Đe tài: Vận dụng phương pháp xác định giá trị tài sản thuần để định giá doanh nghiệp. Lẩy ví dụ minh họa
tại một doanh nghiệp Nhà Nước cố phần hóa. Nêu nhận xét của bạn về ưu, nhược điểm của phương pháp
này.
Chương 1: Cơ sở lý luận
1. Khái quát chung về định giá giá trị doanh nghiệp
1 Xác định giá trị doanh nghiệp
2 a,Các nhận định cơ bản về giá trị doanh nghiệp
- Giá trị doanh nghiệp là một khái niệm cơ bản khác với giá bán doanh nghiệp trên thị trường. Giá trị
doanh nghiệp được đo bằng độ lớn của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp đem lại cho nhà đầu tư.
Giá bán doanh nghiệp là mức giá được hình thành trên thị trường, nó còn chịu sự tác động của các yếu
tố cung, cầu “ hàng hóa hoanh nghiệp”, và cung cầu về tiền tệ trên thị trường
- Giá trị doanh nghiệp chỉ đơn giản là một khái niệm được các nhà đầu tư, các chuyên gia sử dụng trong
việc đánh giá tổng thể các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thêđưa lại. Giá trị doanh nghiệp vẫn
tồn tại ngay cả khi không có việc mua bán và chuyển nhượng
- Xác định giá trị doanh nghiệp không đơn giản chỉ để mua, bán, sát nhập, hợp nhất hoặc chia nhỏ
doanh nghiệp mà còn nhằm phục vụ cho nhiều hoạt động giao dịch kinh tế khác, như: xác định vị thế
tín dụng, cung cấp các thông tin cho hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô, cho hoạch định chiến lược
doanh nghiệp
b, Khái niệm xác định giá trị doanh nghiệp:
Xác định giá trị doanh nghiệp là sự ước tính với độ tin cậy cao nhất các khoản thu nhập mà doanh nghiệp
có thể tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch thông thường của
thị trường.
2, Sự cần thiết phải xác định giá trị doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu đánh giá và xác định giá trị đối với các loại hàng hóa là một đòi hỏi
hoàn toàn tự nhiên. Trong điều hành kinh tế vĩ mô cũng như trong các hoạt động quản trị kinh doanh luôn
cần thiết thông tin về giá trị doanh nghiệp.Giá trị doanh nghiệp là mối quan tâm của các pháp nhân và thể
nhân có lợi ích liên quan, gắn bó trục tiếp đến các doanh nghiệp được đánh giá. Tổng kết lại, nhu cầu xác
định giá trị doanh nghiệp được xuất phát từ các yêu cầu quản lý và các giao dịch
Trong nền kinh tế thị trường, mọi chủ thể kinh tế- xã hội đều quan tâm đến doanh nghiệp từ người tiêu
dùng sản phẩm dịch vụ đến nhà đầu tư và Nhà Nước, tổ chức xã hội và nhà quản lý doanh nghiệp. Đặc biệt
là nhà đầu tư, nhà quản trị doanh nghiệp và Nhà Nước nói riêng, họ luôn luôn và cần thiết nắm vững các
của doanh nghiệp.
- Tài sản của doanh nghiệp được hình thành bởi sự tài trợ vốn của các nhà đầu tư ngay khi thành lập
doanh nghiệp và còn có thể được bổ sưng trong quá trình phát triển SXKD. Cơ cấu nguồn tài trợ để hình
thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt pháp lý các quyền sở hữu và lợi ích của các nhà đầu tư
đối với số tài sản đó.
Doanh nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển tạo ra dòng thu nhập xuất phát bằng một lượng tái
sản có thực nhất định. Lượng tài sản này thường xuyên được bổ xung từ lợi nhuận hoặc các nguồn vốn tài
trợ của các nhà đầu tư và thông thường quy mô tài sản tăng lên thì thu nhập nà DN mang lại càng tăng lên,
nghĩa là giá trị của DN tăng lên và ngược lại, cuối cùng nếu chủ sở hữu DN bán toàn bộ tài sản của DN thì
đó là lợi ích tính thành tiền mà chủ DN nhận được từ DN hay nói khác đi đó là giá trị DN tại thời điểm bán.
Chính vì vậy mà giá trị DN được xác định bằng giá thị trường của toàn bộ tài sản hiện có phục vụ SXKD của
DN.
2, Phương pháp xác định.
