Quy hoạch sử dụng đất xã đông cương – thành phố thanh hóa tỉnh thanh hóa giai đoạn 2012 – 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2012 – 2016)” - Pdf 26

MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tặng vật vô cùng quý giá mà tạo hoá đã ban tặng cho con
người, là nguồn tài nguyên không tái tạo được trong nhóm tài nguyên hạn chế
của mỗi quốc gia. Đất đai là địa bàn phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội và
quốc phòng, an ninh, là tư liệu sản xuất chủ yếu trong lao động nói chung và
trong sản xuất nông nghiệp nói riêng. Một trong những yêu cầu của các ngành
là sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả và không ngừng nâng cao chất lượng
đất. Nhận thấy tầm quan trọng đó Mác đã khái quát rằng: “Đất là cha, sức lao
động là mẹ sản sinh ra mọi của cải vật chất”.
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 tại chương II điều 17
và 18 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản
lý theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có
hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức sử dụng đất ổn định lâu dài”.
Tại điều 6 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Quản lý quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai”.
Đông Cương là một xã ven đô của Thành phố Thanh Hóa - tỉnh
Thanh Hóa. Những năm qua cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá,
nền kinh tế của xã cũng phát triển không ngừng.Trong những năm từ nay đến
2020, dự kiến sẽ có nhiều nhu cầu về sử dụng đất phát sinh, để bố trí sử dụng
quỹ đất một cách hiệu quả nhất, phù hợp với quy hoạch chung toàn thành phố
và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của xã và có cơ sở pháp lý thì việc
lập quy hoạch sử dụng đất đai là công việc hết sức cấp bách.
Như vậy, xuất phát từ quan điểm trên, được sự phân công của khoa
Tài Nguyên và Môi Trường - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội; dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thái Đại và Th.S Nguyễn Thị Xuân, tôi thực
hiện đề tài :
“Quy hoạch sử dụng đất xã Đông Cương – Thành phố Thanh Hóa - tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2012 – 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2012 –
2016)”.
II. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT XÃ

nguyên - Môi trường.
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT, ngày 30/6/2005 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên & Môi trường về ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
- Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 24/10/2005 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật lập và
điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
3.2 Cơ sở thông tin số liệu, tư liệu bản đồ
- Quy hoạch sử dụng đất đai xã Đông Cương giai đoạn 2006 - 2011
- Căn cứ vào Chương trình phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2011 và
định hướng đến năm 2020 của Ban chấp hành Đảng bộ xã Đông Cương –
Thành phố Thanh Hóa.
- Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của Thành
phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh hóa đến năm 2010 và hướng tới 2020.
- Căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 Thành phố Thanh
Hóa.
- Căn cứ vào nghị quyết đại hội Đảng bộ xã Đông Cương nhiệm kỳ 2006-
2010.
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất
đặc thù. Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính pháp lý
của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội được xử lý bằng các
phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội, có những đặc trưng của tính phân dị giữa các cấp vùng lãnh thổ
theo các cấp vùng lãnh thổ theo quan điểm tiếp cận hệ thống để hình thành các
phương án tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo pháp luật của Nhà nước.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quy hoạch đất đai:

