Sinh viên : Nguyễn Mỹ Linh
MSV : CQ503367
Lớp chuyên ngành: Kế hoạch 50A
Bài tập môn Tài chình tiền tệ
Câu hỏi : cấu trúc vốn của doanh nghiệp? thực trạng cấu trúc vốn
của các doanh nghiệp Việt Nam?
1
I . Vốn và các vấn đề liên quan đến vốn
1. Khái niệm:
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn
phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Các doanh
nghiệp luôn chú ý tới việc quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có
thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau. Doanh nghiệp có
thể huy động từ nợ hoặc từ vốn chủ sở hữu.
- Vốn nợ:
+ Vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.
+ Phát hành trái phiếu.
- Vốn chủ sở hữu:
+ Vốn góp ban đầu.
+ Phát hành cổ phiếu.
+ Lợi nhuận không chia.
2. Chi phí vốn
Chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn được tính bằng số lợi
nhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào dự án hoặc doanh nghiệp để giữ
không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu.
Vì các nguồn vốn khác nhau nên có các chi phí vốn khác nhau. Mỗi một
nguồn vốn huy động sẽ có những chi phí vốn tương ứng.
Một số loại chi phí vốn:
- Chi phí nợ vay:
KKKK
β
−+=
trong đó:
RF
K
là lợi tức của tài sản không có rủi ro
RM
K
là lợi tức mong đợi đối với cổ phiếu có độ rủi ro trung bình
β
là hệ số rủi ro của cổ phiếu.
Phương pháp lãi suất trái phiếu cộng với mức bù rủi ro
Phương pháp luồng tiền chiết khấu:
3
g
P
D
K
i
s
+=
0
trong đó:
P
0
++−=
trong đó: W
d
, W
p
, W
s
là tỉ trọng nợ, tỉ trọng vốn cổ phần ưu tiên và tỷ
trọng vốn cổ phần thường.
+ Ý nghĩa WACC: cho biết chi phí trung bình của một đồng vốn là bao
nhiêu? và trong 1 đồng vốn đó sử dụng bao nhiêu nợ, bao nhiêu là vốn cổ
phần ưu tiên và bao nhiêu vốn cổ phần thường.
- Chi phí cận biên của vốn (MCC): là chi phí tăng thêm khi huy động
thêm được 1 đồng vốn.
II. Cấu trúc vốn
1. Khái niệm
Nhìn vào bảng cân đối tài sản doanh nghiệp thì bên tay trái là tài sản có,
bên tay phải là nguồn gốc tạo ra tài sản có: gồm nợ (các loại) và vốn chủ sỡ
hữu cùng với lợi nhuận được giữ lại của chủ sỡ hữu. Tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ
sỡ hữu gọi là cấu trúc vốn
4
2. Mục tiêu của cơ cấu vốn:
Nghiên cứu cơ cấu vốn nhằm giúp doanh nghiệp xác định được cơ cấu vốn
tối ưu. Vậy cơ câu vốn cơ tối ưu chính là sự cân bằng giữa nợ và vốn chủ sở
hữu. Cơ cấu vốn tối ưu phải hội đủ 4 yếu tố:
+ đảm bảo khả năng thanh toán,
+ đảm bảo chi phí vốn tối ưu thấp nhất,
+ Tạo đủ nguồn vốn cho các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp,
+ mang lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu.
3. Các nhân tố tác động tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp
cá nhân với mức cao thì ưu điểm này của nợ sẽ bị giảm hay trở thành yếu
điểm.
Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sỡ hữu. –
nói đơn giản là lãi suất ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so
với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư. Do đó khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi
ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như gía trị của
công ty. Vì tính chất này mà tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu còn được gọi là tỷ
số đòn bẩy.
Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với chủ sỡ
hữu. Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Những công ty có tỷ lệ nợ cao,
sẽ "nhát tay” trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tư. Chúng cũng có khuynh
hướng giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tương lai như chi phí
6
nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựng thương hiệu. Kết quả là những
doanh nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp.
Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà
cung cấp. Nguy cơ càng cao hơn khi sản phẩm của công ty có vòng đời phục
vụ và bảo hành lâu dài. Ngoài ra công ty có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu
thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tư khi công ty sắp phải ngừng họat động để
trả nợ. Khi có nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn ngoan” sẽ tìm cách
đầu tư dưới mức – underinvestment. Tức là họ sẽ tập trung đầu tư vào nhhững
dự án, rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền
mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này. Trong khi đó những chủ nợ
lại muốn công ty đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị cao trong
tương lai. Và mâu thuẫn vì thế phát sinh.
b. Sử dụng vốn chủ sở hữu:
Một trong những điểm không thuận lợi của vốn chủ sỡ hữu đó là giá thành
(hay chi phí) của nó cao hơn chi phí của nợ. Bởi vì không nhà đầu tư nào bỏ
tiền đầu tư vào công ty gánh chịu những rủi ro về họat động và kết quả kinh
doanh của công ty mà lại chịu nhận tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này
lợi nhuận trên tài sản, và tối đa hóa lợi ích của cổ đông là vấn đề cốt lõi của
tính hiệu quả của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng tốc
độ tăng trưởng doanh thu và thị phần, cho một định nghĩa rộng hơn về hiệu
quả hoạt động.
Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị tác động bởi mục tiêu của công
ty mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường hiệu
8
quả hoạt động của công ty và sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị
trường vốn. Ví dụ, nếu thị trường chứng khoán không phát triển cao thì đo
lường hiệu quả hoạt động theo thị trường sẽ không cho kết quả tốt. Các biến
đại diện cho hiệu quả hoạt động phổ biến là ROA và ROE hay lợi nhuận trên
đầu tư ROI. Ngoài ra, còn có các đo lường hiệu quả hoạt động khác được gọi
là đo lường hiệu quả hoạt động thị trường, như là giá mỗi cổ phần trên thu
nhập mỗi cổ phần (P/E), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ
sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và chỉ số Tobin’s Q. Hiệu quả hoạt động
đo lường bằng ROA và ROE thường được sử dụng nhiều nhất.
Nghiên cứu của Maslis (1983) cho thấy giá của cổ phiếu có tương quan
thuận (dương) với mức độ tài trợ, cung như là mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp với cơ cấu vốn. Trong khoản từ 0,23 đến 0,45 là tỷ lệ nợ
hiệu quả tác động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tối ưu hóa được tỷ
lệ này sẽ có lợi cho doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Wei Xu (2005) cho thấy có mối liên hệ vững chắc về hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp (đo lường bằng ROE) với cơ cấu tài chính:
(1) hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có mối liên hệ cùng chiều (dương) với tỷ
lệ nợ; (2) khi tỷ lệ nợ nằm trong khoảng 24,52% và 51,13%, thì hiệu quả hoạt
động có mối quan hệ theo phương trình bậc hai và bậc ba với tỷ lệ nợ.
Nghiên cứu của Rami Zeitun (2007) cho thấy cơ cấu vốn có tác động hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp khi đo lường theo kế toán và theo chỉ số thị
trường. Tỷ lệ nợ ngắn hạn có tác động dương đến hiệu quả theo thị trường của
doanh nghiệp (đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q).
đó, hiệu quả hoạt động có tương quan âm với tỷ lệ nợ vì lợi ích thu được từ
10
mức vay nợ tăng thêm nhỏ hơn mức gia tăng của chi phí vấn đề người đại
diện.
Giả thuyết hai: Cơ hội tăng trưởng làm tăng hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp. Cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng của tài
sản. Các công ty có tốc độ tăng trưởng cao thì hiệu quả hoạt động cũng sẽ
cao, vì các công ty tăng trưởng có thể tạo ra lợi nhuận từ các khoản đầu tư của
mình. Do vậy, cơ hội tăng trưởng dự tính sẽ tác động dương đến hiệu quả hoạt
động doanh nghiệp.
Giả thuyết ba: Quy mô công ty tác động dương đến hiệu quả hoạt động
doanh nghiệp.
Quy mô của công ty được đo lường bằng giá trị logarith của tổng tài sản. Quy
mô công ty được giả định là tác động dương đến hiệu quả hoạt động doanh
nghiệp do chi phí phá sản giảm cùng với quy mô của công ty. Do vậy, quy mô
của doanh nghiệp dự tính sẽ tác động dương đến hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp.
Giả thuyết bốn: Tài sản cố định của công ty dự tính có tác động dương đến
hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Tài sản cố định được đo lường bằng tổng
giá trị tài sản cố định trên tổng tài sản.
III. Câú trúc vốn của một số doanh nghiệp Việt Nam
− Tổng nợ vay/tổng tài sản bình quân của các công ty là 41,6%; trong đó,
công ty có tổng nợ vay cao nhất là 78,89% và thấp nhất là 3,99%. Công ty
nhà nước có mức tổng nợ vay bình quân là 51,15% cao hơn so với mức bình
quân 38,54% của các công ty khác. Mức tổng nợ vay này thấp hơn, nhưng
chênh lệch không đáng kể so với Trung Quốc là 48,17% (Chen, 2004) và mức
này cũng thấp hơn một chút so với mức bình quân là 51% của các nước đang
11
phát triển (Booth, 2001).
− Tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản bình quân là 30,74%; trong đó cao nhất là
3. Khi huy động vốn phải đánh giá thị trường cũng như xem xét rõ điểm
mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để từ đó có thể chọn giải pháp huy động
vốn tốt nhất.
4. Xác định một cơ cấu vốn trong đó có đòn bẩy tài chính phù hợp, điều này
không những tạo ra khoản tiết kiệm nhờ thuế, giảm chi phí nợ sau thuế, đồng
thời nó cũng làm giảm đi vấn đề xung đột lợi ích giữa người đại lý và người
ủy quyền.
5. Khi doanh nghiệp huy động quá nhiều vốn nợ thì cần phải có những đánh
giá và phải huy động vốn chủ đề giảm thiểu rủi ro về thanh toán cũng như
tránh được rủi ro phá sản.
6. Xác định một cơ cấu vốn tối ưu phải dựa trên những chỉ tiêu: EPS lớn
nhất, chỉ phí vốn nhỏ nhất, lợi nhuận thu được là lớn nhất
13