1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
"ĐẶT CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
VĂN HỌC MÔN NGỮ VĂN THPT" 2A- ĐẶT VẤN ĐỀ
I - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học ở bậc THPT
đã được thực hiện từ khá lâu. Thế nhưng không phải tiết dạy nào cũng thành công bởi cái
khó nhất là làm thế nào nêu lên tình huống có vấn đề nhằm đưa học sinh (đối tượng trung
tâm) vào quá trình tư duy. Một bài văn, một tác phẩm văn chương, một số phận nhân vật
chỉ trở thành đối tượng suy tư của mỗi người khi chính người đó nhận ra trong đó có một
tình huống, một vấn đề, một tâm trạng có liên quan đến tầm suy nghĩ hay rung động của
mình. Tác phẩm nào cũng có vấn đề cả. Nhưng không phải bất kì vấn đề nào trong tác
phẩm cũng tự nhiên trở thành tình huống có vấn đề đối với chủ thể người đọc - học sinh.
Chúng ta cũng biết rằng, cảm thụ tác phẩm văn học bao giờ cũng mang tính chất cá
thuật và công nghệ tạo ra những bộ mặt mới về đời sống xã hội trong xã hội tư bản. Các
nước đó đòi hỏi giáo dục phải tạo ra những học sinh có phẩm chất: thông minh, sáng tạo,
năng động, tự chủ để đủ sức thực hiện nhiệm vụ của nền kinh tế xã hội. Nó phê phán
mạnh mẽ nền giáo dục phong kiến chỉ tạo ra những con người chỉ biết thừa hành, bắt
chước, phục tùng mà không thích ứng được với xã hội mới.
4
Câu hỏi nêu tình hướng có vấn đề đã được trình bày trong “Phương pháp dạy học
văn” của Giáo sư Phan Trọng Luận như một phương pháp dạy học có hiệu quả. Đây cũng
là nội dung cơ bản trong “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên” chu kì 1997 - 2000. Phương
pháp này cũng được trình bày trong bài viết “Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng
văn THCS” của PGS- TS Vũ Song Nho Tuy nhiên ở những tài liệu này chưa cung cấp
cho giáo viên phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề, bởi người viết tài liệu cũng khẳng
định vai trò tự học, tự bồi dưỡng, tự khám phá của giáo viên trong quá trình dạy học.
II - CƠ SỞ THỰC TIỄN
Qua tìm hiểu thực tế giảng dạy ở nhà trường, tôi thấy rằng, cách đặt câu hỏi trong
giờ dạy tác phẩm văn chương vẫn còn tồn tại những hạn chế. Giáo viên quá ham kiến
thức nên không còn thời gian đặt câu hỏi, hoặc nếu có thì lượng câu hỏi đưa ra ít ỏi
không tương ứng với phần thuyết trình. Ngược lại, có trường hợp giáo viên nêu câu hỏi
nhiều nhưng chưa tập chung hoặc chưa có hệ thống, câu hỏi còn thiếu sự phát huy sáng
tạo của học sinh.
Trong khi giảng dạy hoặc dự giờ thao giảng của đồng nghiệp, tôi luôn đặt ra câu
hỏi: - Đâu là vấn đề cần khai thác? - Với tác phẩm đó cần có hệ thống câu hỏi như thế
nào để kích thích học sinh tham gia tìm hiểu nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật của
tác phẩm? Từ đó tôi cố công tìm tòi nghiên cứu và xin trao đổi ở đây một kinh nghiệm
nhỏ “ Đặt câu hỏi nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học” nhằm góp phần nâng
cao chất lượng dạy học văn trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học cho phù hợp với xu thế của thời đại.
III - GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Câu hỏi nêu vấn đề thường có tính chất phức tạp về nội dung. Nó chứa những băn
khoăn, thắc mắc, những mâu thuẫn, những bế tắc mà học sinh gặp phải trên con đường
nhận thức. Nếu muốn nhận thức tiếp phải giải quyết vấn đề đó.
Theo tôi, có thể dựa vào những tình huống có vấn đề đã học trong các tài liêu giảng
dạy về phương pháp dạy học văn để đặt ra câu hỏi nêu vấn đề với các dạng thức sau đây:
1 - Đặt câu hỏi theo dạng: Vì sao không A mà B (Tình huống bất ngờ)
Khi phát hiện được một tín hiệu nội dung hay một tín hiệu nghệ thuật nào đó trong
tác phẩm có tính chất kì lạ, bất bình thường, ta vận dụng dạng thức trên để khơi gợi sự
khám phá sáng tạo của học sinh.