chiến lược, là một trong những tài liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa
học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội , trong đó có đề
cập đến dự kiến sử dụng đất ở mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ
chủ yếu.
Trong khi đó, đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất là tài
nguyên đất. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế
và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mà điều chỉnh cơ cấu và phương
hướng sử dụng đất, xây dựng phương án quy hoạch phân phối sử dụng đất
thống nhất, hợp lý. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch tổng hợp
chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhưng
nội dung của nó phải được điều hoà thống nhất với quy hoach tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội.
b. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với dự báo và chiến lược dài hạn sử
dụng đất đai
Để xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất các cấp vi mô
( huyện, xã) cho thời gian trước mắt ( từ 5 – 10 năm), trước hết phải xác định
được định hướng và nhu cầu sử dụng đất dài hạn ( dự báo cho 15 – 20 năm)
trên phạm vi lãnh thổ lớn hơn ( vĩ mô: vùng, tỉnh, cả nước).
Dựa vào các số liệu thống kê đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các
ngành, các lĩnh vực sẽ nhập dự báo sử dụng đất, sau đó sẽ xây dựng phương
án quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng và bảo vệ quỹ đất cho thời gian
trước mắt cũng như lâu dài trên phạm vi cả nước, theo đối tượng và mục đích
sử dụng.
Dự báo cơ cấu đất đai ( cho lâu dài ) liên quan chặt chẽ với chiến lược
sử dụng tài nguyên đất đai. Chính vì vậy, việc dự báo sử dụng đất với mục
tiêu cơ bản là xác định tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông –
lâm nghiệp, xác định định hướng sử dụng đất cho các nhu cầu chuyên dùng.
Trong khi đó, nội dung của chiến lược sử dụng đất đai bao gồm: Phân
tích hiện trạng phân bố và sử dụng quỹ đất cho các ngành, xác định tiềm năng
đất để khai hoang đưa vào sản xuất nông nghiệp, xác định nhu cầu đất đai cho

f. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất cả nước với quy hoạch sử dụng đất các
cấp
Quy hoạch sử dụng đất cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện và quy hoạch sử
dụng đất cấp xã hợp thành một hệ thống quy hoạch sử dụng đất hoàn chỉnh.
Quy hoạch sử dụng đất cả nước là căn cứ định hướng để xây dựng
quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện dựa trên cơ
sở quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Quy hoạch sử dụng đất cấp xã là khâu
cuối cùng của hệ thống quy hoạch sử dụng đất, được xây dựng dựa vào quy
hoạch sử dụng đất cấp huyện.
1.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
Việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của
từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn
của từng người dân cũng như vận mệnh quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi đây là vấn đề bức xúc cần được quan tâm hàng đầu.
Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống những văn bản pháp luật về
đất đai như: Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật. Nó tạo ra cơ sở pháp lý
vững chắc cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
Chương 2, điều 17 Hiến pháp 1992 nêu rõ “Đất đai, rừng núi, sông,
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển…đều thuộc
sở hữu toàn dân”. Điều 18 khẳng định “ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai
theo quy hoạch và theo pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có
hiệu quả”.
Ngày 01/07/2004 Luật đất đai 2003 chính thức có hiệu lực. Điều 6
Luật đất đai khẳng định quy hoạch, và kế hoach sử dụng đất là một trong 13
nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Điều 21 đến điều 30 quy định chi tiết
về công tác lập quy hoạch, kế hoach sử dụng đất.
Ngoài ra, còn có các văn bản dưới luật, các văn bản ngành trực tiếp
hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và phương pháp
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đó là:
- Nghị định 181/2004 NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của

- Canada: Chính phủ Liên bang đã can thiệp vào quy hoạch cấp trung
gian, Chính phủ đưa ra mục tiêu ở cấp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi và
khuyến khích hoạt động quy hoạch ở các bang. Ngoài ra, Chính phủ còn có
vai trò hỗ trợ để có sự tham gia của các lĩnh vực khác nhau có liên quan đến
quá trình lập quy hoạch bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp và vấn
đề môi trường càng được quan tâm và bảo vệ.
- Bungari: Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng
đặc trưng gắn liền với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
b. Một số nước ở Châu Á
- Philippin: Tồn tại 3 cấp quy hoạch đó là: Cấp quốc gia, cấp vùng và
cấp huyện. Cấp quốc gia đưa ra những hướng dẫn chỉ đạo chung. Cấp vùng
triển khai một khung chung cho quy hoạch theo vùng. Cấp vùng triển khai
những đồ án tác nghiệp. Chính phủ có vai trò trong việc thống nhất giữa các
ngành và các quan hệ giữa các cấp quy hoạch khác nhau, đồng thời cũng tạo
điều kiện để các chủ sử dụng đất tham gia.
- Trung Quốc: Công tác quy hoạch đất đai đã bắt đầu phát triển nhưng
chỉ dừng lại ở mức đọ quy hoạch tổng thể các ngành mà không tiến hành làm
quy hoạch ở mức độ nhỏ hơn như Việt Nam.
- Thái Lan: Có ba cấp quy hoạch đó là: Cấp quốc gia, cấp vùng và cấp
địa phương. Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể các trường kinh tế - xã hội của
Hoàng gia Thái Lan gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước
phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển của
Hoàng gia đã xác định vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh
tế, chính trị, xã hội ở Thái Lan.
- Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đã được nghiên cứu và áp dụng thực
hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới với nhiều hình thức khác nhau. Trong vài
thập kỉ gần đây, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là FAO đã nhận thấy việc
sử dụng đất đai không thể giải quyết riêng rẽ theo từng ngành mà phải xem
xét một cách toàn diện thoả đáng cả 3 vấn đề lớn: Kinh tế, xã hội, môi trường
và sử dụng đất bền vững trong mối quan hệ thuận nghịch chặt chẽ với nhau.

