B¸o c¸o tèt nghiÖp
Hà Nội, ngày 25 tháng 08 năm 2010
Sinh viên
MỤC LỤC
i
B¸o c¸o tèt nghiÖp
DANH MỤC CÁC BẢNG
Mô tả cây: 23
ii
B¸o c¸o tèt nghiÖp
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO
MIC : Nồng độ ức chế tối thiểu
IC
50
: Nồng độ chất thử ức chế 50% sự phát triển của vi
sinh vật
MBC : Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu
LD
50
: Liều giết chết 50% của động vật thí nghiệm
L.fermentum : Lactobacillus fermentum
S. aureusa : Staphylococcus aureus
B. subtilis : Bacillus subtilis
S. enterica : Salmonella enterica
E. coli : Escherichia coli
P.aeruginoa : Pseudomonas aeruginosa
C.albicans : Candida albicans
iii
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Phần I
MỞ ĐẦU
là kinh nghiệm của ông cha và cơ sở khoa học hiện đại. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu thuốc không đơn giản và nhanh chóng. Khó khăn này không chỉ
đối với nước ta do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế mà còn là tình hình
chung đối với nhiều nước có nền khoa học tiên tiến vì đối tượng nghiên cứu là
cây thuốc, động vật làm thuốc là những sinh vật còn chứa nhiều bí ẩn chưa
khám phá ra được (Đỗ Tất Lợi, 1999). Do đó, việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu
khai thác sử dụng thế mạnh của thảo dược là hướng đi hết sức đúng đắn, cần
thiết hiện nay và trong tương lai. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi
tiến hành:
"Nghiên cứu sàng lọc và tìm kiếm một số loài thảo dược Việt Nam có
hoạt tính kháng sinh nhằm chữa trị bệnh cho gia súc".
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm kiếm các loại thảo dược Việt Nam có hoạt tính kháng sinh tốt có
khả năng sử dụng trong thực tế để chữa trị bệnh nhiễm khuẩn cho gia súc.
2
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CÁC CHỦNG VI SINH VẬT ĐƯỢC NGHIÊN CỨU TRONG ĐỂ TÀI
- Bacillus subtilis (ATCC 6633): Là trực khuẩn gram (+), sinh bào tử
và thường không gây bệnh.
- Staphylococus aureus (ATCC 13709): Cầu khuẩn gram (+)
Theo Nguyễn Như Thanh và cộng sự (2001): Thì ở người khoẻ mạnh
mang khoảng 30% Staphylococus aureu ở trên da và niêm mạc, khi có những
tổn thương ở da và niêm mạc hoặc những rối loạn về chức năng thì các nhiễm
trùng do Staphylococus aureus dễ dàng xuất hiện.
Staphylococus aureus gây mủ các vết thương, vết bỏng, gây viêm họng,
nhiễm trùng có mủ trên da và các cơ quan nội tạng. Staphylococus aureus còn
có khả năng hình thành độc tố ruột trong thực phẩm, do đó nó có thể hình
thành nên chứng nhiễm độc.
Từ thủa sơ khai loài người đã biết tìm kiếm các loại cây cỏ trong thiên
nhiên dùng làm thức ăn và để chữa bệnh. Những hiểu biết về các loại cây cỏ
chỉ được truyền miệng, ghi chép đúc kết thành kinh nghiệm chứ chưa được
nghiên cứu tỷ mỉ, khoa học.
Ngày nay, nhiều loại cây thuốc đã được sử dụng, mang lại hiệu quả
kinh tế rõ rệt trong phòng trị bệnh cho người và gia súc. Có nhiều bài thuốc
gia truyền vẫn chưa được giải thích về cơ chế. Xu thế chung hiện nay là kết
hợp giữa Đông y và Tây y với phương châm áp dụng những kinh nghiệm của
ông, cha ta bằng thuốc Nam, vừa nghiên cứu khảo sát tính năng, tác dụng cây
thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại (Đỗ Tất Lợi, Ngô Xuân Thu, 1970).
Có thể nói lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo mộc trong thú y
trước đây còn do kinh nghiệm mang tính truyền miệng hoặc áp dụng tương tự
như ở người (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999).
