Khóa Luận Tốt Nghiệp
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm xã hội.
Hành vi này không chỉ trực tiếp xâm phạm an toàn trật tự công cộng mà còn cản
trở hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều
tra, xử lý người phạm tội, gián tiếp khuyến khích người khác phạm tội, phạm tội
nhiều lần. Trong khi nghiên cứu các nội dung cơ bản của loại tội phạm này, hành
vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ít được nghiên cứu đầy đủ và cụ
thể, chưa thật chú ý tới bản chất của nó. Vì thế, việc xác định nguyên nhân và điều
kiện của tội phạm còn hạn chế chưa bám sát với thực tiễn xảy ra. Điều đó, ảnh
hưởng không nhỏ tới việc làm gia tăng tình hình tội phạm này, cũng như đề ra các
biện pháp phòng ngừa đối với tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Mặt khác, các sách báo, tài liệu còn chưa thật quan tâm tới tội phạm này hoặc
có quan tâm nghiên cứu nhưng rất ít. Trong khi đó, hành vi tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có lại đang diễn ra hằng ngày, vừa bí mật, vừa công khai
có thể rất đơn giản hoặc vô cùng tinh vi, phức tạp dưới mọi hình thức nhằm hợp
pháp hoá tài sản có được do thực hiện các hành vi phạm pháp để đưa ra thị trường
tiêu thụ. Hơn nữa, tính chất nguy hiểm của tội phạm này thể hiện ở việc nó có liên
quan mật thiết tới tội phạm “rửa tiền” (loại tội phạm mà hiện nay người ta đã phải
lên tiếng “báo động đỏ” về những con số tiền bị tẩy rửa khổng lồ trên thế giới). Vì
vậy, việc nghiên cứu tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trở nên cấp
thiết để đáp ứng với sự phát triển ngày càng gia tăng của loại tội phạm này cũng
như phù hợp hơn với pháp luật quốc tế.
Với tính chất nguy hiểm của nó như vậy, song các cơ quan tố tụng lại gặp
những vướng mắc trong cách hiểu và vận dụng điều luật khi xét xử do còn thiếu
văn bản hướng dẫn thi hành điều luật. Đây là một kẽ hở, để bọn tội phạm này lợi
dụng thực hiện tội phạm trốn tránh sự truy tố của pháp luật.
Vì vậy, để đáp ứng với yêu cầu mới của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
nói chung, cũng như cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về tiêu thụ tài sản do
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 1
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 2
Khóa Luận Tốt Nghiệp
mà có.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy luật đặc thù của sự phát triển,
những thuộc tính chung, những biểu hiện quan trọng nhất của tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: đề tài được nghiên cứu trên cơ sở pháp luật
hình sự Việt Nam và các văn bản khác có liên quan. Đồng thời, đề tài được nghiên
cứu dựa trên số liệu về sự diễn biến của tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có ở địa bàn huyện từ năm 2005 đến năm 2008 nhằm, góp phần vào
việc tăng cường hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và
tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nói riêng trên địa bàn huyện.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp luận Mác Lê Nin: là phương pháp nghiên cứu nghiên cứu các
hiện tượng xã hội trong sự phát triển lịch sử cụ thể, trong mối liên hệ mật thiết với
những yếu tố quy định chúng và gắn liền với đời sống thực tế.
Đề tài đã sử dụng phương pháp luận Mác Lê Nin để nghiên cứu những vấn đề
cơ bản nhất của tội phạm này dưới góc độ tội phạm học, đồng thời sử dụng những
phương pháp đặc thù trong tội phạm học nhằm làm rõ nguyên nhân, điều kiện của
tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội, số lượng tội phạm ẩn, tội phạm
thống kê, thực trạng tình hình tội phạm (phương pháp thống kê, phương pháp phân
tích, tổng hợp). Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp so sánh pháp luật để so
sánh các văn bản pháp luật khác nhau có quy định về tội tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có để so sánh, từ đó rút ra những điểm mới tiến bộ cũng như
những hạn chế của các văn bản pháp luật hiện hành.
6. Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung được chia làm 3
chương:
Ở Việt Nam, tài sản để thục hiện hành vi tiêu thụ ở đây bao gồm: “vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [6, 83]. Như vậy, đối tượng của tội tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có chỉ có thể là tài sản. Tài sản do người khác
phạm tội mà có, có thể là tài sản của Nhà nước, của tổ chức, hoặc của công dân.
[16, 446] Người tiến hành hoạt động tiêu thụ ở đây rất đa dạng thể hiện dưới các
hình thức khác nhau nhằm thu lợi bất chính. Tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có là hành vi mua, trao đổi, nhận hoặc giúp cho việc mua bán, trao đổi tài
sản mình biết rõ là tài sản do hành vi phạm tội của người khác mà có (do trộm cắp
tài sản, cướp tài sản…)[34,764]. Hành vi phạm tội của người khác đó có thể là bất
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 5
Khóa Luận Tốt Nghiệp
kỳ tội phạm nào đựơc quy định trong BLHS mà kết quả trực tiếp của nó là chủ thể
có được tài sản một cách bất hợp pháp. Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội ở tội này được thực hiện không có sự hứa hẹn trước với người có tài sản
do phạm tội mà có. Do vậy, hành vi tiêu thụ không có tác động đến việc thực hiện
tội phạm của người có tài sản do phạm tội mà có. Đây là điểm khác so với hành vi
giúp sức trong đồng phạm. Hành vi có hứa hẹn trước có tác động đến việc thực
hiện tội phạm do đó được coi là hành vi giúp sức trong đồng phạm.
1.1.2. Vài nét về sự hình thành của tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có
1.1.2.1. Dưới chế độ phong kiến đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945
Ở thời kỳ này pháp luật nước ta phải kể đến bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là
Quốc triều hình luật. Mặc dù chưa có định nghĩa pháp lý về tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có, nhưng bộ luật đã đề cập loại tội phạm này tại nhiều
điều luật. Điều 294 Quốc triều hình luật quy định: “Giữa ban ngày ăn cắp vặt cũng
xử tội đồ, đã lấy được của thì phải bồi thường một phần tang vật. Những kẻ chứa
chấp thì bị buộc tội nhẹ hơn một bậc và bắt bồi thường một phần ba tang vật. Kẻ
biết việc mà không cáo giác bị tội nhẹ hơn hai bậc”. Trong điều luật này hành vi
tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được các nhà làm luật đánh giá là ít
nguy hiểm hơn so với tội không tố giác tội phạm. Hành vi chứa chấp và tiêu thụ
Thời kỳ đầu, tại sắc lệnh số 26/SL ngày 25 tháng 2 năm 1946 trừng trị
nghiêm khắc những kẻ phá hoại cầu cống, đường giao thông, dây điện thoại… đã
đề cập tới tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau: “những kẻ oa
trữ các dây điện thoại hay dây điện tín cũng bị phạt như những kẻ ăn trộm các đồ
vật ấy”. Trong quy định này phạm vi đồng phạm được quy định rộng, bao gồm cả
hành vi oa trữ, tức là hành vi tiêu thụ và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội
mà có, không phân biệt có hứa hẹn trước hay không.
Có thể thấy rằng, luật cũng chưa quy định tội tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có thành tội danh riêng mà coi việc xử phạt người có hành vi này như
là người chính phạm, không phân biệt giữa hành vi oa trữ là đồng phạm nếu có hứa
hẹn trước với hành vi oa trữ không phải là đồng phạm mà là tội danh riêng biệt nếu
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 7
Khóa Luận Tốt Nghiệp
không có sự hứa hẹn trước [33, 7].
Để quy định cụ thể hơn về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có, Nhà nước đã ban hành pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghĩa tại điều 17 và pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công
dân tại điều 13 (ban hành vào ngày 21 tháng 10 năm 1970). Trong các văn bản này
thì tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có mới được quy định thành
chương riêng.