hướng đô thị hoá rất rõ rệt.
Đây là cái mốc đầu tiên triển khai quy hoạch, sử dụng đất đai ở cấp xã
diễn ra hầu khắp phạm vi cả nước, tuy nhiên còn nhiều hạn chế về nội dung
và phương pháp.
Ngày 15/04/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ra thông tư số
106/QHKD/RĐ hướng dẫn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai. Đây là
thông tư đầu tiên của Tổng cục kể từ khi thành lập về vấn đề quy hoạch đất đai.
Trong thông tư này đã hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất một cách chi tiết.
c. Thời kỳ sau Luật đất đai 1993 đến 2003
Ngày 14/07/1993 Luật đất đai được công bố, trong luật này các điều
khoản nói về quy hoạch đất đai đã được cụ thể hoá hơn so với luật đất đai sửa
đổi bổ sung năm 1998.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật đất đai ngày 02/12/1998 và
29/6/2001 cũng đã được ban hành. Các điều khoản trong Luật này một lần nữa
khẳng định công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai lâu dài là cần thiết.
Nghị định số 04/2000/NĐ-CP quy định về việc thi hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều luật đất đai 02/12/1998.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước ta triển khai công
tác nghiên cứu chiến lược phát triển quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội ở hầu
hết 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 8 vùng kinh tế, các vùng trọng
điểm và quy hoạch phát triển các ngành ở hầu hết các bộ, ngành.
Các công trình nghiên cứu này đều tính đến năm 2010. Phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội trong vòng 10 – 15 năm tới, việc nghiên cứu
triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước đang là
vấn đề bức xúc được các ngành, các cấp và mọi thành viên xã hội hưởng ứng.
Đây là các mốc bắt đầu của thời kỳ đưa công tác quản lý đất đai vào nề
nếp, sau một thời gian dài tuyệt đối hoá về công hữu đất đai ở miền Bắc và
buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía Nam dẫn đến tình trạng quá nhiều
diện tích đất không có chủ sử dụng.
d. Tình hình quy hoạch hiện nay

