Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Quá trình đô thị hoá và sự phát triển nhanh chóng của các thành phố
trên đất nước ta là động lực thúc đẩy và làm thay đổi chất lượng hình ảnh
và không gian kiến trúc đô thị, đặc biệt là kiến trúc nhà ở. Là một bộ phận
của cấu trúc đô thị, loại hình nhà ở chung cư tồn tại trong lòng đô thị cùng
quá trình phát triển của nó. Song hành với sự phát triển đô thị Việt Nam,
chung cư cũng có những biến đổi từ hình dáng đến dân cư sinh sống. Từ
bước khởi đầu là những dãy nhà chung cư thấp tầng, mà người ta hay gọi là
nhà tập thể trong thời kì bao cấp, cho đến những năm gần đây, chung cư đã
có dấu hiệu thay hình đổi dạng. Loại hình nhà ở chung cư cao tầng xuất
hiện ngày càng nhiều ở Hà Nội và các thành phố lớn như là kết quả tất yếu
của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, để rồi nhanh chóng trở thành
xu hướng phát triển nhà ở của đô thị Việt Nam hiện đại. Thế nhưng cho
đến nay, người ta mới chỉ quan tâm tới cơ sở vật chất bên ngoài chứ chưa
nghĩ tới việc phải ứng xử với nó ra sao. Chính vì vậy việc nghiên cứu, đánh
giá và tìm ra một khuôn mẫu phát triển cho văn hóa ứng xử của cư dân
chung cư là vô cùng cần thiết.
Xoay quanh sự phát triển của loại hình nhà ở nói trên, ta cũng thấy
nhiều luồng ý kiến trái ngược nhau, có ý kiến cho rằng chung cư cao tầng
là phát triển tất yếu và hợp lý của nhà ở đô thị, có ý kiến lại cho rằng loại
hình này khó có khả năng giải quyết triệt để vấn đề nhà ở và không thực sự
phù hợp với Việt Nam, cũng có ý kiến nghi ngờ khả năng phát triển lành
mạnh trong tương lai của chung cư cao tầng, xuất phát từ thực trạng xuống
cấp của chung cư cũng như những biểu hiện tiêu cực của lối sống ở chung
cư cũ thấp tầng tại Việt Nam. Để đưa ra cách phân giải cho những ý kiến
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
1
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
trái chiều trên, không còn cách nào khác là phải nghiên cứu chung cư cao
hóa thông tin dày hơn 1300 trang do GS. KTS Ngô Hữu Quỳnh viết đã khái
quát sự phát triển của kiến trúc Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến 1998,
đây cũng là cơ sở khoa học để khóa luận thống kê lịch sử phát triển của loại
hình chung cư tại Việt Nam và Hà Nội trong chương I.
Cũng ở góc độ kiến trúc, cuốn Kiến trúc dân dụng, NXB Đại học XD
và Nhà ở công cộng, NXB Khoa học kĩ thuật đã nêu ra những khái niệm về
chung cư, chung cư cao tầng, cùng với một số luận án TS kiến trúc của Vũ
An Khánh (Nghiên cứu cải tạo nâng cấp các khu nhà chung cư cũ nhiều tầng
xây dựng tại Hà Nội giai đoạn 1960 – 1986), Nguyễn Tố Lăng (vấn đề quy
hoạch cải tạo không gian khu ở tại Hà Nội theo khuynh hướng phát triển bền
vững) đã tìm hiểu về kiến trúc chung cư một cách cụ thể.
Dưới góc độ xã hội học, nổi bật là báo cáo đề tài cấp viện Xã hội học
của Trần Cao Sơn: Chung cư cao tầng, loại hình nhà ở mới Hà Nội, những
vấn đề cần được xem xét, cụ thể là thông qua trường hợp nghiên cứu khu
chung cư cao tầng Bắc Linh Đàm, Hà Nội, kết quả báo cáo dựa trên
phương pháp khảo sát thực địa, điều tra chọn mẫu 30 trường hợp, kết hợp
phỏng vấn sâu 10 trường hợp, từ đó đưa ra một số vấn đề cần điều chỉnh,
bổ khuyết trong việc hoàn thiện chung cư cao tầng sao cho phù hợp với nhu
cầu người dân.
