bệnh SARS ở Việt nam và
Trung Quốc khi mà các nhà máy sản xuất phụ kiện của các công ty vệ tinh của Toyota
ở Trung Quốc phải đóng cửa vì lo sợ bị truyền nhiễm bệnh này đã khiến cho các dây
chuyền sản xuất của Toyota ở Nhật và toàn thế giới phải nghỉ theo, kéo theo cả hàng
triệu người làm việc ở các công ty vệ tinh trong và ngoài nước Nhật phải ngưng làm
việc.
2.4 Đòi hỏi toàn xã hội phải có một hệ thống nhân viên và kỹ thuật
viên có trình độ và kiến thức cao, ý thức kỷ luật lao động cao, bởi vì chỉ cần một nhân
viên của công ty vệ tinh vô kỷ luật kiểm tra một con ốc không kỹ thì cả xã hội phải
ngưng làm việc.
2.5 Đòi hỏi chính phủ phải có một hệ thống văn bản pháp luật hỗ trợ
sản xuất rành mạch, minh bạch và nghiêm minh, một hệ thống nhân viên chính phủ
giữ đúng kỷ cương tôn trọng pháp luật vì ví dụ chỉ cần một nhân viên hải quan  hay
cảnh sát của chính phủ nhũng nhiểu làm khó dễ trong lúc chuyển vận hàng hoá phụ
kiện là sẽ kéo theo việc ngưng hoạt động toàn bộ xã hội liên quan đến Toyota ngay lúc
đó. Liên đoàn kinh tế Nhật bản (Keidanren) hay thông qua chính phủ Nhật đòi hỏi các
chính phủ ngoại quốc như Việt nam chẳng hạn phải ban hành các quy định pháp luật
rõ ràng để cho các công ty của họ dễ đầu tư và sản xuất là vì vậy.
2.6 Thiên tai là điều đáng sợ nhất đối với Just In Time. Chỉ cần một
trận động đất hay lụt lội ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng của quốc gia thì toàn bộ dây
chuyền sản xuất phải ngừng hoạt động ảnh hưởng đến hàng triệu người liên quan.
Bởi vì quy trình sản xuất phân tán nên đòi hỏi chế độ bảo mật kỹ thuật đối với các
công ty vệ tinh nghiêm ngặt nếu không rất dễ bị lộ kỹ thuật ra ngoài. Ở Toyota Nhật
Bản nếu các kỹ sư lỡ đem một chiếc máy laptop vào công ty thì đồng nghĩa là phải bỏ
ở đó luôn cho tới lúc xử lý rác chứ không bao giờ được đem về nhà nữa vì việc bảo

so với một mã vạch. Ưu việt hơn, thông tin được lưu giữ trên con chíp có thể được sửa
đổi bởi sự tương tác của bộ đọc. Dung lượng lưu trữ cao của những thẻ nhãn RFID
thông minh này sẽ cho phép chúng cung cấp nhiều thông tin đa dạng như thời gian lưu
trữ, ngày bày bán, giá và thậm chí cả nhiệt độ sản phẩm.
3.1.3 Phương thức làm việc của RFID
Một hệ thống RFID có ba thành phần cơ bản: thẻ, đầu đọc, và một máy chủ.