mới, khu đô thị mới trên phạm vi cả nước; có tác dụng tích cực trong việc
điều tiết thị trường, góp phần ổn định giá đất, tạo cơ sở thực tế cho các cuộc
giao dịch về đất đai và tổ chức các cuộc đấu giá quyền sử dụng đất.
Chỉ tiêu đất nông nghiệp đến năm 2010 mà Quốc Hội đã duyệt là
26,22 triệu ha, ước thực hiện là 25,8 triệu ha (đạt 98%), nhưng đất sản xuất
nông nghiệp vượt 0,36 triệu ha và đất trồng lúa ước đạt 3,882 triệu ha, cao
hơn 21.000 ha so với mức Quốc Hội đã phê duyệt.
Đất phi nông nghiệp Quốc Hội duyệt cho đến năm 2010 là 4,02 triệu ha,
ước thực hiện được 3,64 triệu ha (đạt 90,06%), trong đó đất khu công nghiệp
đạt 96,2%, đất giao thông đạt 71,7%, đất thủy lợi đạt 66,7%, đất cơ sở y tế đạt
50,0%, đất cơ sở giáo dục đào tạo đạt 93,3% chỉ tiêu kế hoạch mà Quốc Hội
đã phê duyệt.
1.3.3. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở tỉnh Thanh Hóa
Để góp phần quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh theo luật, Thanh Hóa đã
tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh giai đoạn
2001 – 2010. Năm 2005 tỉnh cũng đã tiến hành lập điều chỉnh quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt. Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất của tỉnh được Chính phủ phê
duyệt, UBND tỉnh đã chỉ đạo các huyện thị lập quy hoạch và điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất.
Đến nay 100% số huyện thị đã lập xong quy hoạch sử dụng đất được
UBND tỉnh phê duyệt. Công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã và quy hoạch
chi tiết cho các khu công nghiệp, đô thị cũng được xây dựng góp phần quản
lý, sử dụng hợp lý đất đai. Hằng năm tỉnh đều xây dựng kế hoạch sử dụng đất
trình Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt.
1.3.4. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở Thành phố Thanh
Hóa
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở Thành phố Thanh Hóa
đã được thực hiện cả ở cấp xã, phường, thị trấn. Năm 2001 đã tiến hành xây
dựng quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2001 – 2010 được UBND

Đông Cương là đặc thù khí hậu của thành phố Thanh Hoá. Khí hậu một năm
có hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng: Mùa nóng bắt đầu từ
mùa xuân kéo dài mãi đến giữa thu. Mùa này, thời tiết và khí hậu có 4 hiện
tượng đan xen vào sự mạnh yếu bất thường đó là: Giông, bão, lụt, lội, gió
Lào, nóng, hạn hán, mưa ngâu. Nhiệt độ trung bình mùa nóng thường 28
0
C.
Ngày nắng nóng lên đến 35, 37
0
C. Vào mùa này thường buổi chiều có giông,
gió xoáy và mang theo mưa rào. Thời kỳ giông tây xuất hiện. Cũng vào thời
gian này thường có gió Tây Nam, hay gọi là gió Lào, vì gió từ Lào thổi sang.
Gặp những ngày gió Lào nhiệt độ thường lên tới 38, 39
0
C cá biệt lên 40
0
C.
Trong mùa này bão thường xuất hiện cuối tháng 5 đầu tháng 6 kéo dài mãi
đến trung tuần tháng 9 ( âm lịch).
Mùa lạnh: Mùa lạnh bắt đầu từ cuối tháng 9 và kéo dài đến tháng 3 năm
sau. Đầu mùa có các trận gió mùa Đông Bắc xuất hiện nên thường kèm theo
mưa to, gió lớn ( gió xoáy). Chính giai đoạn này là thời kỳ chuyển mùa nên
tạo thành cơn gió xoáy nhỏ và vừa nên nhân dân gọi là bão rươi. Đầu mùa
lạnh, vào tháng 10, có gió heo khô. Nhiệt độ trung bình khoảng 15
0
C, có khi
nhiệt độ xuống 9, 8
0
C.
* Chế độ mưa:

với lượng bốc hơi. Về mùa đông lượng bốc hơi trung bình tháng từ 30 mm –
60mm, mùa hè từ 70 mm – 195mm.
2.1.1.4. Thuỷ văn
Đông Cương có 2 hệ thống sông chảy qua, đó là sông Hạc và Sông
Đồng De. Lượng nước của hai hệ thống sông này là rất lớn, Giúp việc tưới
tiêu trong sản xuất nông nghiệp rất thuận lợi.
2.1.2. Các nguồn tài nguyên
a. Tài nguyên đất
Đất ở đây được hình thành tại chỗ do phong hoá trực tiếp của đá mẹ bao
gồm 1 số loại đất chính sau:
- Đất xám phân bố chủ yếu ở các xứ đồng, chiếm 170 ha, đất này được
sử dụng để trồng lúa.
- Đất sét phân bố chủ yếu ở các xứ đồng, chiếm 130 ha, nhân dân sử
dụng để trồng các loại cây hoa màu.
- Đất sét pha cát phân bố chủ yếu ở các ven sông chiếm khoảng 17ha.
- Đất bạc màu đựơc phân bố trong các khu dân cư và một số ụ đất, và
đồi thấp chiếm khoảng 115ha.
b. Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Xã có nguồn nước mặt khá phong phú, lượng mưa
đổ vào các kênh mương, ao, hồ tạo thành các nguồn nước mặt chủ yếu dùng
cho phục vụ sản xuất, các nhu cầu dành cho sinh hoạt của nhân dân trong xã
đã chuyển sang dùng nước máy để đảm bảo vệ sinh.
- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa được khảo sát và tính toán cụ thể song
qua thực tế việc sử dụng giếng đào, giếng khoan của nhân dân trong xã cho
thấy nguồn nước ngầm của xã tương đối dồi dào và chất lượng tốt.
Tóm lại tài nguyên nước của xã tương đối dồi dào đảm bảo cung cấp đủ
nước cho sản xuất cũng như các hoạt động kinh tế khác.
c. Tài nguyên nhân văn
Có thể nói xã là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng người Việt, là xã
có bản sắc văn hoá đa dạng. Người dân trong xã có truyền thống cách mạng:

2.1.5.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế
Cùng với sự phát triển kinh tế của huyện trong thời kỳ đổi mới, nền
kinh tế của xã Đông Cương năm qua đã có những chuyển biến tích cực trong
các ngành nghề lĩnh vực phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế là
22,5% ; đạt 102,3% so với kế hoạch; tăng 12, 5% so với cùng kỳ.
- Tỷ trọng các ngành kinh tế :
+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 24%
+ Dịch vụ đạt 53,2%
+ Nông nghiệp đạt 22,8%
Thu nhập bình quân đầu người 15,5 triệu/người/năm. Đạt 103,3% so
với kế hoạch, tăng 10% so với cùng kỳ.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Với sự tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập cải thiện đời sống nhân dân,
từ năm 2005 đến nay, trên cơ sở khai thác những lợi thế về đất đai, khoa học,
lao động, xã đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực:
giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – tiểu
thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ. Sự chuyển biến trên là phù hợp với
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và làm tiền đề
phát triển cho những năm tiếp theo.
2.1.5.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế - xã hội
a. Ngành nông nghiệp
Nhìn chung trong năm 2011, với sự cố gắng của hợp tác xã, đặc biệt là
với sự cố gắng của các hộ dân, địa phương hoàn thành 2 vụ với diện tích là
379,6ha, trong đó lúa là cây trồng chủ yếu chiếm 334,6ha còn lại là trồng hoa,
cây cảnh, rau mầu. Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng và số đầu gia súc
trong những năm qua được thể hiện trong bảng 1.
Theo bảng 1, diên tích gieo trồng lúa tương đối ổn định. Năng suất lúa
ước đạt 100 tạ/ha. Công tác chăm sóc lúa và rau màu, phòng chống hạn hán,
dịch bệnh gia súc, gia cầm được triển khai thực hiện kịp thời, nâng cao giá