Ngoài ra, còn một số các công trình nghiên cứu dưới góc độ xã hội
học cũng đã đề cập đến vấn đề nhà ở chung cư và đời sống, lối sống của
người dân đô thị trong mô hình nhà ở nói trên như. Xã hội học đô thị, và
Nơi ở và cuộc sống của cư dân Hà Nội (tập 1, 2, NXB Văn hóa thông tin),
đều do Trịnh Duy Luân chủ biên.
Dưới góc độ văn hóa, ta thấy xuất hiện một công trình nghiên cứu về
văn hóa chung cư là đề tài luận văn cao học của Nguyễn Thị Hà Thanh,
trường ĐH KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh, với tiêu đề: Văn hóa chung
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
3
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
trong môi trường chung cư cao tầng như một đối tượng riêng biệt. Trên cơ
sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của những công trình trên, khóa luận triển
khai một đề tài mới: Văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư cao tầng
tại Hà Nội.
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
Có thể phân chia thành 2 đối tượng chính: môi trường tự nhiên
chung cư cao tầng và văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, và môi
trường xã hội chung cư cao tầng và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội
của cư dân sống tại chung cư cao tầng ở Hà Nội. Từ hai đối tượng trên,
khóa luận còn phân chia thành các đối tượng cụ thể để phục vụ cho việc
nghiên cứu như:
- Văn hóa ứng xử với không gian chung khu chung cư.
- Văn hóa ứng xử với căn hộ chung cư.
- Văn hóa ứng xử với gia đình của cư dân chung cư.
- Văn hóa ứng xử với cộng đồng của cư dân chung cư.
2. Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn một khóa luận và điều kiện cho phép, chúng tôi tiến
hành khảo sát nghiên cứu văn hóa ứng xử tại chung cư cao tầng ở Hà Nội
tại phạm vi là các khu chung cư cao tầng (phân biệt với chung cư thấp
tầng), thuộc các khu đô thị mới, hiện đại của thành phố Hà Nội khi chưa
mở rộng với Hà Tây và một số huyện của Hòa Bình, Vĩnh Phúc.
IV. Mục đích nghiên cứu
- Bước đầu tìm hiểu văn hóa ứng xử chung cư cao tầng tại Hà Nội–
một phạm trù văn hóa mới mẻ tại Việt Nam, từ đó có cái nhìn tổng quát về
văn hóa ứng xử với loại hình nhà ở kiểu mới hiện đại, và văn hóa lối sống
của người dân đô thị Việt Nam hiện nay nói chung.
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
5
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUNG CƯ CAO TẦNG VÀ
VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MÔI TRƯỜNG CHUNG CƯ
1.1. Cơ sở lý luận về chung cư cao tầng
1.1.1. Khái niệm chung cư cao tầng
Chung cư là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xây dựng và hiện
nay đã được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Dựa trên
nhiều nguồn tài liệu khác nhau, ta có thể điểm qua một số cách định nghĩa
tiêu biểu về chung cư như sau:
“Chung cư là những khu nhà bao gồm một hay nhiều đơn nguyên,
bên chung cư trong bố trí các căn hộ khép kín cho các gia đình sinh sống.
Chung cư thường xuất hiện nhiều ở các đô thị”. [3]
“Chung cư là dạng nhà ở trong sở hữu đất, trong đó mỗi căn hộ chỉ
giành riêng cho mục đích nhà ở và có lối vào riêng tách rời từ diện tích
chung của khu nhà chung cư. Chủ sở hữu căn hộ có quyền sử dụng chung
tất cả không gian cộng đồng trong khuôn viên khu chung cư”. [13; 5]
“Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang
và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá
nhân. Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân
và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà
chung cư”. (Điều 70 của Luật Nhà ở 2005).
Theo cuốn Kiến trúc dân dụng, NXB Đại học xây dựng, “chung cư
là kiểu nhà tập thể của nhiều gia đình, mỗi gia đình có một căn hộ riêng,
sống độc lập, khép kín. Những căn hộ này lại sử dụng chung nhiều bộ phận
kiến trúc nên được gọi là chung cư”.
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
7
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
Dưới góc độ kỹ thuật - kiến trúc xây dựng, cuốn sách cũng đưa ra
các đặc điểm nhằm phân biệt chung cư với các kiểu nhà khác:
- Bộ phận sử dụng chung là hành lang công cộng trước căn hộ, các
1.1.2. Một số thuật ngữ liên quan
Ngoài thuật ngữ chung cư, khóa luận cũng sử dụng một số các thuật
ngữ khác liên quan:
Căn hộ: Là một đơn vị nhà ở gia đình trong nhà chung cư, bao gồm
1 tập hợp không gian phòng có quan hệ khép kín phục vụ đời sống độc lập
cho một hộ gia đình.