Tổng giá trị tài sản trong doanh nghiệp thường không chỉ thuộc về người chủ sở hữu của doanh nghiệp
mà chứng còn được hình thành trên các trái quyền khác như: các trái chủ cho doanh nghiệp vay vốn, tiền
lương chưa đến kỳ hạn trả, thuế chưa đến lỳ hạn nộp, các khoản ứng trước của khách hàng, các khoản bán
chịu của nhà cung cấp, các tài sản đi thuê Do vậy, mặc dù giá trị doanh nghiệp được coi là tổng giá trị các
tài sản cấu thành doanh nghiệp, nhưng để thực hiên một giao dịch mua bán doanh nghiệp, người ta phải xác
định giá trị tài sản thuần- thuộc chủ sở hữu doanh nghiệp. Thông thường không kể các tài sản phục vụ phúc
lợi xã hội, quỹ khen thưởng, trợ cấp cho người lao động và tài sản giữ hộ thì giá trị của tài sản thuộc về các
chủ sở hữu doanh nghiệp và chủ nợ của doanh nghiệp. Vì vậy tổng giá trị doanh nghiệp bằng tổng số nợ
doanh nghiệp phải trả cộng tổng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp. Tuy nhiên doanh nghiệp đang hoạt động thì
vốn kinh doanh của doanh nghiệp đã được đầu tư, mua sắm và trở thành tài sản, hàng hóa vật chất cụ thể. Vì
vậy vốn chủ sở hữu phải được xác định bằng việc tiền tệ hóa tài sản sau đó trả cho chủ nợ, phần còn lại là
của chủ sở hữu.
Theo đó, công thức tổng quát được xây dựng như sau:
VO=VT-VN
Trong đó:
Vo: Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp.
VT : Tổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào sản xuất
toán, các bảng kê Các số liệu này phản ánh trun g thực các chi phí phát sinh tại thời điểm xảy ra các
nghiệp vụ kinh tế trong quá khứ của niên độ kế toán. Đó là những chi phí mang tính lịch sử, không còn phù
hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệp, ngay cả khi không có lạm phát.
- Giá trị còn lại của tài sản cố định phản ánh trên sổ kế toán cao hay thấp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp sử
dụng phương pháp khấu hao nào, phụ thuộc vào thời điểm mà doanh nghiệp xác định nguyên giá và sự lựa
chọn tuổi thọ kinh tế của tài sản cố định. Vì vậy, giá trị tài sản cố định phản ánh trên sổ kế toán thường
không phù hợp với giá thị trường tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
- Trị giá hàng hóa, vật tư, công cụ lao động tồn kho hoặc đang dừng trong sản xuất, một mặt phụ thuộc vào
cách sử dụng giá hạch toán là giá mua đầu kỳ, cuối kỳ hay giá thực tế bình quân. Mặt khác, còn phụ thuộc
vào sự lựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí khác nhau cho số hàng hóa dự trữ. Do vậy, số liệu kế toán
phản ánh giá trị của loại tài sản đó cũng được coi là không có đủ dộ tin cậy ở thời điểm đánh giá doanh
nghiệp.
Đó là một số lý do cơ bản, nhưng cũng đủ để giải thích vì sao trị giá tài sản phản ánh trên bảng cân
đối kế toán chỉ được coi là tài liệu tham khảo trong quá trình đánh giá lại toàn bộ tài sản theo giá thị trường
tại thời điểm xác định giá trị kinh doanh.
Để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường, trước hết người ta loại ta khỏi danh mục đánh giá những
tài sản không cần thiết và không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của SXKD. Sau đó tiến hành đánh giá số
tài sản còn lại trên nguyên tắc sử dụng giá thị trường để tính cho từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể,
như sau:
- Đối với TSCĐ và TSLĐ là hiện vật thì đánh giá theo giá thị truờng nếu trên thị trường hiện đang có
bán những tài sản như vậy. Trong thực tế, thường không tồn tại thị trường TSCĐ cũ, đã qua sử dụng ở nhiều
mức độ khác nhau. Khi đó, người ta dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ sản xuất của tài sản để áp
dụng một tỷ lệ khấu trừ trên giá trị của một TSCĐ mới.
Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì người ta áp dụng một hệ số quy đổi so
với những TSCĐ khác loại nhưng có tính năng tương đương.
- Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dư trên tài khoản. Nếu là ngoại tệ
sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường tại thời điểm đánh giá. Vàng, bạc, kim khí, đá
quý cũng được tính toán như vậy.
- Các khoản phải thu: Do khả năng đồi nợ các khoản này có thể ở nhiều mức độ khác nhau, vì vậy, bao
giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng
sự và nhiều khi lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá trị doanh nghiệp, như: Trình độ quản lý, trình độ công
nhân, uy tín, thị phần của doanh nghiệp. Đó có thể là những doanh nghiệp có tài sản không đáng kể nhưng
triển vọng sinh lợi lại rất cao.