4
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thuốc
Đông dược để phòng bệnh cho vật nuôi. Thuốc có nguồn gốc thảo mộc có giá
thành rẻ, dễ kiếm, dễ sử dụng tránh được các quy trình bào chế phức tạp, ít
gây độc mà hiệu quả lại cao. Thêm nữa các loại thuốc này hoặc không có
hoặc tồn tại dư lượng rất nhỏ. Chính vì vậy thảo dược ngày càng trở nên quan
trọng trong phòng trị bệnh cho gia súc, gia cầm.
Trong đề tài này chúng tôi mong muốn nghiên cứu sàng lọc nhằm tìm kiếm
một số loại cây thảo dược có hoạt tính kháng sinh để chữa bệnh cho gia súc.
2.2.1.Cơ sở khoa học để nghiên cứu tác dụng của dược liệu
Khi xét tác dụng của một vị thuốc theo khoa học hiện đại chủ yếu căn
cứ vào thành phần hoá học của vị thuốc, nghĩa là tìm trong vị thuốc có những
hoạt chất gì, tác dụng của những hoạt chất ấy trên in vitro, in vivo và trên cơ
thể động vật cũng như trên người như thế nào?
Các chất chứa trong vị thuốc, hay thành phần hoá học của cây có thể
chia thành hai nhóm chính: nhóm chất vô cơ và nhóm chất hữu cơ. Những
trong thức ăn chăn nuôi và lệnh cấm này đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2006.
Tại Việt Nam, tình trạng này cũng diễn ra ngày càng phổ biến gây ra những
tổn thất về kinh tế trong chăn nuôi, khó khăn cho công tác phòng chống dịch.
Cụ thể, theo kết quả nghiên cứu của Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho trong
20 năm, từ 1975- 1995, vi khuẩn E.coli phân lập từ phân của lợn con phân
trắng ở một số tỉnh phía Bắc đã kháng thuốc rất nhanh, tính đa kháng cũng
cho một hình ảnh tương tự. Cụ thể năm 1975 có 6% số chủng kháng với 3 loại
thuốc, 17% kháng với 2 loại thuốc, không có chủng nào kháng với 4, 5, 6
hoặc 7 loại thuốc. Năm 1995 có 5% số chủng kháng với 7 loại thuốc kiểm
tra, 6% kháng với 6 loại, đại bộ phận các chủng kháng thuốc đều kháng từ 2-
5 loại thuốc. Đây thực sự là mối quan tâm lớn của chúng ta.
Với xu hướng “Quay về với tự nhiên”, những năm gần đây, một số
nước phát triển Châu Âu cũng đã bắt đầu xem xét đến việc đưa đông dược
6
B¸o c¸o tèt nghiÖp
vào chữa bệnh. Hiện nay, mức tiêu thụ hàng năm trên thị trường đông dược
quốc tế trị giá khoảng 16 tỷ USD. Các nước bán đông dược (dưới dạng thô và
thành phẩm) nhiều nhất là Nhật Bản, chiếm 80%; Ấn Độ, Xing-ga-po chiếm
7% (theo vietnamnet).
Trong lĩnh vực thú y, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đông dược
và sử dụng thuốc nam trong phòng, trị bệnh cho vật nuôi. Thuốc có nguồn
gốc từ dược liệu thường dễ kiếm, quy trình bào chế đơn giản, giá thành rẻ dễ
sử dụng, ít gây độc hại lại có hiệu quả cao. Ưu điểm nổi bật của thảo dược là
không để lại với hàm lượng rất nhỏ chất tồn dư độc hại trong sản phẩm động
vật. Vì vậy dược liệu thảo mộc trở thành nguồn thuốc quan trọng, góp phần
vào việc phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm.
2.2.2. Một số thành tựu nghiên cứu khoa học về cây thuốc ở Việt Nam
trong thời gian qua
Từ xa xưa, cha ông ta đã biết sử dụng nguồn dược liệu quý giá sẵn có
của đất nước với phương pháp chế biến hay các dạng bào chế thích hợp để
spring) họ Selaganiellaceae chiết bằng cồn methanol rồi cô thành cao đặc.
Dùng cao chiết được từ toàn cây quyền bá thử trên tế bào ung thư dòng tế bào
P388 và MKN-45 in vitro. Kết quả cho thấy chất chiết làm tăng tế bào chết và
làm giảm tế bào sống so với lô đối chứng. Từ cây Đại (Phumeria ruba linn
var acutifolia baill) chiết được chất Fulvoplumierin có tác dụng ức chế vi
khuẩn lao ở nồng độ 1- 5µg/ml, nước ép từ lá tươi có tác dụng với vi khuẩn
Staphylococcus, Shigella và Bacillus subtilis (Vũ Xuân Quảng, 1993).