Nhưng theo hai pháp lệnh này, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có có khách thể là quan hệ sở hữu và được xếp vào nhóm tội cố ý trực tiếp xâm hại
tới tài sản. Hơn nữa, trong các pháp lệnh đó cũng chưa có sự phân biệt giữa hành
vi tiêu thụ và hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm
độc lập nếu không có sự hứa hẹn, thỏa thuận trước giữa những người chứa chấp,
tiêu thụ với những người có tài sản do chiếm đoạt mà có. Sự phân biệt hành vi
chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cấu thành tội độc lập với
hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có cấu thành
hành vi đồng phạm được thể hiện trong văn bản giải thích luật liên nghành của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an [29, 207]
Trong lần sửa đổi bổ sung BLHS năm 1985 (lần thứ 2 năm 1991), quy định
về hình phạt của tội này đã được sửa đổi theo hướng phân hóa trách nhiệm hình sự
một cách rõ hơn. Cụ thể, điều 201 được cấu tạo bởi ba khung hình phạt, trong đó
có một số tình tiết định khung tăng nặng được quy đinh bổ sung thêm. Đồng thời,
hình phạt tiền là hình phạt bổ sung thay đổi từ một nghìn đồng đến năm mươi
nghìn đồng thành từ 1 triệu đồng tới 50 triệu đồng.
Như vậy, BLHS năm 1985 đã có một số điểm tiến bộ sau:
-Thứ nhất, tội danh tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật
hình sự sửa đổi có tính khái quát cao hơn, nội hàm rộng, chính xác hơn.
-Thứ hai, thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật, tạo điều kiện
cá thể hóa trong áp dụng luật
1.1.2.4. Từ năm 1999 cho tới nay
Kế thừa những điểm lập pháp tiến bộ của BLHS năm 1985, hiện nay tội tiêu
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 9
Khóa Luận Tốt Nghiệp
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại điều 250 của BLHS
năm 1999 và nằm trong chương XIX về các tội phạm xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng:
"Điều 250. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do
người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm
đến bảy năm:
a) Có tổ chức.
b) Có tính chất chuyên nghiệp.
c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn.
d) Thu lợi bất chính.
e) Tái phạm nguy hiểm.
Thứ hai: tiếp tục phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật bằng việc quy định
ba khung hình phạt tăng nặng, trong đó có quy định các tình tiết tăng nặng định
khung hình phạt củ thể như: có tổ chức, có tính chuyên nghiệp, tài sản, vật phạm
pháp có giá trị lớn, thu lợi bất chính lớn; tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt
lớn, thu lợi bất chính có giá trị đặc biệt lớn.
Thứ ba, quy định thêm hình phạt bổ sung để tăng mức trừng phạt, răn đe đối
với loại tội phạm này.
1.2. Dấu hiệu pháp lý về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có theo quy định của BLHS năm 1999
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình
sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý”
[8,19]và “chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định thì mới coi
là tội phạm…”[8,15].
Khi xem xét một hành vi vi phạm pháp luật có phải là tội phạm hay không
chúng ta phải xem xét một cách tổng thể các yếu tố cấu thành tội phạm, tội phạm
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 11
Khóa Luận Tốt Nghiệp
là tổng hợp thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan gồm những bộ
phận cấu thành chúng. Cấu thành tội phạm được tạo thành tổng hợp các dấu hiệu
pháp lý đặc trưng: mặt khách quan, khách thể, chủ thể, mặt chủ quan. Những dấu
hiệu của của cấu thành tội phạm là căn cứ để xác định một hành vi vi phạm pháp
luật nào đó có phải là tội phạm hay không, để từ đó làm cơ sở pháp lý để truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
1.2.1. Khách thể của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
“Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến”. [17, 79] Khách thể trực tiếp của tội tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là trật tự quản lí nhà nước đối với tài sản
do phạm tội mà có. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, tội phạm này lại chủ yếu xâm
phạm đến hoạt động điều tra, thu hồi tài sản có nguồn gốc do phạm tội mà có.
Nhiều trường hợp hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có đã gây ảnh hưởng đến
Ví dụ: Đào Thị L biết rõ Nguyễn Văn T trộm cắp được một gói thuốc phiện
có trọng lượng 0.5kg. T nhờ L giữ hộ khi nào cần T sẽ lấy. Khi cơ quan điều tra
khám nhà L vì L có hành vi tổ chức đánh bạc thì phát hiện 0,5 kg thuốc phiện. L
khai của T gửi. Hành vi cất giữ 0.5 kg thuốc phiện của Đào Thị L là hành vi chứa
chấp tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng L không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội này mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất
ma túy qui định tại điều 194 BLHS năm 1999.