- Trong nhiều trường hợp, xác định giá trị tái sản thuần lại trở nên quá phức tạp. Chẳng hạn, xác định
giá trị của một tập đoàn có nhiều chi nhánh, có các chứng khoán đầu tư ở nhiều doanh nghiệp khác nhau.
Mỗi chi nhánh lại có một số lượng rất lớn các tài sản đặc biệt, đã qua sử dụng, thậm chí không còn bán trên
thị trường. Khi đó, đòi hổi phải tổng kiểm kê đánh giá lại một cách chi tiết mọi tài sản ở các chi nhánh. Từ
đó, kéo theo những khoản chi phí đánh giá rất tốn kém, thời gian cần thiết cho một cuộc đánh giá có thể kéo
dài, kết quả đánh giá phụ thuộc rất lớn vào các thông số kỹ thuật của tài sản mà các nhà kỹ thuật chuyên
ngành đưa ra. Như vậy, sai số đánh giá có thể sẽ rất cao.
b, Khả năng ứng dụng của phương pháp giá trị tài sản thuần.
- Phương pháp giá trị tài sản thuần đã chỉ ra giá trị của những tài sản cụ thể cấu thành giá trị doanh
nghiệp. Có thể nói, giá trị của các tài sản đó là một căn cứ cụ thể có tính pháp lý rõ ràng nhất về khoản thu
nhập mà người mua chắc chắn sẽ nhấn được khi sở hữu doanh nghiệp. Nó nói lên rằng, số tiền mà người
mua bỏ ra luôn luôn được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thật.
- Phương pháp xác định giá trị tài sản thuần xác định giá trị thị trường của số tài sản có thể bán rời tại
thời điểm đánh giá. Như vậy nó đã chỉ ra rằng có một khoản thu nhập tối thiều mà người sở hữu sẽ nhận
được. Đó cũng lầ một mức giá thấp nhất, là cơ sở đầu tiên để các bên có liên quan đưa ra trong quá trình
giao dịch và đàm phán về giá bán của doanh nghiệp.
- Đối với những doanh nghiệp nhỏ mà số lượng tài sản không nhiều, việc định giá tài sản không đòi hỏi
những kỹ thuật phức tạp, giá trị các yếu tố vô hình là không đáng kể, các doanh nghiệp có chiến lược kinh
doanh không rõ ràng, thiếu căn cứ xác định các khoản thu nhập trong tương lai thì giá trị thuần sẽ trở thành
tiêu chuẩn cơ bản và thích hợp nhất để các bên xích lại gần nhau trong quá trình đàm phán.
Chương 2. Thực tiễn vận dụng phương pháp xác định giá trị tài sản thuần vào định
giá doanh nghiệp Nhà Nước cổ phần hóa.
I, Thực trạng định giả doanh nghiệp ở nước ta và việc vận dụng phương pháp xác định giả trị tài sản
thuần để định giả doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa.
Trên thế giới có nhiều phương pháp xác định giá trị DN, nhưng thực tế hiện tại ở VN có 2 phương pháp
chủ yếu thường được các tổ chức định giá sử dụng là: phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị
tài sản (Phương pháp tài sản) và phương pháp xác định giá trị doanh nghiệptheo dòng tiền chiết khấu
Nhà nước, đó là một trong những yếu tố quyết định thành công của quá trình cổ phần hoá. Một mặt nó đảm
bảo lợi ích thiết thực của nhà nước và lợi ích của người mua doanh nghiệp hay các thành viên trong công ty
cổ phần khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghịêp nhà nước. Mặt khác nó còn có yếu tố tâm lý cho các thành
viên tham gia mua cổ phiếu của doanh nghiệp Nhà nước. Tạo tâm lý ổn định, tin tưởng của các cá nhân tổ
chức khi tham gia quá trình cổ phần hoá, thực hiện tốt mục tiêu kế hoạch Nhà nước đề ra, nhanh chóng
chuyển đổi một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, giải quyết được những vướng mắc, những
bất hợp lý trong quá trình cổ phần hoá. Việc xác định giá trị doanh nghiệp là một vấn đề nan giải gây ra
nhiều tranh cãi và cấp thiết trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước vì vậy việc xác định giá trị
doanh nghiệp là hết sức quan họng trong kế hoạch của nhà nước ta.