Gần đây các nhà khoa học trên thế giới phát hiện thêm nhiều đặc tính
quý hiếm của Linh Chi (Ganoderma lucidum) trong việc chữa các bệnh về
gan mật và ung thư… thậm chí cả hiệu ứng ngăn ngừa và chống căn bệnh thế
kỷ AIDS (Viện dược liệu).
Khi nghiên cứu về cây tỏi, các nhà khoa học trên thế giới đã cho biết:
ngoài tác dụng kháng sinh trị vi khuẩn, virut, nấm gây bệnh, tác dụng trị
8
B¸o c¸o tèt nghiÖp
nguyên sinh động vật, trị sâu bọ… Tỏi còn điều trị rất nhiều bệnh hiểm nghèo
trên người và động vật như:
+ Tỏi có tác dụng trị bệnh trên tim và hệ tuần hoàn. Tỏi làm giảm
cholesterol và lipid máu. Hoạt chất của tỏi có tác dụng giảm cholesterol và
lipid trong máu là allicin ngâm trong dầu thực vật. Tỏi còn có tác dụng làm
giảm huyết áp, tăng sức đề kháng của mạch máu và chức năng tim.
+ Tỏi cũng có tác dụng chống ung thư và chống oxy hóa nên có tác
dụng giải độc, nhất là kim loại nặng và các độc tố khác nên có tác dụng phòng
chống độc hại cho gan.
Các hoạt chất có trong lá chè ngoài những tác dụng thông thường như
giải cảm, giải độc, lợi tiểu người ta còn mới phát hiện ra một giá trị đặc biệt
đó là khả năng làm tăng sức đề kháng của trẻ em đối với virus gây bệnh viêm
não Nhật Bản B.
Tự nhiên Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao, có tới 2/3 diện tích đất
tự nhiên trong nước là rừng, đồi núi và cao nguyên. Theo Nguyễn Thượng
chúng có hiện tượng kháng chéo. Trong khi đó chưa phát hiện thấy E.coli và
Salmonellai kháng lại Phytoncid của Tỏi, Hẹ mặc dù loại dược liệu này đã
được ông cha ta sử dụng từ rất lâu và thường xuyên.
+ Trong phòng thí nghiệm, thời gian để tạo các chủng vi khuẩn kháng
lại Phytoncid của Tỏi, Hẹ lâu hơn từ 3 - 5 lần so với các loại thuốc hoá học trị
liệu. Khi tăng nồng độ Phytoncid lên 5 lần so vời nồng độ tạo kháng, vi khuẩn
đã bị tiêu diệt. Nhưng đối với thuốc hoá học trị liệu dù đã tăng nồng độ lên 20
lần hay cao hơn nữa so với nồng độ tạo kháng mà vi khuẩn vẫn sống.
Theo Trần Quang Hùng (1995) trong Thuốc lá, Thuốc lào có chứa
Ankaloid thực vật – Nicotin và Nornicotin trừ được ngoại ký sinh trùng và
côn trùng hại rau, cây công nghiệp.
10
B¸o c¸o tèt nghiÖp
2.3. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TÌM KIẾM, PHÁT TRIỂN VÀ
NGHIÊN CỨU PHYTONCID Ở VIỆT NAM
Từ bao đời nay ông cha ta đã biết dùng cỏ cây, nhất là các cây có chứa
phytoncid- kháng sinh thực vật để chữa bệnh cho người và gia súc
Tuệ Tĩnh trong quyển “Nam dược thần hiệu”, từ thế kỷ 13, đã kê đơn
dùng tỏi để chữa mụn nhọt. Trong đơn, Tuệ Tĩnh còn ghi rõ: “ăn nhiều, tán
khí, hại người”. “Đỗ Tất Lợi (1970, 1977). Điều đó chứng tỏ không những
ông cha ta biết sử dụng kháng sinh mà còn am hiểu về tác dụng độc của
chúng. Nhiều bài thuốc dân gian trong nhân dân, từ ngàn xưa đã dùng chữa
nhiễm trùng, được sử dụng dưới nhiều hình thức rất phong phú: trong uống,
ngoài xoa, dán cao, rắc bột…Ngày nay chúng ta đã tìm hiểu được cơ sở của
các bài thuốc trên. Trong các bài thuốc đó đều có chứa một số vị thuốc có
phytoncid. Thời Pháp thuộc, những kinh nghiệm lâu đời này trong dân gian bị
chèn ép, mai một dần trước sự cạnh tranh của các thuốc tổng hợp phương tây.
