MỤC LỤC
MỤC LỤC…………………………………………………………………… 1
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………2
TÓM TẮT NỘI DUNG……………………………………………………….3
Chương 1: Tổng quan về khoáng sản và khai thác khoáng sản ở Lào Cai 5
1.1. Khái niệm chung về tài nguyên khoáng sản ………………………… 5
1.2. Tài nguyên khoáng sản tỉnh Lào Cai………………………………… 5
Chương 2: Hiện trạng khai thác tại mỏ apatit Lào Cai (mỏ Cóc) và mỏ
đồng Sin Quyền……………………………………………………………….8
2.1. Lịch sử khai thác…………………………………………………… …8
2.2. Quy mô khai thác……………………………………………………….9
2.3. Công nghệ khai thác…………………………………………… ……10
Chương 3: Tác động đến môi trường trong khai thác khoáng sản………12
3.1. Hiện trạng môi trường………………………………………………….12
3.2. Nguồn gây tác động……………………………………………………13
3.3. Đối tượng chịu tác động………………………………… ………… 15
Chương 4: Biện pháp khống chế và giảm thiểu tác động…………… … 17
5.1. Các biện pháp khống chế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí 17
5.2. Các biện pháp khống chế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước…… 18
5.3. Khống chế ô nhiễm do chất thải rắn…………………………………….19
5.4. Các biện pháp giảm thiểu tác động đến các hệ sinh thái……………… 19
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ……………………………………………… 20
1
LỜI MỞ ĐẦU
Được sự giúp đỡ của khoa Khoa học Môi trường & Trái Đất – Đại học Khoa
học, 52 sinh viên lớp cử nhân Khoa học Môi trường K4 của chúng tôi đã có
chuyến đi thực tế đầy bổ ích tại tỉnh Lào Cai. Dưới sự hướng dẫn tận tình của
các thầy cô giáo trong đoàn, chúng tôi đã thu nhận được rất nhiều những kiến
thức quý báu. Trong vòng 6 ngày, lớp chúng tôi được tới tham quan rất nhiều
nơi, đầu tiên là khu khai thác quặng apatit mỏ Cóc – Cam Đường. Sau đó chúng
tôi theo đoàn tới thăm cửa khẩu Lào Cai, mỏ đồng Sin Quyền, vườn quốc gia
trường sẽ tác động ngược trở lại với chính cuộc sống con người, làm ảnh hưởng
tới sức khỏe của chính bản thân chúng ta. Vì vậy cần có biện pháp khai thác tài
nguyên khoáng sản một cách bền vững và giảm thiểu những tác động có hại của
nó tới môi trường.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHOÁNG SẢN VÀ KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN Ở LÀO CAI
1.1. Khái niệm chung về tài nguyên khoáng sản
Khái niệm: "Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp
chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả
năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống
hàng ngày".
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ
khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động
mạnh mẽ đến môi trường sống. Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật
chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người. Bên cạnh đó,
việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi,
kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v ).
Phân loại
• Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước
khoáng).
• Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh
ra trên bề mặt trái đất).
• Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại
màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu
xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy).
1.2. Tài nguyên khoáng sản tỉnh Lào Cai
Nguồn tài nguyên khoáng sản là một trong những thế mạnh để ngành công
nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản khẳng định là ngành công nghiệp mũi
Công suất khai thác: 3.000 m3/ năm.
6
Phương thức khai thác: Lộ thiên, phương pháp khai thác thủ công.
Mỏ đá Cốc san:
Công suất khai thác: 3.000 m3/ năm.
Phương thức khai thác: Lộ thiên, phương pháp khai thác thủ công.
Mỏ Khai thác cát Vạn Hòa:
Công suất khai thác: 3.000 m3/ ngày.
Phương thức khai thác: Bơm hút trực tiếp từ dưới lòng sông lên.