Ngoài ra, một số quy định khác về cổ phàn hóa có thể gây cản trở cho việc định giá. Rất nhiều DNNN
phàn nàn rằng các quy định về xác định giá trị các khoản phải thu khó đòi của Bộ Tài chính là quá cứng
nhắc, ví dụ như chỉ được phép xoá nợ khi chứng minh được con nợ đã chết hoặc phá sản. Do vậy, có những
DNNN buộc phải tính các khoản phải thu hầu như không có khả năng thu hồi vào giá trị tài sản của doanh
nghiệp để cổ phần hoá. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng không xóa các khoản nợ
đã bị quá hạn hoặc treo cho những DNNN này. Ket quả là những DNNN đó có thể bị định giá quá cao nên
gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động cổ đông.
Phương pháp định giá theo tài sản thường được sử dụng hiện nay là phương pháp giá trị tài sản thuần.
Theo phương pháp này, giá trị của doanh nghiệp bằng với giá thị trường của toàn bộ tài sản trừ đi cho giá thị
trường của tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp. Phương pháp này thường được áp dụng đối với các doanh
nghiệp bất động sản, các ngành nghề đòi hỏi đầu tư nhiều cho máy móc trang thiết bị như sản xuất, khai thác
mỏ, vận tải, kho vận, các dịch vụ công cộng, bán sỉ và phân phối
Phương pháp này cũng không đưa ra hướng dẫn cụ thể cho việc định giá các tài sản vô hình như danh
tiếng, uy tín trên thị trường, nhãn hiệu hàng hóa, sở hữu trí tuệ do đó việc xác định giá trị của tài sản vô
hình sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người định giá dẫn đến việc giá trị của chứng có thể được định
giá quá cao hoặc quá thấp so với giá trị hợp lý. Ví dụ như việc đánh đồng một thương hiệu hàng hóa đã nổi
tiếng như cà phê Trung Nguyên với một thương hiệu cà phê nào đó có có thể sẽ đánh giá quá cao giá trị của
thương hiệu cà phê này. Việc định giá sở hữu trí tuệ nếu không tính đến đặc thù của các ngành công nghiệp
dựa trên khoa học kỹ thuật cũng như các công ty tập trung đầu tư cho nghiên cứu và phát triển có thể sẽ đánh
giá quá thấp sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.
Vì giá trị doanh nghiệp chỉ là giá thị trường của tồng tài sản thuần của doanh nghiệp tại thời điểm định giá
dùng số liệu kế toán cũ, lạc hậu làm căn cứ nên giá trị tài sản của doanh nghiệp đưa vào CPH thường bị đánh
giá thấp hơn giá trị thực tế. Có tình trạng chung là các hội đồng xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cố ý
hiểu khác đi quy định về cách xác định chất lượng tài sản trong thông tư hướng dẫn (của bộ Tài chính) để hạ
thấp chất lượng nhiều tài sản xuống 20% kể cả nhà cửa, phương tiện giao thông đang sử dụng. Thậm chí
có nơi, như ở cần Thơ, trung tâm Dịch vụ và thẩm định giá tài sản của nhà nước còn sử dụng cả cán bộ chưa
hề qua đào tạo, không có chuyên môn thẩm định tham gia vào việc xác định giá trị doanh nghiệp.
Bởi những nguyên nhân trên, nên có tình trạng: ở công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Phòng, người ta đã hạ
thấp tỷ lệ chất lượng còn lại của tài sản tại doanh nghiệp này hơn 4 tỉ đồng; ở công ty cổ phần cấp nước Sơn
La, giá trị tài sản cũng bị giảm thấp đi 1,8 tỉ đồng Hàng loạt doanh nghiệp khác, qua thanh tra, đã được kết
luận là xác định sai, tính thiếu, làm thấp giá trị tài sản trị giá hàng chục tỉ đồng như : công ty cổ phần đúc
đồng Hải Phòng (1,94 tỉ đồng), công ty thương mại du lịch Bắc Ninh (2,92 tỉ đồng), công ty cổ phần dịch vụ
Minh Hải (không làm hồ sơ quyết toán để xác định giá trị tài sản số tiền trên 4 tỉ đồng); nhà máy Thiết bị
bưu điện (VNPT) khi CPH đã xác định thiếu giá trị lợi thế kinh doanh 3 tỉ đồng
II, Vận dụng phương pháp xác định giá trị tài sản thuần vào việc định giá công ty tấm lợp VLXD Đồng Nai
trong quả trình cố phần hóa
Tiền thân là hãng Etemit của Pháp hoạt động từ năm 1966. Sau khi thống nhất
đất nước, công ty được đổi tên thành Nhà máy Amiăng Ximăng Đồng Nai và sau
đó là Công ty Tấm lợp VLXD Đồng Nai trực thuộc Tổng công ty xi măng Việt
Nam.