Độc lập và khép kín: Độc lập và khép kín (dùng cho nhà ở) có ý nghĩa
là nguyên tắc cơ bản trong thiết kế, tạo lập căn hộ. Tính chất khép kín của căn
hộ là đầy đủ các không gian chức năng đảm bảo sinh hoạt cho hộ gia đình
sống trong căn hộ, không phải dùng chung với các căn hộ khác. Tính chất độc
lập của căn hộ là căn hộ không bị ảnh hưởng bởi bên ngoài, sinh hoạt gia đình
được đảm bảo tính riêng tư độc lập cả tầm nhìn và âm thanh. [16]
Chung cư kiểu đơn nguyên: Là loại kiến trúc nhà phổ biến ở các đô
thị nhằm tiết kiệm đất xây dựng, tăng được mật độ cư trú. Loại nhà này
thường có vài chục căn hộ (30-80) trong một ngôi nhà có tầng trung bình là
3 đến 5 tầng. Ngôi nhà được chia làm nhiều “đoạn” gọi là đơn nguyên, mỗi
đơn nguyên có một cầu thang chung và mỗi tầng có vài căn hộ sử dụng cầu
thang đó. Phân loại đơn nguyên theo vị trí: đơn nguyên góc, đơn nguyên
giữa, đơn nguyên đầu hồi. Phân loại theo căn hộ: Đơn nguyên hai căn hộ, 3
căn hộ, đơn nguyên 4 căn hộ [17; 15].
Chung cư kiểu hành lang bên: Loại nhà thường gặp trong những
năm 70, 80m kết cấu nhà đơn giản, một cầu thang có thể phục vụ nhiều gia
đình, mức độ ảnh hưởng lẫn nhau của các gia đình khá lớn. So với các nhà
khác, hành lang bên có diện tích giao thông lớn và các căn hộ không được
kín đáo, ấm cúng và yên tĩnh so với nhà đơn nguyên. [17; 22].
Chung cư kiểu hành lang giữa: Trong tòa nhà hành lang giữa, các
căn hộ đặt dọc theo hai bên hành lang. Nhà có thể có một, hai hoặc nhiều
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
9
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
một nét văn hóa mới của đô thị xuất hiện. Khi chủ nghĩa tư bản ra đời, việc
xây dựng chung cư trở nên phổ biến. Đặc biệt, ở những nước phát triển, sự
bùng nổ mới đây của dạng thái đô thị nhà phố (townhouse) đã mang lại sự
thay đổi trong nền văn hóa nhà ở thiên về căn hộ chung cư. Cho đến nay, ở
nhiều quốc gia trên thế giới, lối sống chung cư đã định hình và tạo nên
những bản sắc văn hóa riêng.
Ở Việt Nam, chung cư bắt đầu xuất hiện cùng với sự phát triển của
quá trình đô thị hóa, cùng sự du nhập của kỹ thuật xây dựng phương Tây
sang Việt Nam trong những thập kỉ 40, 50. Khu cư xá Lareygnère được
Pháp xây dựng nhằm phục vụ giới công chức Pháp, nằm trên đường phố
Sài Gòn (khoảng những năm 50) đã đánh dấu sự xuất hiện của công trình
nhà chung cư đầu tiên ở Việt Nam. [5; 353]
Tại Hà Nội, chung cư xuất hiện từ khi thủ đô được giải phóng (1954)
và từ đó đến nay đóng vai trò quan trọng và là minh chứng của những biến
đổi kinh tế - xã hội của thành phố trong từng thời kì lịch sử Dựa trên quá
trình quy hoạch nhà ở của Hà Nội, và theo những bước tiến bộ về số lượng,
chất lượng chung cư và quan điểm thiết kế, khóa luận đã phân kì quá trình
hình thành, phát triển của chung cư và chung cư cao tầng tại Hà Nội theo
3 giai đoạn chính: Từ năm 1954 đến năm 1969, từ năm 1970 đến 1986, và
từ 1986 đến nay. Việc phân kì như trên cũng kết hợp với việc thống kê một
số công trình chung cư tiêu biểu để thấy rõ lộ trình biến chuyển của chung
cư Hà Nội từ chung cư thấp tầng đến chung cư cao tầng về cả 3 mặt: kiến
trúc- kĩ thuật xây dựng, mục đích xây dựng, và đối tượng sinh sống.