Kháng sinh thực vật đã bị coi nhẹ, gần như nó chỉ được sử dụng ở những
vùng nông thôn hẻo lánh và rừng núi xa xôi. Sau Cách mạng tháng 8, nhất là
ngày hoà bình lặp lại 1954 vời phương châm đông tây y kết hợp, kháng sinh
berberin tinh khiết.
2.3.3. Phân loại phytoncid
Trên thực tế để tiện cho công tác điều trị, người ta chia phytoncid thành
những nhóm sau:
2.3.3.1 Phytoncid dùng trong điều trị vết thương nhiễm trùng và chống nấm
gây bệnh ngoài da
Trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ, các chiến trường đã sử dụng
nhiều cây thuốc để chữa vết thương. Để chữa vết thương phần mềm người ta
dùng các cây: Mỏ quạ, lá Vối, Tô mộc, Sung, Sâm đại hành, Dừa cạn, Lọc
sởi…Bệnh viện Việt Tiệp đã nghiên cứu lá cây Sắn thuyền làm se vết thương
12
B¸o c¸o tèt nghiÖp
và chống nhiễm trùng tốt. Hiện nay việc tìm kháng sinh chống nhiễm trùng
mủ xanh trong điều trị đang là vấn đề thời sự ở nhiều nước. Theo Đặng Hạnh
Khôi (1978) và nhiều tác giả khác trên thế giới, tỷ lệ xạ khuẩn cho kháng
sinh, có tác dụng với trực trùng mủ xanh, chỉ vào khoảng 3%. Nhưng qua
điều tra cây cỏ Việt Nam, chúng ta gặp rất nhiều cây có tác dụng trên. Ngoài
cây Lân tơ uyn thuộc họ Ráy còn có Đuôi phượng, Ráy leo, Ráy dai, Bèo
tây…Phytoncid không phải chỉ có ở họ Ráy mà còn ở hàng loạt các họ khác
nữa như Mỏ quạ, Diếp cá, lá Sòi, vỏ cây Gạo…
Chữa bệnh ngoài da do nấm gồm các dược liệu Mỏ quạ, Mâm xôi,
nhựa chuối tiêu, lá Mướp, vỏ quả Xanh và lá búp Ổi, lá cây Bạch hoa sà…
2.3.3.2. Phytoncid chữa bệnh đường ruột và hô hấp
+ Chữa lao dùng đã có kết quả: nước Tỏi, Mã đề thảo, Bách bộ. Đỗ
Văn Thạch (1977).
+ Viêm họng có Huyền sâm, Dẻ quạt, Gừng, Húng chanh…
+ Tiêu chảy: lá Vối, búp Chè, vỏ quả và lá Ổi, Tỏi…
+ Chữa lỵ gồm các cây: Tô mộc. Nha bào tử, hạt Vải, Vối, Lân tơ uyn,
Ráy leo, Hoàng đẳng, Vàng đắng, cỏ Sữa lá nhỏ, cỏ Sữa lá lớn. Viện Dược
liệu nghiên cứu sử dụng chế phẩm của Tỏi ở dạng formalglyxerin, Thừng
cai sữa toàn đàn tăng từ 4,6 – 7 kg lên 9 – 10 kg/con, (so sánh với lô đối
chứng, được chữa bằng các thuốc hoá học trị liệu.)
- Phạm Khắc Hiếu (1969), đã nghiên cứu sử dụng Tỏi ta (Allium
sativum L) trong điều trị bệnh tụ huyết trùng gà và đưa ra hướng sử dụng Tỏi
trong thú y. Cùng tác giả, năm (1968) công bố kết quả nghiên cứu ứng dụng
cây Bồ công anh (Lactura Indica L và Taraxacum officinal L.) điều trị viêm
tắc sữa ở bò, lợn. Thuốc không những có tác dụng tốt lên vi khuẩn gây viêm
14
B¸o c¸o tèt nghiÖp
vú mà còn có tác dụng thông tia sữa, lợi sữa. Trong năm (1968), tác giả còn
ứng dụng Tô mộc vào điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con.