Năm 1993, Bộ xây dựng có quyết định đổi tên Nhà máy Amiăng xi măng Đồng
Nai thành Công ty tấm lợp VLXD Đồng Nai trực thuộc Tổng Công ty xi măng Việt
Nam, có nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Fibro ximăng và các VLXD khác.
Năm 2000, Thủ tướng chính phủ có quyết định số 73/2000/QĐ-TTg ngày 21 tháng
6 năm 2000 về việc chuyển Công ty tấm lợp VLXD Đồng Nai ( thuộc Tổng Công
ty Xi măng Việt Nam) sang Công ty cổ phần. Công ty hoạt động theo Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 4703000010 ngày 22 tháng 9 năm 2000 do Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp.
2, Định giá bằng phương pháp xác định giá trị tài sản thuần trong cổ phần hóa
công ty tấm ỉợp, VLXD Đồng Nai.
Sau khi có quyết định của thủ tướng chính phủ, công ty tấm lợp, VLXD Đồng
Giảm:
ỉ, Giới thiệu về công ty tẩm ỉợp, VLXD Đồng Nai.
3. Các khoản phải thu.
4. Hàng tồn kho.
5. TS ngắn hạn khác.
166000
56500
48500
3. Vay dài hạn. 125000
B.TSCĐ và đầu tư dài hạn.
390500
B. Nguồn vốn CSH.
490500
1. TSCĐ hữu hình. 30200 1. Vốn chủ sở hữu. 300000
2. TSCĐ thuê tài chính. 270 2. Nguồn kinh phí và quỹ khác. 190500
3. Chi phí XDCB dở dang. 178000
4. Đầu tư vào công ty con. 30000
5. Đầu tu dài hạn khác. 60400
6. TSDH khác. 91630
7
mA
j_-\
• 7
Tông tài sản.
690500
Tổng nguồn vốn.
690500
1. Giảm khoản phải thu là 66000 trđ.
2. Giảm giá trị hàng tôn kho 65000 trđ.
3. Giảm chi phí xây dựng cơ bản dở dang 8000 trđ.
doanh nghiệp, một số quy định về cổ phần hóa đã gây cản trở cho việc định giá như
các quy định về xác định giá trị các khoản thu khó đòi của Bộ Tài chính quá cứng
nhắc vì thế khi tiến hành định giá có những khoản thu hầu như không có khả
năng thu hồi nhưng doanh nghiệp vẫn phải tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp
để định giá.
Phương pháp định giá bằng phương pháp xác định giá trị tài sản thuần không nói
đến việc định giá những tài sản vô hình như danh tiếng, nhãn hiệu sản phẩm, hàng
hóa, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường nên giá trị của doanh nghiệp khó được
xác định một cách chính xác.
Công ty tấm lợp, VLXD là một công ty lớn nên việc xác định, định giá tài sản trở
nên khó khăn và phức tạp
Chương 3: Phương hướng và biện pháp hoàn thiện việc định giá
doanh nghiệp theo phương pháp xác định giá trị tài sản thuần.
1, Thành lập cơ quan độc lập chuyên thực hiện công tác định giá.
Thành lập doanh nghiệp định giá để đảm bảo và tăng độ chính xác cho việc định
giá doanh nghiệp. Những doanh nghiệp thẩm định giá sẽ được quyền yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, số liệu có liên quan đến tài sản
thẩm định giá. Các công ty này cũng phải tuân thủ các tiêu chuẩn thẩm định giá do
Việt Nam quy định, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước khách hàng về kết
quả định giá của mình. Trường hợp kết quả thẩm định giá không đứng, gây thiệt
hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của
pháp luật. Ngoài ra chính phủ cũng phải hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm
ỉ, Giới thiệu về công ty tẩm ỉợp, VLXD Đồng Nai.
của các doanh nghiệp chuyên thực hiện công tác định giá. Nghiêm cấm việc doanh
nghiệp thẩm định giá thông đồng với đơn vị được thẩm định giá nhằm làm sai lệch
kết quả thẩm định giá, gợi ý hoặc nhân các lợi ích dưới bất kỳ hình thức nào ngoài
giá dịch vụ thẩm định giá, dừng lợi ích vật chất, gây sức ép, mua chuộc đối với đơn
vị được thẩm định giá nhằm làm sai lệch kết quả.
2, Xây dựng hệ thống thông tin giá cả thị trường.
Theo phương pháp giá trị tài sản thuần giá trị doanh nghiệp được xác định giá
việc thẩm định giá trong đó có thẩm định giá trị doanh nghiệp.
ỉ, Giới thiệu về công ty tẩm ỉợp, VLXD Đồng Nai.