Ví dụ 1: - Tại sao chàng trai trong bài ca dao “Tát nước đầu đình” không nói là để
quên chiếc áo trên những cành cây khác mà lại nói là “để quên chiếc áo trên cành hoa
sen”? Cách nói này thể hiện chàng trai là người như thế nào?
Giáo viên có thể giải đáp câu hỏi này theo gợi ý sau: Mọi người đều biết rằng, cây
sen không có cành và hoa sen cũng vậy. Hoa sen chỉ có một cuống hoa mọc từ dưới đất
lên và cuống hoa đó rất yếu nên không thể giữ được chiếc áo trên đó được. Như vậy,
chuyện chàng trai nói mất áo là không có thật. Đó chỉ là chuyện do anh bịa ra để có cớ
làm quen, trò chuyện với cô gái anh yêu mến mà thôi. Qua cách nói ấy ta thấy chàng trai
trong bài ca dao vừa rất thông minh lại vừa hóm hỉnh.
Ví dụ 2: - Vì sao, nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” có lúc nghĩ
mình như con trâu, con ngựa, thậm chí không bằng con trâu con ngựa trong nhà Thống Lí
Pá Tra mà không so sánh mình với thân con bọ ngựa, con chẫu chuộc như cô gái trong
truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” của đồng bào dân tộc Thái?
7
Giáo viên giải thích: Nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” và cô gái
trong truyên thơ “Tiễn dặn người yêu” của đồng bào dân tộc Thái đều tiêu biểu cho
những người phụ nữ miền núi có số phận bất hạnh dưới chế độ phong kiến. Cô gái trong
“Tiễn dặn người yêu” của đồng bào dân tộc Thái thấy mình chỉ là thân con bọ ngựa, chỉ
Có người cho rằng bài thơ là tình yêu thầm kín giữa Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc? Có
người lại cho rằng thôn Vĩ chỉ là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình? Em tán
thành ý kiến nào? Vì sao?
Câu hỏi này đặt ra khi phân tích khổ cuối của bài thơ. Để giúp học sinh giải quyết
được câu hỏi trên, giáo viên có thể gợi mở giúp học sinh thấy được tín hiêu quan trọng
nhất của bài thơ nằm ở hai chữ “ở đây” trong câu thơ “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”.
Từ tín hiệu đó, tìm ra hệ thống kí hiệu - kết cấu: trong này - ngoài kia. Hàn Mặc Tử đã
đứng ở thế giới bị cách li, ở “lãnh cung” mờ mờ nhân ảnh để nhìn ra thế giới bên ngoài
và khát khao trở lại trong niềm vui tuyệt vọng. Thi sĩ tìm đến vườn đẹp, trăng đẹp, người
đẹp. Không tìm được vẻ đẹp này thì lại gắng gượng tìm vẻ đẹp khác cứ thế thành một
hành tâm trạng: kiếm tìm, thất vọng rồi lại kiếm tìm.
Ví dụ 2: Khi giảng bài “Thương Vợ” của Tú Xương, giáo viên có thể đặt câu hỏi
như sau: - Ấn tượng hai câu kết của bài thơ là một tiếng chửi, theo mạch văn thì đó là
tiếng chửi của bà Tú hay của ông Tú? Tại sao em hiểu như vậy? Ý nghĩa của tiếng chửi
này là gì?
9
Như chúng ta đã biết, theo mạch văn thì đây là lời bà Tú. Bà Tú chửi, cũng là trách
“thói đời”, con người bạc bẽo, ông chồng “hờ hững” vô tình. Có thể đấy là chút tâm sự
riêng thầm kín của người người phụ nữ trải qua nhiều gian truân, vất vả lúc bực bội trách
cứ người này, người khác. Song chúng ta biết, bà vốn đoan trang, khiêm nhường nên
tiếng chửi kia không phải là lời trực tiếp của bà mà chính là một cách Tú Xương bông
đùa, trào lộng để tự phê phán mình, tự trách mình làm khổ vợ, vô tình, vô tâm với vợ.
Qua tiếng chửi này ta thấy ông Tú thương vợ biết nhường nào.
Đặt câu hỏi theo dạng này giúp các em phát triển óc phán đoán, suy luận, nhận xét
để tìm ra nội dung hợp lí nhất. Từ đó các em thấy rõ tính thẩm mĩ của văn chương.
3 - Đặt câu hỏi theo dạng thức so sánh các tư liệu khác có liên quan hay kiến thức
thực tế với tác phẩm đang phân tích (Tình huống không phù hợp).