Thẻ RFID gồm chip bán dẫn nhỏ và anten được thu nhỏ trong một số hình thức đóng
gói. Và thẻ RFID giống như những nhãn giấy và được ứng dụng để bỏ vào hộp và
đóng gói. Một số khác được sáp nhập thành các vách của các thùng chứa plastic được
đúc. Còn một số khác được xây dựng thành miếng da bao cổ tay. Mỗi thẻ được lập
trình với một nhận dạng duy nhất cho phép theo dõi không dây đối tượng hoặc con
người đang gắn thẻ đó. Cũng như phát sóng tivi hay radio, hệ thống RFID cũng sử
dụng bốn băng thông tần số chính: tần số thấp (LF), tần số cao (HF), siêu cao tần
(UHF) hoặc sóng cực ngắn (viba). Các hệ thống trong siêu thị ngày nay hoạt động ở
băng thông UHF,
Các thẻ có thể được cấp nguồn bởi một bộ pin thu nhỏ trong thẻ Reader gồm
một anten liên lạc với thẻ và một đơn vị đo điện tử học đã được nối mạng với máy
chủ. Đơn vị đo tiếp sóng giữa máy chủ và tất cả các thẻ trong phạm vi đọc của anten,
cho phép một đầu đọc liên lạc với hàng trăm thẻ đồng thời. Nó cũng thực thi các chức
năng bảo mật như mã hóa/ giải mã và xác thực người dùng. Có thể phát hiện thẻ ngay
cả khi không nhìn thấy chúng. Hầu hết các mạng RFID gồm nhiều thẻ và nhiều đầu
đọc được nối mạng với nhau bởi một máy tính trung tâm, hầu như thường là một trạm
làm việc gọn để bàn. Máy chủ xử lý dữ liệu mà các reader thu thập từ các thẻ và dịch
nó giữa mạng RFID và các hệ thống công nghệ thông tin lớn hơn, mà nơi đó quản lý
dây chuyền hoặc cơ sở dữ liệu quản lý có thể thực thi
3.1.4 Các lợi ích của thẻ RFID
a) Giảm các chi phí thông tin
Hiện nay, thông tin doanh nghiệp thường được truyền tải nhờ sự kết hợp giữa
các mã vạch và trao đổi dữ liệu điện tử EDI (Electronic Data Interchange) giữa các
máy tính. Tuy nhiên, sự kết hợp này cho thấy một số hạn chế: các mã vạch thông

cửa hàng bán lẻ, các siêu thị sẽ cần ít nhân viên hơn, chi phí hoạt động sẽ giảm, lợi
nhuận sẽ cao hơn.
Dựa vào các ứng dụng của RFID ta thấy nó góp phần làm giãm chi phí và
phù hợp với mục đíchcủa hệ thống JIT.Giảm tới mức tối đa lượng hàng tồn kho và sự
lãng phí thời gian trong các khâu do nguyên liệu đầu vàokhông được đảm bảo và
cũng thông qua công nghệ RFID sẽ quản lý doanh nghiệp một cách tốt hơn,đáp ứng
nguyện vọng của khách hàng một cách nhanh chóng.Từ đó nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp
Do vậy để thực hiện tốt hơn hệ thích JIT, thì công nghệ RFID là một công cụ
hỗ trợ cần thiết.
3.2. Công nghệ Kaban
Kaban là những tờ giấy, giống như các hóa đơn giao hàng trên đó ghi rõ từng
công nhân cần bao nhiêu linh kiện, vào thời điểm nào trong ca làm việc. Do đó tại chổ
làm việc của mỗi người công nhân sẽ không có các bộ phận dư thừa, không tốn chổ để
chứa hoặc đặt các món dư thừa này.
Hệ thống kaban điều hòa tòan bộ quá trình cung ứng vật tư cho sản xuất, có
nghĩa là đảm bảo nhịp độ sản xuất liên tục, nhưng không cần kho chứa nhiều. Hệ
thống kaban không cho phép cung cấp vật tư thừa cũng như thiếu. nếu cung cấp thừa
có nghĩa là lãng phí, còn nếu cung cấp thiếu có nghĩa là ngưng trệ sản xuất
Một hệ thống kanban được nhắc đến như là một kéo hệ thống, bởi vì kanban
được sử dụng để kéo các bộ phận để sản xuất giai đoạn tiếp theo chỉ khi họ đang cần.
Trong một hệ thống pull, vật chất phong trào chỉ xảy ra khi các trạm làm việc cần tài
liệu chi tiết yêu cầu cho nó được gửi đi, trong khi trong một hệ thống đẩy các trạm sản
xuất vật liệu khởi động của nó đến ga tiếp nhận, giả định rằng nó là cần thiết vì nó đã
được lập biểu cho sản xuất. Điểm yếu của một hệ thống đẩy (MRP) là nhu cầu khách
hàng phải được dự báo và lần dẫn sản xuất phải được ước tính. Tình trạng đoán (dự
báo hoặc số ước lượng) kết quả là hàng tồn kho dư thừa và dài hơn thời gian chì,
phòng nhiều hơn cho các lỗi. Điểm yếu của một hệ thống kéo (kanban) là sau triết lý
sản xuất JIT là điều cần thiết, đặc biệt là liên quan đến các yếu tố của thời thiết lập
ngắn và kích thước rất nhỏ, vì mỗi trạm trong quá trình đó phải có khả năng đáp ứng

tiêu tiền sao nhãng công việc. Thế nhưng, Henry Ford lại lập luận: "Nếu người quét
xưởng làm phận sự một cách đúng đắn, anh ta có thể tiết kiệm cho chúng tôi 5 USD
bằng cách nhặt nhạnh các vật thừa vương vãi dưới sàn, trong khi lẽ ra anh ta có thể
đưa chúng vào sọt rác bằng nhát chổi tắc trách của mình".