1.1.3.1. Từ năm 1954 đến năm 1969 – Thế hệ chung cư thứ nhất
Từ khi giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự giúp đỡ nhiều mặt
của Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa, thành tích xây dựng chủ nghĩa
xã hội của quân dân miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng rất đáng khích
lệ. Kiến trúc cũng góp phần nhất định trong sự nghiệp lớn lao đó.
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
sư thiết kế
Khu Kim
Liên
(Góc
đường
Nam Bộ
và Đại
La)
1960 Gồm dãy nhà chung cư
4 tầng. Nhà được xây
dựng theo kiểu hành
lang giữa, đảm bảo
hướng nắng hướng gió,
có hai đơn nguyên, mỗi
đơn nguyên có 32 hộ,
đi chung một cầu
Kỹ thuật lắp
dựng tấm
nhỏ. Đây là
công trình
đầu tiên được
áp dụng biên
pháp thi công
cơ giới, dùng
Do các
chuyên gia
Triều Tiên
giúp đỡ.
KTS Đàm
Trung
Công Trứ
1960 Nhà 5 tầng, 1 tầng trệt,
4 tầng lầu, thiết kế theo
kiểu hành lang giữa,
bốn hộ chung 1 gian
bếp, 1 gian vệ sinh.
Mỗi hộ chỉ có 1 phòng
diện tích 26m
2.
Kỹ thuật lắp
ghép tấm
nhỏ. Tường
xây gạch, sàn
panen hợp.
KTS
Nguyễn
Ngọc
Ngoạn chủ
trì thiết kế
1.1.3.2. Từ năm 1970 đến 1986 – Thế hệ chung cư thứ 2
Sau năm 1970, số lượng nhà ở trở nên giảm sút do bị chiến tranh tàn
phá, trong khi đó dân số đô thị miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng
tăng lên đáng kể do các nguồn: dân cư trở về sau sơ tán và cán bộ tập kết
miền Nam tìm cách đưa gia đình, vợ con ra Hà Nội. Để đáp ứng nhu cầu
cấp bách về chỗ ở của cư dân, các khu chung cư đã được Nhà nước xây
dựng với quy mô ngày càng lớn và chất lượng từng bước được nâng cao
trong đó ưu tiên phân nhà ở cho cán bộ thuộc biên chế nhà nước, đặc biệt là
người có chức quyền và người có học hàm học vị.
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
13
thể trên bình diện tổ chức các hình thức cư trú của cư dân đô thị. Điều này
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
14
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
được thể hiện trong cấu trúc các căn hộ và “tiểu khu”, ưu tiên đề cao tính tập
thể thay vì đảm bảo tính riêng tư, cá nhân của cư dân sinh sống.
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
Bảng 1.2: Bảng khảo sát một số chung cư được xây dựng ở Hà Nội
những năm 1970 – 1986
Tên khu
chung cư
Năm
xây
dựng
Đặc điểm kiến trúc Kỹ thuật xây
dựng
Kiến trúc
sư thiết kế
Khu Văn
Chương
1970 Kiểu nhà 5 tầng gồm 1
tầng trệt, 4 tầng lầu
Mỗi căn hộ có hai
phòng, vách ngăn cách
hai phòng có cửa ra
vào và cửa thông
thoáng. Dọc theo chiểu
sâu phòng ở là các
phòng để phù hợp cho
từng hộ gia đình.
Khu
Giảng Võ
1972 Nhà chung cư 9 tầng, 1
tầng trệt, 8 tầng lầu.
Các căn hộ khép kín
nhưng không độc lập.
Kỹ thuật lắp
ghép tấm lớn.
Khu
Trung Tự
(Phố
Phạm
Ngọc
Thạch)
1975
hoàn
thành
Nhà 5 tầng, 1 tầng trệt,
4 tầng lầu. Dành cho
12.000 dân, có những
hộ 2 phòng và những
nơi công cộng cho từng
đơn vị 2 hộ
Kỹ thuật lắp
ghép tấm lớn.