Ví dụ 1: Khi giảng bài thơ “Thương Vợ” của Tú Xương, giáo viên có thể đặt tình
huống giả định như sau: - Em thử dùng các từ gần nghĩa với từ “mom sông” để thay thế
cho từ này trong câu thơ “Quanh năm buôn bán ở mom sông” và so sánh tác dụng của
nó với khi dùng từ “mom sông” trong câu thơ trên.
Ví dụ 2: - Nếu em là nhà văn Hộ, em sẽ có sự lựa chọn như thế nào?
11
(“Đời Thừa” - Nam Cao)
Ví dụ 3: - Nếu em là ông Huấn Cao, em có cho viên quản ngục chữ không?
(“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân)
Ví dụ 4: - Nếu em là Thúy Kiều thì em có lạy Thúy Vân trước khi trao duyên hay
không?
(“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)
Ví dụ 5: - Nếu em là anh cu Tràng thì em có đưa người “vợ nhặt” đó về nhà mình
không?
(“Vợ Nhặt” - Kim Lân)
Đặt câu hỏi theo tình huống giả định khiến các em được rèn luyện cách ứng xử,
thấy được hành vi cao đẹp của nhân vật văn học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phát
triển nhân cách. Đó là nội dung quan trọng trong mục đích giáo dục nói chung và văn học
nói riêng.
12
IV - TỔ CHỨC THỰC HIỆN MỘT GIỜ GIẢNG CỤ THỂ
Từ những dạng thức đó, tôi đưa vào áp dụng thử nghiệm hai tiết giảng dạy tác
phẩm “Vợ Nhặt” của nhà văn Kim Lân trong sách giáo khoa Ngữ Văn 12 với hệ thống
câu hỏi nêu vấn đề như sau:
1- Khi nhận thấy “ nhan đề” tác phẩm có tính chất kì lạ, giáo viên có thể đặt câu
hỏi: - Tại sao nhà văn Kim Lân không đặt nhan đề tác phẩm này là “Nhặt vợ” mà lại
đặt là “Vợ nhặt”? Cách đặt nhan đề đó có ý nghĩa gì?
vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.
2 - Khi phân tích nhân vật Tràng, bên cạnh những câu hỏi tái hiện, những câu hỏi
phát hiện, giáo viên có thể đặt học sinh vào tình huống giả định sau:
- Nếu em là Tràng, em có đưa người “vợ nhặt” đó về nhà mình không? Hành
động đó của Tràng cho thấy vẻ đẹp nào trong tâm hồn và nhân cách của nhân vật?
Giáo viên chuẩn bị những tình huống mà học sinh có thể đưa ra sau câu hỏi này.
Học sinh sẽ có nhiều phương án trả lời nhưng người giáo viên cần phải có sự định hướng
cuối cùng để các em có những suy nghĩ tích cực, đúng đắn, từ đó thấy được hành vi cao
đẹp của nhân vật văn học nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển nhân cách của các em.
Trong hoàn cảnh miếng ăn bằng cả sinh mạng con người, thế nhưng một người kéo
xe bò thuê, cuộc sống cũng vô cùng khổ cực như Tràng mà dám sẵn sàng bỏ tiền ra đãi
một người không hề quen biết đã cho ta thấy anh là một người thật hào phóng. Tràng đến
với người đàn bà ấy, trước hết là sự chia sẻ của những người nghèo cùng trong cảnh hoạn
14
nạn. Đưa thị về làm vợ, tức là thêm một gánh nặng nữa, một miếng ăn nữa vào cái gia
đình vốn cũng đã vất vả của mình. Cho nên, có lúc anh cảm thấy “chợn” khi nghĩ về
tương lai. “Thóc cao gạo kém thế này, đến cái thân mình chưa chắc có nuôi nổi, lại còn
đèo bòng” là một nỗi lo rất thực tế. Song phía sau câu nói tưởng như là đùa vui bật ra từ
người đàn ông nghèo khổ ấy - “Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi
cùng về” - là khát vọng cháy bỏng có thật về một mái nhà hạnh phúc, về tổ ấm gia đình.
Ở Tràng có vẻ đẹp của tình người. Trong hoàn cảnh đó, Tràng đã cưu mang người nghèo
khổ có hoàn cảnh như mình, thậm chí còn nghèo khổ hơn mình. Truyền thống nhân đạo
của người Việt Nam có câu: “Lá lành đùm lá rách”. Câu tục ngữ ấy ở đây cần phải nói
khác đi một chút để thấy rõ hơn hành động cao đẹp đó của Tràng, đó là: Lá rách nhiều
đùm lá rách nhiều hơn. Đó là một con người nghèo tiền bạc nhưng lại rất hào phóng và
giàu tình người.
