Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang cùng nhõn loại trải qua những năm đầu thế kỉ XXI, thế
kỷ với đặc trưng là sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn
cầu, thế kỉ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ. Nền kinh tế tri
thức đòi hỏi con người phải có nhiều kiến thức mới, kỹ năng mới và trình độ
tích cực để làm chủ cuộc sống .
Trong bối cảnh chung toàn cầu như vậy, Đại hội IX của Đảng cộng
sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh
tế xã hội 2001-2010 là: “đưa đất nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát
triển, nõng cao rừ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhõn dõn, tạo
nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại hoá”. Để đạt được mục tiêu này, giáo dục và khoa học
công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết.
Sau gần 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành
quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hoá các hệ thống giáo dục, nõng
cao cơ sở vật chất cho nhà trường…Song vẫn cũn nhiều bất cập cần phải bàn
tới, đặc biệt là chương trình sách giáo khoa cũn mang nặng tớnh hàn lõm,
phương pháp dạy học cũn truyền thống-truyền thụ một chiều, chưa phát huy
được tớnh tích cực học tập của học sinh, “sức ỳ” trong học tập của học sinh là
rất lớn. Hoạt động tự học của học sinh chưa được quan tõm đúng mức, trong
khi đõy là hoạt động quan trọng quyết định đến chất lượng cũng như hiệu quả
của quá trình học tập
Hoạt động tự học luôn giữa vai trò quan trọng trong quá trình học tập
của mỗi con người, bàn về tự học Tổng bí thư Đỗ Mười: “Tự học tự đào tạo là
con đường phát triển suốt cuộc đời mỗi con người, trong điều kiện kinh tế xã
hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý bỏu của dõn
tộc Việt Nam. Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nõng cao khi tạo ra được
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
1
2
Khoá luận tốt nghiệp
khoảng cách, vươn lên ngang tầm với các nước có nền giáo dục tiên tiến trong
khu vực và trên thế giới.
Chớnh vì những lí do trên, em quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu
cho khoá luận tốt nghiệp của mình với tên: “Dạy tự học-Xõy dựng quy trình
kiểm tra đỏnh giá kết quả tự học môn lịch sử ở trường Trung học phổ
thông (chương trình lịch sử thế giới lớp 11-Chương trình cơ bản)”
2. Mục đớch nghiên cứu.
Dạy cho học sinh cách tự học và cách tự kiểm tra-đánh giá kết quả của
quá trình tự học.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT (cụ
thể là chương trình lịch sử thế giới lớp 11)
- Đối tượng nghiên cứu: cách tự học và kiểm tra-đánh giá kết quả tự
học môn lịch ở trường THPT
4. Giả thuyết khoa học
- Mỗi HS đều có một kiểu học tập của mình và có thể xác định kiểu học
này một cách khoa học
- Việc xác định được kiểu học của HS là cơ sở giúp cho việc dạy HS
biết cách tự học hiệu quả
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tỡm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở khoa học của việc dạy tự học cho
HS ở trường THPT.
- Hiện trạng về việc tự học và cách kiểm tra đánh giá kết quả tự học
môn lịch sử của học sinh THPT.
- Một vài hướng dẫn cách tự học và kiểm tra đánh giá kết quả tự học
cho học sinh.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Nhúm phương pháp nghiên cứu lý luận.
4
Viết chương I
x x
5
Xây dựng phiếu điều
tra
x
6
Thực nghiệm sư
phạm
x x x
7
Xử lý số liệu
x x
8
Viết chương II
x x
9
Viết chương III và
kết luận
x x
10
Viết báo cáo tóm tắt
khoá luận
x
11
Bảo vệ khoá luận
x
Chương 1
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực học tập
của học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy áp đặt giáo điều làm cho
học sinh có thói quen không tự giác trong học tập.
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
5
Khoá luận tốt nghiệp
Thế kỉ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng như J.J.Rousseau
(1712-1778), Pestalogie (1746-1827), Usinxki (1824-1873)…đều có chung quan
điểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt kiến thức bằng cách tự tìm tòi và sáng tạo.