Hình 1.1: Tinh thể apatit Hình 1.2: Quặng đồng
7
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG KHAI THÁC TẠI MỎ APATIT LÀO CAI
(MỎ CÓC) VÀ MỎ ĐỒNG SIN QUYỀN
2.1. Lịch sử khai thác
Mỏ Apatit – Lào Cai
Vùng mỏ Apatit Lào Cai được phát hiện từ năm 1924 do ông Trần Văn Nỏ
người dân tộc tày thuộc làng Hẻo xã Cam Đường huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
phát hiện ra trong muốn chuyến đi rừng và kê bếp nấu ăn. Vào năm 1940 – 1944
thực dân Pháp bắt đầu thực hiện khai thác quặng apatit tại Cam Đường. Từ năm
1945 ÷ 1954 là giai đoạn tạm dừng khai thác. Và từ năm 1955 đến nay Nhà nước
Việt Nam giao cho Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam quản lý và
khai thác.Từ năm 1977, thực hiện sự chỉ đạo của Nhà nước, với sự hợp tác giúp
đỡ của Liên Xô đã xây dựng dự án cải tạo mở rộng sản xuất vùng mỏ Apatit Lào
Cai. Sau quá trình đầu tư cải tạo mở rộng năng lực sản xuất đã được nâng lên,
trong đó có đầu tư đưa vào sản xuất từ cuối năm 1994 nhà máy tuyển làm giàu
quặng với công suất thiết kế 760.000 tấn/năm.
- Về tổ chức sản xuất và quản lý: Từ 01/04/1998 Xí nghiệp xây lắp Mỏ
hợp nhất với Mỏ Apatit Lào Cai thành Xí nghiệp Liên hợp Apatit Lào Cai.
Tháng 2 năm 1993 Xí nghiệp Liên hợp Apatit Lào Cai đổi tên thành Công
thác
1,9 – 2 triệu tấn/năm 1,1 – 1,2 triệu tấn/năm
(quặng nguyên khai)
Sản lượng
Từ năm 1956 đến năm
2005:
- Quặng Apatit loại I: 14,
triệu tấn.
- Quặng Apatit loại II: 3
triệu tấn.
- Quặng Apatit loại III:
Khoảng 40 triệu tấn.
- Quặng Apatit tuyển: 2,5
triệu tấn.
Và nhiều loại sản phẩm
khác như: Phân bón
Trung bình mỗi năm là:
+ Đồng điện phân 99,95%
Cu: 10.159 tấn/năm
+ Vàng thỏi 99,95% Au: 341
kg/năm
+ Bạc thỏi 99,95% Ag: 146
kg/năm
+ Axit sunfuric 93% H
2
SO
4
:
40.000 tấn/năm
+ Tinh quặng sắt 65% Fe:
Phân cấp cyclon
Tuyển tách Cu – S
Tuyển vét I
Tuyển tinh Cu (I)
Tuyển tinh Cu (II)
Tuyển vét Cu – S
Tuyển chính S
11
Quặng nguyên khai
Tuyển vét S
Tuyển tinh S (II)
Tuyển vét II
Tuyển tinh nhanh Tuyển tập hợp
Tuyển thô nhanh
Bể cô đặc S
Máy lọc đĩa
Tuyển quặng S
Bể cô đặc Cu
Máy lọc khung bản
Tuyển quặng Cu
Tuyển tách S (I)
Tuyển tách S (II)
Tuyển chính Fe
Tuyển tinh Fe
Tuyển quặng Fe
Máy lọc đĩa
Tuyển tinh S (I)
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG TRONG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN
Hình 3.1: Khai trường mỏ Cóc (tác giả: Nguyễn Thu Hương)
Tại mỏ đồng Sin Quyền, có mtj dòng suối nhỏ dẫn nước qua nhà máy tuyển
thì thấy nước có màu vàng đậm. Hiện tượng này là do bị ô nhiễm hóa chất trong
quá trình tuyển nổi. Điều này cho thấy công nghệ xử lý nước thải ở đây chưa đạt
yêu cầu, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
Nhìn chung môi trường xung quanh các mỏ có hiện tượng nổi cộm đó là ô
nhiễm bụi do lưu lượng phương tiện vận chuyển quặng qua lại rất lớn. Lượng
bụi lớn gây nên hàng loạt các bệnh nghề nghiệp cho người công nhân. Vì vậy
trước mắt cần tìm những biện pháp hữu hiệu nhất để làm giảm lượng bụi trên
các khai trường,…
3.2. Nguồn gây tác động
Nguồn gây tác động tới môi trường không khí
Trong quá trình khai thác khí thải phát sinh từ hoạt động khai thác, vận
chuyển, lưu trữ nguyên liệu, sản phẩm, các hoạt động giao thông vận tải và một
số hoạt động liên quan khác. Cụ thể như sau:
- Khí thải từ công nghệ khai thác
+ Bụi và các chất ô nhiễm do khoan, nổ mìn, ủi tạo đống quặng để đưa vào
chế biến
+ Tiếng ồn, độ rung phát sinh từ hoạt động nổ mìn, của máy xúc, ô ủi, xe
ben vận chuyển
13
+ Các quá trình hoạt động chế biến quặng cũng có khả năng phát sinh lượng
bụi rất lớn.