Thứ hai là hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là
trường hợp biết rõ tài sản có được là tài sản do người phạm tội nhưng vẫn nhận
hoặc mua để dùng, nhận để bán lại hoặc giới thiệu để người khác mua, chuyển tài
sản đó cho người khác theo yêu cầu của người phạm tội…Cũng như đối với trường
hợp chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, nếu người phạm tội có hành
vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tài sản đó là đối tượng của tội
phạm khác thì người có hành vi tiêu thụ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
tương ứng theo quy định của BLHS.
Ví dụ: Bùi Văn H là thủ kho vật liệu nổ của công ty Z175 đã lấy thuốc nổ
trong kho đem gạ bán cho Đỗ Trung Q. Q biết rõ thuốc nổ mà H gạ bán cho mình
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 13
Khóa Luận Tốt Nghiệp
là thuốc nổ do H chiếm đoạt nhưng vẫn mua. Hành vi tiêu thụ thuốc nổ do H phạm
tội mà có của Q sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “mua bán trái phép vật
liệu nổ” qui định tại điều 232 bộ luật hình sự.
Dù là tội chứa chấp hay tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì
người chứa chấp hoặc tiêu thụ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này
nếu họ không hứa hẹn trước. Nếu người có hành vi hoặc tiêu thụ có hứa hẹn trước
với người phạm tội thì họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà
người phạm tội thực hiện để có tài sản mà họ tiêu thụ.
Việc xác định có sự hứa hẹn trước hay không hứa hẹn trước của người tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong một số trường hợp rất khó. Trước
năm 1989, người tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tuy không hứa hẹn
phạm tội mà có. Bởi vì nếu chỉ tính hành vi trộm cắp xe đạp của H thì chưa đủ cấu
thành tội phạm vì chiếc xe trị giá chưa đến 500.000 đồng và trước khi H thực hiện
hành vi trộm cắp chiếc xe đạp thì H cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi
chiếm đoạt hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, hành vi trộm
cắp xe đạp của H cũng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng.
1.2.3. Chủ thể của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
“Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt một độ
tuổi nhất định và đã thực hiện một hành vi phạm tội” [26,33]. Trong đó, năng lực
trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội
của hành vi ấy. Còn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12
BLHS năm 1999:
“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”
Như vậy, chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình
sự, từ đủ 16 tuổi trở lên, đã thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có. Ngoài ra, đối với trường hợp người thực hiện hành vi tiêu thụ ở độ tuổi
từ đủ 14 đến 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 15
Khóa Luận Tốt Nghiệp
1.2.4. Mặt chủ quan của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm. Đó là những biểu
hiện về mặt tâm lý của người phạm tội, khi thực hiện hành vi phạm tội bao gồm
lỗi, động cơ, mục đích.
1.2.4.1. Dấu hiệu lỗi
“Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý
hoặc vô ý”.[17,128]
phạm tội" là bảo đảm tính chuẩn xác. Vì nếu chỉ nói do phạm tội là chưa đủ vì
hành vi phạm tội có thể do một tổ chức, cơ quan thực hiện. Mà theo quy định của
BLHS Việt Nam thì không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cơ quan, tổ chức.
Vì vậy, nếu người tiêu thụ tài sản không do người khác phạm tội mà có thì cũng
không bị coi là hành vi phạm tội.
1.2.4.2. Động cơ phạm tội
“Là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố
ý”. [17,144]
Động cơ phạm tội của loại tội phạm về tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có ở đây là động cơ vụ lợi.
Mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này
1.3. Đường lối xử lý tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
1.3.1. Đường lối xử lý tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
theo khoản 1, 2, 3, 4 điều 250 BLHS năm 1999
Để cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này có hiệu quả, góp phần làm hạn
chế và tiến tới loại bỏ dần nó ra khỏi đời sống xã hội và thể hiện tinh thần chủ
động phòng ngừa tội phạm. BLHS năm 1999 đã đưa ra đường lối xử lý tội tiêu thụ
tài sản do người khác phạm tội mà có qua 4 khung hình phạt cơ bản và 1 khung
hình phạt bổ sung. Cụ thể:
- Theo quy định tại khoản 1 điều 250 BLHS, thì người phạm tội tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng,
phạt cảnh cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến ba năm,
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 17
Khóa Luận Tốt Nghiệp
là tội phạm ít nghiêm trọng. Đây là trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng
nặng.
Khi quyết định hình phạt, nếu người có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có
tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể
được áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ: nếu có nhưng mức độ
giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến 3 năm tù.
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trong hai
trường hợp quy định tại khoản 4 của điều luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ,
không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể,
thì có thể được áp dụng hình phạt dưới 7 năm tù nhưng không được dưới 5 năm tù.
Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 4 của điều luật hoặc tuy chỉ thuộc
một trường hợp nhưng tập trung nhiều tình tiết quy định tại khoản 2, khoản 3 của
điều luật và có nhiều tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có
nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến 15 năm tù.
- Ngoài hình phạt chính, người phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến 30 triệu đồng, tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.
Khi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cần
chú ý chỉ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung nếu không áp dụng hình phạt
tiền là hình phạt chính.
1.3.2. Tình tiết định khung tăng nặng
1.3.2.1. Có tổ chức
Cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác, phạm tội tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa
những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành,
người xúi giục, người giúp sức.
Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có tổ chức thường được biểu
hiện như: chuẩn bị kho, bãi chứa hàng, tổ chức mạng lưới tiêu thụ, làm giả giấy tờ,
mua hoá đơn, chứng từ, mua chuộc cán bộ có chức vụ quyền hạn để tiêu thụ tài sản
dễ dàng…
1.3.2.2. Có tính chất chuyên nghiệp
Cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khác, tiêu
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 19
Khóa Luận Tốt Nghiệp
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có tính chất chuyên nghiệp là thể hiện ở
chỗ người phạm tội lấy việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là
- Thu lợi bất chính đặc biệt lớn
Trường hợp phạm tội ngày cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm d
khoản 2, điểm b khoản 3 của điều luật, chỉ khác là do chứa chấp, tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có mà người phạm tội thu lợi bất chính đặc biệt lớn.
Được coi là thu lợi bất chính đặc biệt lớn do hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có từ 45 triệu đồng trở lên.
1.3.2.5. Tái phạm nguy hiểm
Tương tự như trường hợp tái phạm nguy hiểm đối với người phạm tội với
người phạm các tội khác, người phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội
mà có thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là người đã bị kết án về tội rất nghiêm
trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội
thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều 250 bộ luật hình sự hoặc đã tái phạm,
chưa được xoá án tích mà lại phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có.
Như vậy, người phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chỉ có thể là trường hợp tái phạm, chưa
được xoá án tích mà lại phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có, vì nếu đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm
trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội thuộc quy định tại khoản 3
điều 250 BLHS năm 1999 thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo khoản 3 của điều luật.
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 21
Khóa Luận Tốt Nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI
MÀ CÓ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN
2.1. Tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên địa
bàn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An
2.1.1. Vài nét về tình hình phát triển kinh tế-xã hội ở huyện Diễn Châu
tỉnh Nghệ An
xóa mù chữ cho trẻ em đặc biệt là những trẻ em ở vùng sông nước ít khi được đến
trường.
Tuy nhiên, huyện Diễn Châu vẫn còn có những khó khăn:
Lẽ thường thuận lợi đi liền với khó khăn, thời cơ đi đôi với thách thức, Diễn
Châu cũng không nằm ngoài cái lẽ thường đó. Diễn Châu là huyện đồng bằng ven
biển, địa hình hẹp về chiều ngang. Bởi vậy, nếu mưa lớn thì lũ lụt sẽ đến nhanh,
gây ngập úng trên diện rộng làm thiệt hại về kinh tế, hoa màu. Mặt khác, lũ lụt
thường xuyên cũng ảnh hưởng rất lớn đến độ phì nhiêu của đất, làm cho đất mất
màu hay sự nhiễm mặn do ảnh hưởng của thuỷ triều nước lợ.