Những năm gần đõy trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng của
các tác giả đi trước, các nước phương Tõy nổi lên cuộc cách mạng để tỡm
phương pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “lấy người học làm trung tõm”
để phát huy năng lực nội sinh của con người. Đại diện cho tư tưởng này là
John Dewey (1859-1952). Ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh
nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”, một loạt các phương pháp dạy học theo
tư tưởng quan điểm này đã được đưa vào thực nghiệm: Phương pháp tích cực,
phương pháp hợp tác, phương pháp cá thể hoá. Nói chung, đõy là các phương
pháp người học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc
mà còn từ hoạt động tự học, tự tỡm tòi kiến thức…Giáo viên chỉ là người
trọng tài, đạo diễn thiết kế, tổ chức giúp cho học sinh biết cách làm, cách
học.
T. Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những
năm 30 của thế kỉ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá
trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh, giáo dục
xét như là quá trình hướng dẫn học sinh tự học”.
RajaRoy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm ‘Giáo dục cho thế
kỉ XXI, những triển vọng của chõu Á-Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm
về quá trình “Nhận biết dạy-học” và ông chủ trương rằng người học phải là
người tham gia tích cực vào quá trình: Nhận biết dạy-học.
Vấn đề tự học của học sinh đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch
ra nhau, đó là hoạt động truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học tập
Học là lao động mà người tiến hành nhằm mục đích chiếm lĩnh một số
kiến thức và kỹ năng mà loài người chưa biết. Học cũn được hiểu theo nghĩa
rộng: là sự tổng hợp của người học theo nghĩa trên và sự cố gắng rốn luyện
nhõn cách, xét trong mối quan hệ tác động qua lại giữa một bên là kiến thức,
kỹ năng một bên là nhõn cách người học.
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
7
Khoá luận tốt nghiệp
Dạy và học có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học nhằm vào
việc chiếm lĩnh khái niệm thì dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập.
Quá trình Dạy-Học là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản:
khái niệm khoa học, dạy và học. Khái niệm khoa học là nội dung của một bài
học và là đối tượng của sự lĩnh hội bởi học sinh, nó là 1 trong 2 yếu tố quan
trọng khẳng định logic của bản thõn quá trình Dạy-Học về mặt khoa học.
Hoạt động dạy gồm 2 chức năng truyền đạt và điều khiển, luôn tương tác
và thống nhất với nhau. Dạy phải xuất phát từ logic khoa học của khái niệm
và logic sư phạm của tõm lý học lĩnh hội. Hoạt động học là yếu tố khách quan
thứ hai qui định logic của quá trình dạy học về mặt lý luận dạy học, nghĩa là
độ trí dục và quy luật lĩnh hội và tự điều khiển.
Khái niệm khoa học
Cấu trúc của quá trình dạy học
Quá trình Dạy-Học là một hệ thống toàn vẹn, các thành tố của nó luôn
luôn tương tác với nhau theo những quy luật riêng, thõm nhập vào nhau, qui
định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng.
- Giữa dạy với học.
- Giữa truyền đạt và điều khiển trong dạy.
- Giữa lĩnh hội kiến thức và tự điều khiển trong học.
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo. Đõy là phương thức học tập cơ bản của
giáo dục không chính quy, giáo dục thường xuyên còn là bộ phận không thể
tách dời của quá trình học tập có hệ thống trong các trường. Nhằm đào sâu,
mở rộng để nắm vững kiến thức cơ bản của học sinh”
(1)
(1)
Từ điển giáo dục, NXB Bách Khoa HN-tr 126
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
9
Khoá luận tốt nghiệp
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cũng đưa ra nhiều khái niệm về tự học,
như cuốn “Học và cách dạy học”. Tác giả cho rằng: “Tự học là một hình thức
hoạt động của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính
bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không
theo chương trỡnh sỏch giỏo khoa”
(2)
. Trong cuốn “Luận bàn về kinh nghiệm
tự học”, Giáo sư cho rằng; “Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng
các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cựng cỏc phẩm chất của mình, rồi cả
động cơ, tình cảm nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Việc
tự học được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức
nào đó bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh tri thức đú”
(3)
Theo GS-TS Phạm Viết Vượng thì: Tự học là hình thức học sinh học
ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không
có mặt giáo viên. Tự học được tiến hành tại gia định hay thư viện, cách học
theo phương pháp tự nghiên cứu”
đích cao.