Sau này khi đánh giá sự kiện đó, Henry Ford viết: "Sự tiến bộ thực sự của
hãng chúng tôi được bắt đầu khi công nhân được lĩnh 5 USD/ngày. Tăng lương như
vậy, chúng tôi đã nâng sức mua của thợ thuyền. Còn họ lại giúp người khác tăng sức
mua lên. Sự thịnh vượng của quốc gia là ở chỗ nâng cao sức mua của dân chúng bằng
cách trả lương cao và bán hàng hạ". Năm năm sau, ông lại tăng lương tối thiểu lên 6
USD.
Trước khi hãng Ford được thành lập, tại Mỹ đã có ô tô với nhiều loại rất tốt.
Hãng Ford nổi tiếng nhờ phương pháp làm việc dây chuyền. Ford là người đầu tiên đề
ra hai nguyên tắc: Người thợ không phải di chuyển thừa một bước chân nếu có thể
tranh thủ được; người thợ không được phí thì giờ và sức lực vì phải cúi xuống làm
việc.
Ford nói: "Nếu đừng bắt 1.200 người thợ phải đi lại vô ích 10 bước trong một
ngày thì đã tiết kiệm được cho họ 80 km đường trường". Theo phương pháp cũ, một
người lắp mô tơ phải chạy quanh các máy suốt ngày chờ tới khi máy được lắp xong.
Với phương pháp của Ford, việc lắp mô tơ được chia thành 84 việc nhỏ khác nhau,
mỗi người thợ đứng tại chỗ chỉ làm một việc nhỏ khi dây chuyền đưa máy đến trước
mặt họ. Kết quả, trước kia trong một thời gian nhất định, 84 người lắp xong 84 mô tơ
thì nay cũng trong thời gian đó họ lắp được 252 mô tơ.
Trước kia, không một ô tô nào được xuất xưởng dưới 12 giờ 28 phút. Chiếc ô
tô đầu tiên được xuất xưởng theo phương pháp mới được làm chỉ trong 5 giờ 50 phút.
Sau đó, Ford đã tạo ra hành lang di động cả máy lẫn người lắp ráp, làm xong phần
việc họ lùi lại làm cùng phần việc đó trên chiếc ô tô sau. Với thiết bị này, việc lắp ráp
một chiếc ô tô đã rút ngắn lại còn 93 phút.
Đối với Henry Ford, việc gì cũng có thể làm nhanh hơn và tốt hơn. Ô tô xuất
xưởng được gửi đi các nơi bằng tàu hỏa 7 chiếc/toa. Khi xưởng ông sản xuất mỗi ngày
1.000 ô tô, nhà ga Detroit đã chất đầy xe. Ford đã nghĩ ra một phương pháp vận

Phần nội thất và trung tâm căn nhà là con người và tập thể, cải tiến liên tục và
tích cực giảm lãng phí.
Mái nhà là tập hợp các yếu tố Chất lượng, Chi phí, Thời gian giao hàng, An
tòan, Tinh thần lao động (QCDSM).
2.1 Mục Đích
2.1.1 Phát triển tiến trình sản xuất ra nhỏ nhiều loại động cơ khác nhau
với chi phí thấp
2.1.2 Giảm số lần vận hành thiết bị một cách đáng kể
2.1.3 Giảm chi phí cho 1 sản phẩm, thay đổi kích cỡ lô hàng
2.1.4 Thiết kế lại nhà máy, nhóm kỷ thuật, người công tác, mội tiến
trình sản xuất một dòng sản phẩm nhất định.