Đa số người dân ở đây kiếm sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản, còn lại là
phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập bình quân đầu
người còn thấp, hộ nghèo vẫn còn nhiều. Trình độ dân trí còn thấp, số trẻ em bỏ
học, trốn học, thất học còn diễn ra khá phổ biến, ý thức pháp luật của người dân
còn kém, nhiều người còn trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho tội phạm làm cho tỷ
lệ người phạm có chiều hướng tăng. Tỷ lệ người không có việc làm, thất nghiệp và
kéo theo đó là các tệ nạn xã hội và tội phạm gia tăng gia tăng. Đây là một thách
thức của huyện trong việc đảm bảo phát triển kinh tế xã hội đi đôi với việc ngăn
chặn những mặt trái của nó.
Một số doanh nghiệp nhỏ nằm trên địa bàn huyện đi vào hoạt động sản suất
kinh doanh đạt doanh thu chưa cao, nhiều sản phẩm truyền thống như: chế biến
đông lạnh, các loại nông sản, nước mắm, sản xuất muối…chưa tìm được thị trường
tiêu thụ ổn định. Sản xuất công nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, số doanh nghiệp
sản xuất ổn định trên địa bàn còn ít nhiều tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Cơ sở hạ
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 23
Khóa Luận Tốt Nghiệp
tầng chưa được đầu tư so với tốc độ phát triển hiện nay của huyện. Giá trị sản xuất
nông nghiệp đạt thấp hơn so với cùng kỳ 8,4% . Sản lượng lúa cả năm bằng 81,8
%; ngô bằng 72,2%. Chăn nuôi tăng chậm, vẫn để xẩy ra dịch cúm gia cầm ở một
số xã trong huyện. [3, 2]
2.1.2. Tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trên
bị đối tượng khai ra, vì lúc mua chỉ có một người mua người bán (một chứng một
cung) không có người thứ ba. Và một vấn đề nữa là các đối tượng trộm cắp chó
mang đi bán không bao giờ nói đây là con chó trộm cắp được. Chính vì vậy không
thể xử lý đối tượng tiêu thụ được.
Việc hình thành ổ nhóm tiêu thụ nhằm hợp thức hóa xe gian cũng khá phổ
biến, các đối tượng không chỉ liên kết nhỏ hẹp ở địa bàn huyện mà còn có sự tham
gia của các đối tượng ở tỉnh khác. Điển hình như vụ án Nguyễn Văn Hiếu cùng
đồng bọn đang được viện kiểm sát truy tố về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có. Ngoài ra, việc tiêu thụ tài sản có nguồn gốc không
rõ ràng ở các cửa hàng bán phụ tùng xe máy, ô tô cũng đang khiến các cơ quan có
thẩm quyền nhức nhối và khó xử lý (đây chính là nơi tiêu thụ đồ trộm cắp phụ tùng
xe máy ô tô là nhiều nhất). Trong 3 năm gần đây, nếu điểm lại các vụ án về tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, có rất ít vụ việc xảy ra tại khu vực buôn
bán hàng phụ tùng xe các loại .Vì vậy, phụ tùng ô tô xe máy ăn cắp được bán công
khai.
Qua thực tế diễn biến tình hình tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có trên địa bàn huyện Diễn Châu, chủ yếu là các hình thức tiêu thụ nhỏ và vừa, có
thể thấy các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội thường rất tinh vi và ít khi bị
phát hiện. Hiện tượng người dân mua đồ gian vẫn còn nhiều vì ham rẻ, lợi nhuận
cao nên họ đã bất chấp. Các lực lượng trinh sát của cơ quan công an còn mỏng,
chưa có thể xử lý được hết các hành vi phạm tội cũng như ngăn chặn các loại tội
phạm có tính chất “nguồn” liên quan đến hành vi tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có. Vì thế cho nên, cần sự phối hợp của tất cả người dân với cơ quan
có thẩm quyền để hạn chế bớt loại tội phạm này xảy ra.
SVTH: Nguyễn Thị Lan Anh 25