- Phạm Ngọc Viễn (1984) đã điều tra và tìm được 10 cây kháng sinh
thực vật có tác dụng tốt trên vi trùng gây bệnh trên ong mật
- Trần Minh Hùng và cộng sự (1978), viện thú y quốc gia đã dùng
kháng sinh thực vật: Mộc hương, Tô mộc, Tỏi trong chăn nuôi và phòng bệnh
đường tiêu hóa lợn. Tác giả đã dùng Tỏi làm thuốc kích thích sinh trưởng ở
lợn con…
- Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1995) đã kiểm tra tính kháng khuẩn của
hơn 120 loại dược liệu chứa phytoncid đối với vi khuẩn gây bệnh thú y
thường gặp. Các tác giả đã tìm ra những dược liệu có tác dụng tốt với từng
loại vi khuẩn gây bệnh cho gia súc, gia cầm.
Trong giáo trình Đông dược thú y tái bản (1994) Phạm Khắc Hiếu cũng
đã nêu nên quan điểm sử dụng phytoncid để kích thích tăng trọng gia súc, gia
cầm. Hướng sử dụng này sẽ khắc phục được những nhược điểm do kháng
sinh tố gây nên như: hiện tượng kháng thuốc của vi trùng, dư cặn kháng sinh
trong sản phẩm chăn nuôi.
Gần đây nhất, Lê Thị Ngọc Diệp (1996), Trường đại học Nông Nghiệp
I, trong luận án thạc sỹ khoa học thú y cũng đã công bố công trình nghiên
cứu: “Tác dụng dược lý và khả năng ứng dụng cây Astiso trong chăn nuôi thú
y”. Ngoài tác dụng làm thuốc kích thích tăng trọng gia cầm; cây Astiso còn có
Ứng dụng trong thú Y:
Theo Lê Thị Ngọc Diệp (2000), cao astiso có tác dụng làm thuốc tiêu
độc khi gia cầm bị trúng độc độc tố nấm mốc và kích thích tăng trưởng.
Astiso có tác dụng kháng khuẩn rõ nên được sử dụng trị vết thương và chống
gan thực nghiệm.
2. Cây Bạc hà
Tên khoa học: Mentha arvensis L.
16
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Thuộc họ Hoa môi Lamiaeceace (Labiatae).
Mô tả:
Cây thảo, sống lâu năm. Thân mềm, hình vuông. Lá mọc đối, hình bầu
dục hoặc hình trứng. Cuống ngắn. Mép lá khía răng đều. Hoa nhỏ, mầu
trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiều hoa.
Lá bắc nhỏ, hình dùi. Cây mọc hoang nhiều ở Sapa, Tam Đảo, Ba Vì, Bắc
Cạn, Sơn La.
Thành phần hóa học:
Toàn cây chứa tinh dầu trong có L - menthol 65 – 85%, me thyl axetat,
L - menthon, L - a - pinen, L - limonen.
Tác dụng:
Chữa đau bụng đi ngoài, sát trùng mạnh, chữa cảm sốt, nhức đầu, ngạt mũi.
3. Cây Chè
Tên khoa học: Thea chinensis seem.
Họ Chè Theaceae
Mô tả: Cây nhỡ thường xanh, cao 1- 6m. Lá mọc so le, phiến lá lúc
non có lông mịn, khi già thì dày, bóng, mép khía răng cưa rất đều. Hoa to,
với 5-6 cánh hoa màu trắng, mọc riêng lẻ ở nách lá, có mùi thơm; nhiều nhị.
Bộ phận dùng: Cành, lá
Thành phần hoá học: Trong lá chè có tinh dầu, các dẫn xuất
polyphenolic (flavonoid, catechol, tanin) các alcaloid cafein, theophyllin,
thích được tuyến mồ hôi nên còn được sử dụng như một thức ăn giải độc.
Người ta vẫn nấu cháo hành để chữa cảm mạo, phong hàn, nhức đầu. Ăn cháo
hành nóng cũng chữa đau lưng, kiết lỵ.
Ngoài ra, hành còn có tác dụng hạ thấp mỡ trong máu, có hiệu quả trị
liệu nhất định đối với bệnh tim mạch. Nước ép hành rất tốt cho việc điều trị
18
B¸o c¸o tèt nghiÖp
bệnh thiếu máu. Hợp chất lưu huỳnh có trong gia vị này giúp ngăn chặn sự
phát triển của các tế bào ung thư.