3 - Khi phân tích nhân vật người vợ nhặt, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi nêu vấn
đề ở dạng tình huống lựa chọn như sau:
- Có người nói rằng nhân vật người vợ nhặt theo không chàng chỉ vì miếng ăn, vì
không mang tính ép buộc và là vui thực sự. Còn nếu nói bằng lòng thì đó là buộc phải
thừa nhận sự việc chứ không có sự tự nguyện).
- Theo lẽ thường thì người trẻ thường hay nói về ngày mai, nói về tương lai
nhiều nhất. Vậy tại sao trong truyện ngắn này, bà cụ Tứ lại là người nói nhiều nhất
đến tương lai và ngày mai? (Lẽ thông thường thì Tràng và người vợ nhặt phải nói đến
16
tương lai nhiều nhất mới là điều hợp lí vì tương lai là thuộc về lớp trẻ. Nhưng ở đây là
một người mẹ gần đất xa trời. Phải chăng có một khía cạnh nào như kiểu nghệ thuật đòn
bẩy không? Tức là một người già gần đất xa trời ấy mà còn nói nhiều đến tương lai, đến
ngày mai thì niềm vui, niềm hi vọng, niềm tin ở ngày mai còn mạnh mẽ, mãnh liệt hơn
rất nhiều).
Để có một tiết giảng thành công với những câu hỏi nêu vấn đề, yêu cầu:
Đối với giáo viên: phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài dạy để đặt
câu hỏi hướng vào nội dung bài học. Việc đặt câu hỏi nêu vấn đề phải phù hợp với từng
điều kiện có thể có. Tránh đặt câu hỏi máy móc, đơn điệu. Nêu vấn đề phải hết sức hợp lí.
Nội dung câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng;
giáo dục tư tưởng, nhân cách ở học sinh. Điều quan trọng nhất đối với giáo viên là khâu
soạn giáo án. Để giáo án có chất lượng phải có hệ thống câu hỏi chuẩn, hợp lí. Các câu
hỏi trọng tâm của bài phải cho học sinh nắm trước trong câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà.
Đối với học sinh: Khâu soạn bài (Học sinh đọc tác phẩm, chuẩn bị bài theo câu hỏi
mà giáo viên đã cho, đã hướng dẫn. Giáo viên phân công học sinh chuẩn bị theo tổ, theo
nhóm hoặc theo cá nhân. Động viên khích lệ học sinh bằng điểm số khi các em tham gia
xây dựng bài. Tạo không khí đối thoại thoải mái trong tiết học giữa thầy và trò để phát
huy tư duy sáng tạo của học sinh. Hứng thú học tập là ngọn nguồn giúp cho học sinh cảm
thụ sâu sắc giá trị của đời sống văn hóa nhân loại. Phát huy trí lực, chú trọng tới hứng thú
học tập của học sinh là hướng đi tích cực của phương pháp dạy học văn hiện nay. Tuy
nhiên để biến những lí luận trên thành hiện thực đòi hỏi người thầy ngoài tri thức khoa
học cần phải có lòng yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục đào tạo và phải có niềm
tin vào học sinh.
C - KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT
1. Ngoài bốn dạng thức câu hỏi nêu vấn đề trên, chắc rằng sẽ còn có những dạng
câu hỏi nêu vấn đề khác mà tôi chưa quy kết thành những dạng thức nhất định. Rất mong
đồng nghiệp góp ý thêm.
2. Trong quá trình giảng dạy sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, tôi thấy khó khăn nhiều
nhất đó là vấn đề về thời gian. Thời lượng dành cho tiết dạy có hạn trong khi trước một
câu hỏi nêu vấn đề học sinh cần phải có nhiều thời giờ để trao đổi, thảo luận. Vì vậy, tôi
rất mong Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục giảm tải chương trình Ngữ Văn 12 để cho các
em học sinh tuy được học ít tác phẩm nhưng khi học tác phẩm nào thì nắm chắc và hiểu
sâu tác phẩm đó. Tránh hiện tượng, tác phẩm nào cũng biết nhưng không hiểu được nội
dung, tư tưởng của những tác phẩm văn học đó là gì. Thiệu Hóa, ngày 26 tháng 3 năm 2013
Người viết