đạt 2.500.000đ - 3.000.000đ/lao động/tháng. Trong những năm tới xã cần
đầu tư, khuyến khích, tạo điều kiện cho ngành này phát triển hơn nữa góp
phần thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn xã, đáp
ứng nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, dân trí để đạt tiêu chí đô thị loại I.
c. Ngành thương mại, dịch vụ
Cùng với ngành CN – TTCN, ngành thương mại - dịch vụ của xã có
phát triển song sự phát triển đa dạng, tập trung dọc theo đường giao thông
giáp quốc lộ 1A. Nhịp độ dịch vụ của xã liên tục phát triển đã tạo được nhiều
việc làm cho người lao động ở địa phương và đáp ứng tương đối đầy đủ và
kịp thời nhu cầu của nhân dân. Có thể nói, các hoạt động thương mại – dịch
vụ đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của xã, thúc đẩy phát triển sản xuất và
tăng thu nhập cho người dân.
Bảng 2: Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của xã Đông Cương
TT Các chỉ tiêu Đơn vị 2009 2010 2011
1 Tổng giá trị sản xuất Tỷ đồng 88,78 125,4 150,2
2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế % 19,5 21,2 22,5
3 Giá trị sản xuất nông nghiệp Tỷ đồng 33,7 33,4 34,2
4 Giá trị sản xuất TTCN - XDCB Tỷ đồng 32,04 34,7 36
5 Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ Tỷ đồng 23,04 57,3 80
6 Thu nhập bình quân đầu người Tỷ đồng 10,9 12,7 15,5
7 Cơ cấu kinh tế % 100 100 100
Nông nghiệp % 34,1 34,1 22,8
TTCN - XDCB % 28,8 28,8 24,0
Thương mại, dịch vụ % 37,1 37,1 53,2
( Nguồn: Báo cáo tổng kết của UBND xã Đông Cương)
2.1.5.3. Dân số, lao động và việc làm
a. Dân số
Theo kết quả thống kê đến cuối năm 2011, toàn xã có 10397 nhân
khẩu với 3192 hộ gia đình tập trung ở 10 thôn. Hiện tại, tỷ lệ gia tăng dân số
của xã là 0,69%. Qua biểu ta thấy biến động dân số trong những năm gần đây.

Người 3302 3288 3256 3212 3200
- Lao động phi nông nghiệp
Người 1886 1924 2038 2106 2124
( Nguồn: tài liệu về dân số và nhà ở của UBND xã Đông Cương)
b. Lao động và việc làm
Thu nhập bình quân đầu người tương đối cao: Năm 2011 là 15,5 triệu
đồng/người.
Nguồn lao động của xã khá dồi dào cả về số lượng và chất lượng.
Toàn xã tính đến năm 2011, có 5324 lao động chiếm 51,21% dân số trong xã.
Trong đó lao động nông nghiệp là 3200 lao động chiếm 60,10 %; lao động
phi nông nghiệp là 2124 lao động chiếm 39,90%.
2.1.5.4. Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn
Dân cư trong xã được phân bố ở 10 thôn. Hầu hết các hộ đều có chỗ ở
ổn định, diện tích đất ở bình quân mỗi người dân là 1,52 người/m
2
. Cụ thể xác
định rõ ở bảng 4.
Bảng 4: Sự phân bố dân cư và đất ở của xã năm 2011
Các chỉ tiêu ĐVT
Toàn

Chia ra các xóm
Thôn
1
Thôn
2
Thôn
3
Thôn
4

đường giao thông đoạn từ cầu Tâm đến Đông Ba với tổng giá trị xây dựng
trên 1 tỷ đồng và hiện nay công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Tuy
nhiên do thiếu kinh phí nên một số tuyến đường liên thôn không được tu bổ,
duy tu và sửa chữa thường xuyên dẫn đến tình trạng xuống cấp nghiêm trọng.
* Thủy lợị
Nguồn nước tưới chủ yếu lấy từ sông Đồng De và sông Cầu Hạc cùng
các kênh mương tưới tiêu nội đồng. Hệ thống thủy văn của xã chủ yếu là kênh
mương, việc tưới tiêu chủ yếu phụ thuộc vào kênh mương cấp 1,2,3. Các kênh
mương phục vụ tốt công tác tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp đủ để cung
cấp nước tưới cho toàn bộ diện tích canh tác. Kênh mương đã được bê tông
hóa nên công tác tưới tiêu thuận lợi cho việc sản xuất.
* Trụ sở hành chính
Các công trình hành chính như trụ sở UBND xã hiện tại được bố trí tại
trung tâm xã với diện tích 8.600m
2
, công trình UBND xã vừa được xây dựng

Trích đoạn Quy hoạch đất nông nghiệp Chu chuyển và cân đối đất đai Đánh giá hiệu quả và các giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status