2.1.5 Giảm lượng hàng tồn kho bán thành phẩm, giảm thời gian yêu
cầu đơn vị một sản phẩm đi qua hệ thống, vì sự tương tự của những sản phẩm trong
dòng sản phẩm, chỉ cần một phần sự liên hệ trong quản lý sản xuất giữa những lần vận
hành.
2.2 Những quy tắc Toyota sử dụng để phát triển phương thức quản lý JIT
Giảm kích cỡ lô hàng bằng cách giảm số lần vận hành thiết bị
Giảm kích cỡ lô hàng bằng cách giảm số lần vận hành thiết bị. Một số cải tiến
đáng kể được tiến hành để giảm thiểu thời gian bảo dưỡng và sữa chữa máy móc và
cho phép các hoạt động vận hành được tiến hành ở những lô hàng trước.
Từ đó sẽ tạo ra những lợi ích như giảm vòng quay vốn, nâng cao khả năng
hoạt động của máy móc => đáp ứng nhu cầu bất ngờ về sản phẩm; Giảm tồn kho, tăng
chất lượng sản phẩm => thoả mãn nhu cầu khách hàng ngày càng cao.
Sắp xếp lại nhà máy và tăng khả năng linh hoạt trong quá trình sản xuất
Sắp xếp nhà máy thành nhóm hoặc tổ nhỏ: khi công việc bắt đầu thì sản phẩm
di chuyển từ máy này sang máy khác trong quy trình => thời gian dư thừa là rất ít.
Huấn luyện chéo công nhân và sắp xếp máy móc hình chữ U tăng khả năng
linh hoạt của hệ thống, thay đổi dễ dàng bằng việc tăng giảm công nhân ở từng bộ
phận.
Dùng hệ thống kéo ở xưởng và đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất

áp dụng quy trình an toàn lao động cho sản xuất => nâng cao tin thần trách nhiệm và
cải tiến năng suất làm việc của công nhân
Sử dụng hệ thống ANDON
Để xử lý nhanh những trục trặc trong quá trình sản xuất, Toyota đã dùng hệ
thống đèn để báo hiệu gọi là ANDON. Mỗi một khâu công việc được trang bị một bộ
ba bóng đèn, đèn xanh biểu hiện cho mọi việc đều trôi chảy, đèn vàng biểu hiện có
công nhân sa sút cần chấn chỉnh, đèn đỏ báo hiệu có sự cố nghiêm trọng cần nhanh
chóng khắc phục
Cải thiện mối quan hệ với nhà cung cấp
Thiết lập quan hệ lâu dài với nhà cung cấp
Làm việc với nhà cung cấp (chia sẽ thông tin) để có thể giao hàng với chất
luợng cao nhất, đúng số lượng và đúng thời gian cần cung cấp => giảm tồn kho
Hỗ trợ sự quản lý từ nhà máy đối với nhà cung cấp để có thể giao hàng
thường xuyên với số lượng nhỏ đúng hạn. Việc làm này nhằm giải quyết nhanh chóng
những khó khăn phát sinh và có hướng giải quyết triệt để trong tương lai, ngăn chặn
nó lặp lại.
C. KẾT LUẬN
Chúng ta đang sống trong thời hội nhập và tất nhiên sẽ không nằm ngoài xu
hướng phát triển của thế giới. Bản thân ngành logisitics cũng vậy đã đến lúc chúng ta
cần nhìn lại mình để có những chiến lược cho tương lai. Phải làm sao cho kích động
được ngành logistics trong nước phát triển,làm sao để trong một tương lai không xa
ngành logistics Việt Nam sẽ phát triễn ngang tầm trình độ với thế giới.Và một điều
đặc biệt quan trọng ngay lúc này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không
ngừng nâng cao trình độ quản lý ,học hỏi tiếp thu những kỹ thuật mới,để từ đó mới có
thể phái triễn ngành logistics nước nhà
Thị trường logistics Việt Nam đang ở trong giai đoạn cực kỳ phân tán .
Các nhà cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chỉ thuần tuỳ hoạt động trong
một số phạm vi hẹp và truyền thống như vận tải, giao nhận hoặc kho bãi mà thiếu
một tư duy chiều sâu. Đã đến lúc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics cần
hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status