Hình thức 2: Có sách, có tài liệu có thêm ông thầy ở xa hướng dẫn tự
học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện viễn thông khác. Hướng dẫn tự
học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, đó là tự học
có hướng dẫn.
Hình thức 3: Có sách và giáp mặt thầy một số tiết trong ngày, trong
tuần. Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của thầy
và các phương tiện kĩ thuật trên lớp. Đõy là học giáp mặt trên lớp và về nhà
tự học có hướng dẫn.
1.1.2.3. Hoạt động dạy- tự học.
Chúng ta thường đề cập đến chu trình dạy-tự học là một hệ thống toàn
vẹn gồm 3 thành tố cơ bản: Thầy (dạy), Trò (học) và tri thức. Ba thành tố cơ
bản này luôn luôn tương tác với nhau, thõm nhập vào nhau theo những quy
luật riêng nhằm kết hợp chương trình tự học làm cho dạy và tự học cộng
hưởng với nhau tạo ra chất lượng, hiệu quả cao.
Chu trình Dạy-tự học bao gồm chu trình tự học của trò dưới tác động
của chu trình dạy của thầy nhằm biến tri thức kho tàng văn hoá nhõn loại
thành học vấn riêng của bản thõn người học.
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
11
Khoá luận tốt nghiệp
Chu trình tự học của học trò là chu trình gồm có 3 thời
(1)
Thời 1 H1: Tự nghiên cứu
Thời 2 H2: Tự thực hiện.
Thời 3 H3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
Chu trình tự học
Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng
với chu trình tự học của trò, cũng là chu trình 3 thời tương ứng với chu trình
tự học 3 thời của trò:
lực dù có quan trọng đến đõu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhõn tố hỗ trợ, thúc
đẩy, tạo điều kiện. Nội lực mới là nhõn tố quyết định phát triển bản thõn sự
vật. Sự vật đó đạt trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng với nhau.
Hoạt động tự học có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, mọi người và
bằng mọi cách khác nhau.
1.1.2.4. Quy trình kiểm tra-đỏnh giá kết quả học tập của học sinh
(1
)
Nguyễn Ngọc lan. Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng tự học của sinh viên trường Đại
học Công Đoàn. Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
H1
H2 H3
Tự học
D1
D3
D2
13
Khoá luận tốt nghiệp
Khái niệm kiểm tra
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học đã đưa ra khái niệm kiểm
tra là: “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”. Kiểm tra cũng có thể
hiểu là thu thập các dữ liệu, thông tin về một lĩnh vực nào đó làm cớ sở cho
việc đánh giá. Theo GS Phạm Viết Vượng: Kiểm tra là quá trình xem xét sự
phù hợp của sản phẩm với các tiêu chí đã định. Kiểm tra trong dạy học là sự
xem xét một cách thường xuyên hoặc không thường xuyên trong quá trình
học tập của HS theo các tiêu chí đã đề được định sẵn
Kiểm tra là khõu quan trọng nhất của quá trình dạy học, là quá trình
xem xét thực tiễn, nhận xét phán đoán thực trạng nhằm khuyến khích cái tốt,
phát hiện những lệch lạc trong quá trình nhận thức của học sinh cũng như
mình. Trong nhà trường, đánh giá là xác định giá trị khách quan mà HS đạt
được (học tập, hạnh kiểm ) bằng cách so sánh với một tiêu chuẩn sẵn có (các
mục tiêu môn học, các tiêu chuẩn đạo đức, phẩm chất )
Trong dạy học, đánh giá kết quả học tập là xác định giá trị khách quan
kết quả học tập của HS bằng cách so sánh với các riêu chuẩn đã (có thể là
mục tiêu môn học, hay mục tiêu của đơn vị kiến thức cần đạt, thường diễn đạt
bằng thang điểm) và gán cho nó một điểm hoặc một lời nhận xét.