Khu
Thanh
Xuân
Dùng móng
cọc, móng
hộp, thi công
lắp ghép và
công nghiệp
hóa toàn
khối.
Sở Xây
dựng Hà
Nội, các
công ty xây
dựng nhà ở
số 1 và số 3
thi công
theo thiết kế
của Viện
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
17
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
Tầng 1 có hai phòng
công cộng để thường
trực và hội họp, tầng
hầm cao 2,50m là nơi
chứa xe đạp, xe máy và
dụng cụ gia đình. Có
cầu thang máy chứa
được 6 người.
thiết kế đô
thị - nông
thôn và
không gian tự nhiên, đa dạng các loại hình công trình nên công tác qui
hoạch, mỹ quan đô thị không thể tùy tiện dựa vào ý thích xây nhà cá thể
của mỗi chủ hộ mà buộc phải nằm trong những phương án cụ thể có tính
toán khoa học và thẩm mỹ. Điều đó có ý nghĩa nhà ở chung cư cũng phải
giải quyết đồng thời nhiều yếu tố: nhà ở, sinh thái, quy hoạch, mỹ quan đô
thị, nếp sống đô thị. Những nguyên nhân trên là điều kiện để thế hệ chung
cư thứ 3 - chung cư cao tầng phát triển nhanh chóng, đây cũng được coi
là bước phát triển đột biến về nhà ở tại Hà Nội.
Việc xây dựng chung cư cao tầng còn được coi là một phương thức
để tăng mật độ cư trú, bổ sung và giải cứu cho hình ảnh buồn tẻ của các
khu dân cư 4 -5 tầng được xây dựng trong thời kỳ trước đổi mới, làm đa
dạng hoá hình ảnh kiến trúc của các khu dân cư nói riêng và của đô thị nói
chung. Không những thế, những thay đổi về luật Xây dựng, luật Đầu tư
cùng các cải tiến trong quản lý hành chính đã thôi thúc việc tham gia xây
dựng nhà ở của nhiều công ty trong và ngoài nước, tạo đà cho kiến trúc nhà
ở Việt Nam phát triển. Năm 1998, tòa nhà chung cư 9 tầng CT4 A tại khu
Bắc Linh Đàm ra đời được coi là kết quả tìm kiếm, thử nghiệm trong việc
quy hoạch - xây dựng nhà ở đô thị, cũng như đã mở ra phong trào xây nhà
chung cư cao tầng ở Hà Nội. Một loạt các chung cư cao tầng đã ra đời trên
các khu đô thị mới như: Khu Định Công, khu Trung Hòa – Nhân Chính,
khu Ciputra, khu đô thị Mỹ Đình I, II… Có thể nói, chung cư bắt đầu có
dấu hiệu thay hình đổi dạng, nhiều chung cư cao cấp đã xuất hiện bên cạnh
những chung cư cũ tồi tàn, xiêu vẹo.
Theo thống kê xã hội học, hiện nay, mật độ bố trí các khu chung cư ở
Hà Nội khá lớn (22,9% diện tích đất nhà ở năm 2007), trung bình 15-20
héc ta/khu, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong xây dựng nhà ở và có vai trò
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
19
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
không gian quan trọng trong quy hoạch Hà Nôi. Về vị trí, khu chung cư
thời kỳ đổi mới.
Đến nay khu có
gần 20 chung cư từ
15 đến 20 tầng với
3150 căn hộ. Căn
hộ chung cư diện
tích 80m2-100m2,
gồm 3 phòng ngủ,
1 phòng khách, 2
phòng tắm, 1
phòng bếp
Tổng công ty
Đầu tư phát
triển nhà và
đô thị (HUD)
xây dựng
Khu Định
Công
(Quận
Gồm các khối nhà
9, 11 và 18 tầng.
gồm 2 phòng ngủ,
Tổng Cty
đầu tư phát
triển nhà và
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
20
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
Hoàng
Mai)
mại, giao dịch
tầng trên là các hộ
chung cư cao cấp).
Điểm nhấn của
khu đô thị mới
Trung Hòa - Nhân
Chính là khối cao
tầng hỗn hợp, khối
cao tầng này sẽ
cùng với Công
viên Mễ Trì tạo
thành một tổ hợp
kiến trúc hài hòa.
Tổng công ty
Xuất nhập
khẩu xây
dựng Việt
Nam
(Vinaconex)
thuộc Bộ
Xây dựng.