Công nhân làm việc tại công trường khai thác sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ
những tác động của bụi và mức ồn, rung nêu trên.
- Khí thải từ hoạt động giao thông vận tải
Trong quá trình khai thác, hàng ngày sẽ diễn ra các hoạt động giao thông vận tải
chuyên chở các loại nguyên - nhiên - vật liệu và sản phẩm cùng các loại phương
tiện đi lại của công nhân ra khai trường sẽ làm phát sinh khí thải như bụi, SO
x
,
Chất thải rắn phát sinh bao gồm các chất thải rắn trong quá trình khai thác
quặng, sản xuất và rác thải sinh hoạt, gây tác động đến môi trường đất, nước và
không khí. Các nguồn phát sinh chất thải rắn bao gồm:
Chất thải rắn trong quá trình khai thác chủ yếu là lượng đất đá bề mặt sau khi
bóc tách. Lượng đất đá này rất lớn, ví dụ : ở mỏ Cóc để có được 1 tấn quặng
apatit cần bóc 5 – 7 m
3
đất đá. Ở mỏ đồng Sin Quyền thì để có được 1 tấn quặng
thể tích đất đá cần bóc tách lên tới khoảng 12 m
3
.
Chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất chủ yếu là đất đá sau khi
tuyển quặng. Đất đá này được hoàn trả lại địa hình sau khai thác.
Chất thải rắn sinh hoạt của cán bộ công nhân viên làm việc tại khai trường
bao gồm hộp giấy, bao nylon, giấy vụn, thủy tinh, thức ăn thừa…
Bùn cặn lắng từ hệ thống tự hoại của nhà vệ sinh di động trên khai trường
Nguồn gây tác động không liên quan đến chất thải
Các nguồn gây tác động môi trường không liên quan đến chất thải trong giai
đoạn hoạt động gồm có:
Xói mòn, sạt lở, bồi lắng nước tại khai trường
Sự ảnh hưởng của bức xạ đối với con người và môi trường xung quanh;
Tiếng ồn của các hoạt động máy móc phục vụ sản xuất;
Sự tập trung lượng lớn công nhân gây ra xáo trộn đời sống xã hội địa
phương, gia tăng nguy cơ tai nạn giao thông.
3.3. Đối tượng chịu tác động
STT Đối tượng chịu tác động Quy mô tác động
1 Không khí khu vực Bầu không khí trong phạm vi khu khai thác
2 Nguồn nước mặt Các bàu nước tại khai trường
3 Nguồn nước ngầm Các giếng khoan, giếng đào tại khu vực
15
Thường xuyên tu dưỡng, bảo trì các thiết bị, máy móc.
Sử dụng đúng thiết kế của động cơ như không hoạt động quá tải, sử dụng
đúng nhiên liệu theo thiết kế.
Máy bơm nước có công suất nhỏ và thường được di chuyển theo khu vực
khai thác (không đặt cố định một chỗ) và xa dân cư, xa khu nhà làm việc. Vì
vậy, các biện pháp khống chế ô nhiễm do khói thải như trình bày ở trên sẽ làm
giảm lượng bụi phát tán vào không khí.