Công cụ đánh giá:
+ Số đo: Sau khi chấm bài, Giáo viên xác định bằng đỏp án và biểu điểm
rồi dựa vào đó mà cho điểm từng bài. Từ đú xác định điểm cho từng học sinh
+ Lượng giá: Dựa vào số đo mà người ta đưa ra những kết luận ước
lượng trình độ kiến thức, kỹ năng của một HS. Số lượng giá là bước trung
gian giữa số đo và đánh giá, nó làm sáng tỏ trình độ (tương đối) của một HS
trong tập thể lớp, khoá so với yêu cầu của chương trình môn học, nhưng nó
cũng chưa trực tiếp nói nên thực chất trình độ của HS đó
Từ số đo và lượng giá, chúng ta tiến hành đánh giá theo chuẩn, là so
sánh số đo của mỗi cá nhõn trong tổng hợp chung của lớp
Lượng giá theo tiêu chí: Đõy là đối chiếu số đo của một Học sinh với
những tiêu chí đề ra.
+ Quy trình kiểm tra-đỏnh giá:
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
15
Khoá luận tốt nghiệp
Theo từ điển tiếng việt thì quy trình là trình tự phải tuõn theo để tiến
hành 1 công việc nào đó. Quy trình kiểm tra đánh giá là hệ thông các biện
pháp, hình thức kiểm tra đánh giá được thực hiện một cách liờn tục, đồng bộ,
hỗ trợ nhau để đánh giá kết quả học tập của học sinh đối chiếu với hệ mục
tiêu môn học (và các thông tin cần thiết). Hay nói một cách khác, quy trình
kiểm tra-đánh giá chớnh là các bước, các hình thức kiểm tra được thực hiện 1
cách liên tục, kế thừa hỗ trợ nhau để có thể kiểm tra kết quả học tập của học
ngược lại. Lý thuyết về phong cách học tập có nguồn gốc chớnh là từ hai lý
thuyết học tập khác biệt: lý thuyết về kiểu nhận thức và lý thuyết về tư duy
nóo trái và tư duy nóo phải.
- Lý thuyết về nhận thức chỉ ra rằng mỗi cá nhõn tiếp nhận thông tin
một cách khác nhau dựa trên các đặc điểm vốn có hay học được tức là từ
những tiền đề về những kinh nghiệm đã trải qua, chúng ta xõy dựng nên tri
thức của mình về thế giới mà ta đang sống. Các nghiên cứu đã chứng minh sự
đa dạng của lĩnh vực nhận thức: tư duy độc lập/phụ thuộc, phõn tích/tổng hợp,
đồng thời/kế tiếp
- Lý thuyết về tư duy nóo trái và tư duy nóo phải; lý thuyết này cho
rằng bộ nóo có hai phần khác nhau điều khiển hai cách thức tư duy khác nhau,
mỗi phần có chức năng trội với phần tư duy cũn lại
Theo tác giả JeanMare Denome và Madeleine Rog đã chỉ ra rằng: chức
năng không đồng nhất thuộc về bán cầu não phải, nó thực tại hoá một tiềm
năng, các yếu tố thay đổi, trong khi chức năng đồng nhất thuộc về bán cầu
não trái mà phạm vi hoạt động của nó tập trung vào các yếu tố ổn định
(2)
.
Chớnh bán cầu phải nhận và lưu giữ tất cả các tri giác, nhớ các kỉ niệm, các
kinh nghiệm của cuộc sống. Bán cầu trái cố định các thực tại trong cái mà
chúng có không thay đổi và nhớ các tri giác, các kỉ niệm (dấu ấn), các kinh
nghiệm dưới hình thức khái niệm, ký hiệu và không giác quan của chúng. Sự
khác nhau giữa nóo trái và nóo phải được thể hiện rừ qua bảng sau:
NÃO TRÁI NÃO PHẢI
Mang tính logic Mang tính ngẫu nhiên
Có sự liên hệ Mang tính trực quan
Hợp lí Phi lí
Phân tích Tổng hợp
(
1)
tranh luận. Dù sao, có điều rừ ràng là con người bắt đầu tập trung, xử lý và
ghi nhớ thông tin dưới các điều kiện môi trường học tập và các kiểu học khác
nhau. Vì vậy, mô hình kiểu học được dựa trên các cơ sở lý thuyết sau:
- Hầu hết các cá nhõn đều có thể học
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
18
Khoá luận tốt nghiệp
- Môi trường giáo dục, nguồn động lực, cách học đều phù hợp với
điểm mạnh của các kiểu học khác nhau của mỗi người
- Mọi người đều có điểm mạnh nhưng mỗi người lại có nhiều điểm
mạnh khác nhau
- Hoạt động giáo dục của cá nhõn có tồn tại và có thể xác định một
cách tin cậy
- Đưa ra môi trường giáo dục, nguồn động lực và cách học phù hợp sẽ
giúp HS đạt được hiệu quả học tập cao hơn so với các phương pháp
không thích hợp
- Các GV có thể học và sử dụng các kiểu học tập để giúp cho việc
giảng dạy của mình đạt hiệu quả cao hơn, nhất là giúp HS trong việc
tự học
- Các HS có thể vận dụng các điểm mạnh trong kiểu học của mình khi
tập trung vào các vấn đề mới và khó
Xuất phát từ nền tảng lý thuyết, các nhà khoa học đưa ra khái niệm về
phong cách học tập.