Khu đô
thị Mỹ
Đình
(Từ Liêm)
Năm 2005
hoàn thành
Gồm các tòa nhà
chung cư từ 10 đến
25 tầng, mỗi căn
tầng và 3 tầng đế,
tổng vốn đầu tư
395 tỷ đồng. Là
khu nhà ở hiện đại
có tầm cỡ quốc tế
đầu tiên tại Hà
Nội.
Tổng công ty
Xây dựng Hà
Nội.
Khu đô
thị Nam
Trung
Yên
(Thuộc
phường
Yên Hòa
và Trung
Hòa, quận
Cầu Giấy
và xã Mễ
Trì, huyện
Từ Liêm)
2007 cơ
bản hoàn
thành
Gồm các tòa nhà
chung cư tái định
cư cao 13 đến 17
tầng. Mỗi căn bộ
trung tâm
thành phố
7,4km và
nằm kề
với đường
cao tốc
Bắc
Thăng
Long- Nội
Bài, ngay
bên Hồ
Tây)
Được khởi
công xây
dựng từ
2004 và
dự kiến
hoàn tất
vào 2010.
Các chung cư
được xây dựng từ
15 đến 21 tầng,
mỗi tầng chia
thành 8 căn hộ với
diện tích 100 đến
150m2/căn, gồm 3
– 4 phòng ngủ, 2
phòng tắm, 1
phòng khách và 1
phòng bếp.
6 nhà 12 tầng và 1
nhà 17 tầng. Tùy
vào diện tích, mỗi
căn hộ có 2 đến 3
phòng ngủ, 1 đến 2
nhà vệ sinh, 1
Tổng công ty
đầu tư và
phát triển
nhà đô thị
(HUD)
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
23
Khóa luận tốt nghiệp Trịnh Mai Phương
phòng bếp, 1
phòng khách.
1.2. Cơ sở lý luận về văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư
1.2.1. Văn hóa ứng xử
Cho đến nay ở Việt Nam, nhìn chung khái niệm văn hóa ứng xử đã được
gián tiếp và trực tiếp làm rõ qua nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Tác giả Đào Duy Anh (Từ điển Hán Việt) có giải thích khái niệm
“ứng xử” như sau: “ứng: không chủ động hành vi giao tiếp đến với mình
mà con người tìm thái độ, hành vi tích cực nhất đối với hiện thực xung
quanh; “xử”: chủ động với đời, giúp đời và làm việc với đời và có thái độ
tùy thời để có hành vi với mình, cho dù thời thế có suy vong thì con người
dung tài, đức của mình để cải tạo tình thế đó làm cho tình thế tốt (hơn) lên.
Còn tác giả Phạm Minh Thảo (Từ điển học sinh sinh viên) lại định nghĩa
“ứng xử là biết cách ăn ở sao cho vừa lòng người. Ứng xử là ứng biến,
giải quyết công việc một cách kịp thời, hợp với tình hình và mọi điều kiện
thay đổi bất ngờ, không lường trước được để hoàn thành nhiệm vụ khó
trường, và ứng phó với môi trường. Đối với môi trường tự nhiên, việc ăn uống
là tận dụng, còn mặc, ở, đi lại là ứng phó. Đối với môi trường xã hội như các
dân tộc, quốc gia láng giềng, cách thức thể hiện là giao lưu, tiếp biến văn hóa,
đồng thời phải lo ứng phó với họ trên các mặt quân sự ngoại giao.
Nội hàm khái niệm “văn hóa ứng xử” được tập thể tác giả công trình
“Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường tự nhiên” xác định
tương đối đầy đủ hơn: “Văn hóa ứng xử bao gồm các cách thức quan hệ,
thái độ và hành động của con người đối với con người, đối với môi trường
thiên nhiên và đối với xã hội. Văn hóa ứng xử của con người trải qua chu
trình sống, lao động và giao tiếp được chắt lọc, tích tụ lại, biểu hiện thành
những chuẩn mực, những giá trị xã hội được một cộng đồng người nào đó
chấp nhận và được tồn tại dưới dạng nguyên tắc ứng xử, các phương châm
xử thế của con người trong những điều kiện nhất định”. Từ đó các tác giả
Lớp: K55A - Khoa Việt Nam học Trường ĐHSP Hà Nội
25