6. Cây Gừng
Tên khoa học: Zengibber offcinale
Mô tả : Cây cỏ, sống nhiều năm. Thân rễ dạng củ, phân nhánh. Lá mọc
so le, hình dải, có bẹ ôm lấy thân. Hoa màu vàng, pha xanh tím, tụ tập thành
bông, mọc từ gốc. Toàn cây, nhất là thân rễ có mùi thơm, vị cay nóng.
Thành phần hóa học : Thân rễ chứa tinh dầu trong có D-camphen,
zingiberen, sesquiterpen, alcol, citral, borneol, geraniol và nhựa,
Công dụng : Kháng khuẩn, giúp tiêu hóa. Chữa đau bụng lạnh, đầy
trướng, không tiêu, kém ăn, nôn mửa, ỉa chảy, lỵ ra máu, nhức đầu, cảm cúm,
chân tay lạnh, mạch yếu, ho mất tiếng, ho suyễn, thấp khớp, ngứa.
7. Cây Hẹ
Tên khoa học: Allium odorum.
Thuộc họ: Hành Alliaceae
Mô tả:
Cây hẹ, thuộc thân thảo, cây giống một loại cỏ, thường có chiều cao
khoảng 20 đến 50 cm tùy đất và mùa vụ. Lá hẹp, hình dẹp, dài, bản lá hẹp,
nhưng dày, hoa có màu trắng.
Bộ phận dùng: Cả cây
Thành phần hoá học:
Trong lá và củ hẹ có các hợp chất sunfua, saponin, chất đắng và một
hợp chất có tên là odorin. Nhười ta còn phát hiện thấy trong hạt hẹ có chất
Tên khoa học: Coscinicum usitatum Pierre
Mô tả: Dây leo, thân gỗ. Rễ và thân màu vàng. Vỏ thân nứt nẻ, màu
xám trắng. Lá mọc so le, có cuống dài, hơi đính vào trong phiến lá, 3 - 5 gân,
mặt dưới có lông trắng bạc. Hoa nhỏ mọc thành chùm chùy ở những thân đã
rụng lá
20
B¸o c¸o tèt nghiÖp
Bộ phận dùng: Thân và rễ. Thu hái quanh năm. Phơi hoặc sấy khô. Có
thể chiết berberin
Thành phần hoá học:
Thân và rễ chứa alcaloid berberin với tỷ lệ 1,5-3%.
Công dụng:
Chữa ỉa chảy, lỵ trực khuẩn, viêm ruột, vàng da, sốt, sốt rét, kém tiêu hoá.
11. Cây Ổi ta
Tên khoa học: Psidium guyjava L.
Thuộc họ: sim Myrtaceae
Mô tả: Ổi là một loại cây nhỡ, cành nhỏ có cạnh vuông. Lá mọc đối,
hình bầu dục, có cuống ngắn, phiến lá có lông mịn ở mặt dưới. Hoa có màu
trắng, mọc ra từ kẽ lá. Quả mọng, có phần vỏ quả dày ở phần ngoài.
Thành phần hoá học:
Quả và lá ổi đều chứa beta-sitosterol, quereetin, guaijaverin,
leucocyanidin và avicularin; lá còn có tinh dầu dễ bay hơi, eugenol; quả chín
chứa nhiều vitamin C và các polysaccarit như fructoza, xyloza, glucoza,
rhamnoza, galactoza ; rễ có chứa axit arjunolic; vỏ rễ chứa tanin và các axit
hữu cơ.
Công dụng: Lá ổi thường được dùng làm thuốc chữa tiêu chảy do có
chứa nhiều tanin, giúp làm săn niêm mạc ruột, làm giảm tiết dịch ruột, giảm
nhu động ruột và có tác dụng kháng khuẩn.
12. Cây Quế
Tên khoa học: Cinmomum louveii Nees
Theo đông y tỏi có vị cay tính ấm, có tác dụng: giúp tiêu hóa, giúp hô
hấp, giải độc trừ đờm, lợi niệu, tẩy giun.
Theo Tây y, tỏi có tác dụng: giảm cholesterol huyết, giảm huyết áp, lợi
niệu, kích thích hệ miễn dịch, ngoài ra tỏi còn có tác dụng kháng sinh mạnh
đối với một số loại vi khuẩn.
22