1.2.1.2. Khái niệm phong cách học tập (kiểu học)
Hoạt động học tập là hoạt động trí óc điển hình, do vậy nó cũng chịu
sự chi phối của thói quen hoạt động động trí óc và thói quen về các kiểu hoạt
động trí óc. Ở những chủ thể khác nhau, với những thói quen hoạt động và
kiểu hoạt động trí óc khác nhau sẽ có những kiểu học khác nhau. Nhiều học
giả trên thế giới đã có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểu học
* Định nghĩa của Litzinger và Oif
ảnh hưởng đến kiểu học mà chưa xác định được cụ thể đó là những yếu tố và
kiểu học gồm những thành tố ra sao. Do đó theo quan điểm của tôi cần có sự
nghiên cứu sõu hơn nữa về kiểu học
* Định nghĩa của Dun và Dunn
Theo Dun và Dunn (1993) “Kiểu học là cách học sinh bắt đầu tập
trung, xử lý, tiếp thu và ghi nhớ kiến thức khó và mới”
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
20
Khoá luận tốt nghiệp
Restak (1979), Thies (1979,1999/2000) và Dunn (1992,1993) cho thấy
kiểu học bao gồm cả đặc điểm phát triển và sinh học tạo thành phương pháp,
môi trường học tập, có ảnh hưởng đến một số người và không ảnh hưởng đến
một số khác. Hầu hết mọi người đều có một kiểu học tập xác định những các
kiểu này khác nhau một cách đáng kể về kết quả học tập, giới tớnh, tuổi tác,
nền văn hoá, thói quen hoạt động trí óc của mỗi người.
Trong các định nghĩa trên có thể nói định nghĩa của Dun và Dunn đầy
đủ và khái quát hơn cả, dựa vào đó chúng tôi đưa ra định nghĩa về kiểu học:
“Kiểu học là cách thức HS dử dụng các cách tư duy khác nhau để tập trung,
xử lý, tiếp thu, ghi nhớ kiến thức khó và mới tuỳ thuộc vào thói quen hoạt
đông trí óc, môi trường, động cơ học tập của mỗi người”
1.2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểu học
Kiểu học chịu sự tác động của các nhõn tố sau:
- Các phản ứng đối với môi trường học tập xung quanh-õm thanh/tĩnh
lặng, sáng vừa đủ/ánh sáng yếu, nhiệt độ ấm/mát mẻ, ngồi đúng tư thế/không
cần ngồi đúng tư thế ngồi học. Có những HS thấy rằng trong khi học được
nghe những giai điệu õm thanh bài hát quen thuộc sẽ dễ dàng tiếp thu hơn.