17
Tất cả các loại máy móc thiết bị sẽ được kiểm tra và bảo dưỡng, duy tu theo
kế hoạch để đảm bảo luôn làm việc ở tình trạng tốt, hạn chế được tình trạng ô
nhiễm không khí lẫn tiếng ồn, rung và các sự cố tai nạn lao động có thể xảy ra.
Khống chế ô nhiễm do tiếng ồn và độ rung
Tiếng ồn và độ rung sẽ phát sinh từ máy bơm cát, máy bơm nước, … để giảm
thiểu tiếng ồn, độ rung phát sinh từ các hoạt động này, cần thường xuyên sửa
chửa, bảo dưỡng các thiết bị máy móc, gắn ống giảm thanh ở các ống xả của các
máy, hoạt động đúng công suất, nhiên liệu theo thiết kế
4.2. Các biện pháp khống chế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước
- Khống chế ô nhiễm do nước thải tuyển quặng thô
Nước dùng cho sản xuất chủ yếu dùng để tuyển quặng thô, nguồn sử dụng là
bàu nước tại khai trường hoặc nước ngầm tại các giếng khoan (vào mùa khô kiệt
nhằm đảm bảo tiến độ khai thác).
Do đặc thù khai thác quặng apatit nên nước thải phát sinh có hàm lượng các
chất ô nhiễm hữu cơ rất cao, con khai thác đồng thì chủ yếu là các thành phần
chất rắn như đất đá, cát, rác, lá cây và ít mùn trong cát.
Khu vực moong khai thác có cao độ thấp hơn khu vực bùn thải (từ 2-3m),
dựa vào sự chênh lệch độ cao này mà toàn bộ nước thải sau khi bùn đã ngậm
nước ở mức bảo hoà sẽ thấm xuống moong khai thác. Theo kinh nghiệm sản
xuất thì 80% lượng nước thải ra được tuần hoàn sử dụng cho hoạt động tuyển
quặng thô.
- Khống chế ô nhiễm do nước thải sinh hoạt
nguyên và giảm chi phí trong quá trình tổ chức khai thác, tuyển quặng.
Bên cạnh đó các giải pháp khác cũng cần tiến hành hạn chế độ sâu khai thác,
tạo bờ moong khai thác phù hợp, bảo vệ cây xanh hiện có, không đào xới những
khu vực không có quặng, hệ thống đường giao thông được thiết kế để tránh các
khu vực có nhiều cây xanh.
19
KẾT LUẬN
Lào Cai là tỉnh có trữ lượng khoáng sản lớn và đa dạng về chủng loại. Nhưng
ngày nay với việc khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi không có sự quản lý
làm cho tài nguyên khoáng sản ngày một suy giảm về cả chất lượng và số lượng.
Điều này trở thành mối lo ngại cần quan tâm để hướng tới sự phát triển kinh tế
lâu dài của Lào Cai nói riêng và Việt Nam nói chung.
Tài nguyên khoáng sản luôn là một nguồn lực quan trọng cho quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa. Nguồn lực này không tái tạo được, vì vậy cần phải
được quản lý, bảo vệ chặt chẽ, khai thác sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu
quả.Bên cạnh những lợi ích kinh tế đêm lại, công nghệ khai khoáng còn kéo
theo hàng loạt các vấn đề môi trường nghiêm trong: tàn phá hệ sinh thái, gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng cả hiện tại và lâu dài, và đặc biệt nguồn tài
nguyên này sẽ nhanh chóng cạn kiệt trong thời gian ngắn nếu không đề ra những
biện pháp khai thác hợp lý.
Nhà nước cần hoàn chỉnh các Bộ luật, chính sách nghiêm ngặt để chấm dứt
tình trạng khai thác lậu. Đưa việc phát triển ngành công nghệ khai khoáng vào
kế hoạch phát triển chung của quốc gia. Từ đó từng bước nâng cao trình độ,
công nghệ trong công nghiệp khai khoáng, hướng tới phát triển công nghệ khai
khoáng trên mô hình phát triển bền vững.
20