Hoặc có những em phải ngồi học đúng tư thế, trong phòng riêng và hoàn toàn
yên tĩnh. Lại có những HS muốn vừa học bài vừa đi lại như đang diễn thuyết
cho người khác nghe. Có HS phải ngồi dưới gốc cõy nơi thoáng mát như công
viên mới học được Các phản ứng của cá nhõn đối với môi trường học tập
Bằng lời nói-trí thông minh ngôn ngữ
Tính logic- trí thông minh toán học
Thị giác-thuộc không gian
Cơ thể-thuộc về vận động
Âm nhạc- thuộc về nhịp điệu
Giữa cá nhõn với nhau – Là khả năng giao tiếp và quan hệ giữa
người với người
Nguyễn Thị Minh Phương - K48 - SP Sử
22
Khoá luận tốt nghiệp
Trong một con người- thuộc về tõm trạng, trạng thái bên trong
Có rất nhiều cách phõn chia kiểu học khác nhau thậm chí có người
cho rằng con người ta có hơn 400 kiểu học. Tuy nhiên, xin đưa ra cách
phõn chia kiểu học khá phổ biến hiện nay, đó là cách phõn chia kiểu học ra
thành 7 loại
Kiểu học ngôn ngữ
Kiểu học logic
Kiểu học hình ảnh
Kiểu học õm thanh
Kiểu học hoạt động
Kiểu học nhúm
Kiểu học độc lập
1.2.2 Mối quan hệ giữa các kiểu học và tự học
Xác định các kiểu học (phong cách học) có ý nghĩa cực kỳ quan trong
trong quá trình dạy-học. HS sẽ vận dụng được điểm mạnh trong kiểu học của
mình, từ đó tỡm ra phương pháp học phù hợp nhằm nõng cao hiệu quả tự học
của bản thõn. Đối với mỗi HS không chỉ có một kiểu học duy nhất mà là sự
tổng hợp của nhiều kiểu học nhất định, mỗi HS có cách học hiệu quả là người
biết vận dụng thế mạnh của tất cả các kiểu học trong quá trình học của mình
Xác định kiểu học của HS sẽ giúp giáo viên định hướng cho HS các
Khoá luận tốt nghiệp
tin, suy nghĩ những khái niệm trỡu tượng để tỡm ra mối quan hệ giữa cái này
với cái kia trình bày những chuỗi các bộ phận, giải quyết tốt các vấn đề phức
tạp. Những người này có khả năng trở thành những nhà hàng hải, điêu khắc,
kỹ sư lập trình máy tớnh, kế toán, nhà toán học.
Những người có kiểu học logic thường thích đọc, thích viết và thích
kể chuyện. Họ thường có thói quen đọc bất kỳ tài liệu nào mà họ bắt gặp, có
khả năng gõy hài hước hiểu ý nghĩa và cú pháp của từ, thuyết phục người
khác quan điểm mình trong cả khi viết lẫn nói. Bạn có thể tỡm ra nghĩa của
nhiều từ từ đó tỡm ra nhiều nghĩa mới khác. Xu hướng nghề nghiệp của
những người này là: có thể trở thành nhà văn, nhà thơ, nhà báo, GV, chớnh trị
gia, nhà phiên dịch
Kiểu học hình ảnh: Đõy là những người thích học theo kiểu hình ảnh,
sơ đồ. Họ thích vẽ và xõy dựng các đồ vật, thích xem tranh và rất mơ mộng.
Thích sử dụng hình ảnh tranh màu và vẽ sơ dồ để tiếp cận với thông tin và
giao tiếp với người khác. Bạn có thể dễ dàng tưởng tượng những mục đích, kế
hoạch hiệu quả trong mắt bạn. Bạn có một giác quan tốt về không gian, nó
giúp bạn tri giác trực tiếp bạn có thể tỡm thấy con đường của mình xung
quanh việc sử dụng bản đồ và hiếm khi bạn đánh mất nó như bạn đi ra ngoài
một cái thang máy tự nhiên bạn biết đường nào để quay lại. Những người có
kiểu học này có thể trở thành nhà điêu khắc, nghệ sỹ mỹ thuật, nhà phát minh,
kiến trúc sư thiết kế nội thất, kỹ sư cơ khí, kỹ sư xõy dựng.
Kiểu học âm thanh: Những người có kiểu học này thường có sở thích
nghe nhạc hát, chơi các đạo cụ õm nhạc, huýt sáo. Họ có khả năng nhớ rất tốt
các giai điệu nhạc, có cảm giác tốt về nhịp điệu lên xuống của các õm thanh.
Đối với bạn, õm nhạc tạo nên một cảm xúc mạnh mẽ, thường tỡm thấy trong
các bài hát có giai điệu nhẹ nhàng hoặc một bài hát Pop trong đầu mà không
cần nhắc lại.
Kiểu học hoạt động: Những người có kiểu học này thích đi lại vận
động cơ thể, tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ cơ thể. Họ có khả năng rất tốt trong