TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CHĂN NUÔI VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CHO
THỊT CỦA GÀ LÔNG CẰM ĐƯỢC NUÔI TẠI XÃ QUÝ
SƠN, HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG”
Khóa luận tốt nghiệp
HÀ NỘI - 2011
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CHĂN NUÔI VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CHO
THỊT CỦA GÀ LÔNG CẰM ĐƯỢC NUÔI TẠI XÃ QUÝ
SƠN, HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG”
HÀ NỘI - 2011
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng các kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
trung thực và chính xác. Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về số liệu và nội
dung đã trình bày.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp này đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày… tháng… năm….
Sinh viên
Trần Thị Thanh Ngân
i
Khóa luận tốt nghiệp
source not found
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế Error: Reference source not found
iv
Khóa luận tốt nghiệp
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa dạng sinh học và nguồn lợi di truyền có vai trò quan trọng trong việc duy
trì và phát triển nông nghiệp bền vững. Tuy nhiên, hiện nay các giống gia súc,
gia cầm truyền thống đang có hiện tượng suy thoái và mất dần tính đa dạng di
truyền do sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự khai thác sử dụng bừa
bãi của con người. Việc các nước nghèo nhập khẩu ồ ạt các giống vật nuôi có
năng suất cao nhưng chất lượng sản phẩm và khả năng thích nghi kém đã dẫn
đến nhiều giống vật nuôi địa phương quý bị thoái hoá, lai tạp thậm chí bị tuyệt
chủng.
Theo con số thông kê, 17.000 loài động và thực vật đang đứng trước nguy cơ
tuyệt chủng, các loài động vật có xương sống hoang dã đã giảm trung bình 1/3
trong khoảng thời gian từ 1970 - 2006, với tốc độ giảm đặc biệt nhanh ở khu vực
nhiệt đới. Trong 10 năm qua, 35% rừng đước ven biển, 40% diện tích rừng và
50% diện tích vùng đất ướt đã biến mất; 1 trong 3 loài động vật lưỡng cư; 27%
san hô sống ở thềm lục địa đứng trước nguy cơ tuyệt chủng; 60% dịch vụ hệ
sinh thái đã suy thoái. Đa dạng nguồn gen, nhân tố quan trọng để đa dạng nguồn
giống cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi cũng đang
suy giảm.
Để ngành chăn nuôi gia cầm nước ta phát triển nhanh chóng và bền vững,
bên cạnh việc nhập khẩu các giống công nghiệp có năng suất cao, cần phải
nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các giống gà địa phương quý hiếm.
Gà Lông Cằm là gà địa phương có khả năng sinh trưởng nhanh, trứng và thịt
thơm ngon, màu sắc, hình dạng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Để
góp phần nhân rộng trong sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ”Khả
và dái tai lớn, mỏ cong dài và nhọn.
- Kiểu Mã Lai (gà chọi): Ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ,
đầu nhỏ, mắt lõm, mỏ khỏe ngắn.
- Kiểu Cochin: nhiều lông, bồng, mào dái tai vừa nhỏ, mào đỏ, mỏ ngắn.
Gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đó phân bố đi khắp thế
giới. Nước ta là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của vùng
Đông Nam Á, đàn gà được nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây…
cách đây chừng hơn 3000 năm. Từ những giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của
gà Ri hiện nay, trải qua hàng ngàn năm nhân dân ta đã tạo ra các giống gà: gà
Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía, gà Chọi…
3
Khóa luận tốt nghiệp
2.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SỰ DI TRUYỀN
CÁC TÍNH TRẠNG GIA CẦM
Trong quá trình phát triển cá thể, mỗi tính trạng được hình thành là kết
quả của hàng lọat các quá trình sinh hóa xảy ra dưới ảnh hưởng của các enzyme
có tính chất đặc thù, là kết quả tác động qua lại của nhiều gen trong cơ thể.
Các tính trạng gia cầm, gia súc rất phong phú và đa dạng. Mặc dù giới hạn
không phân biệt rõ rệt song có thể chia các tính trạng con vật ra làm 2 loại: tính
trạng chất lượng và tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng năng suất
(Nguyễn Ân và cs, 1983).
2.2.1. Bản chất di truyền của tính trạng chất lượng
H.Brandsch và H.Biichel (1978) cho biết một số tính trạng thuộc về đặc
điểm sinh vật học của gia cầm như: màu sắc lông, hình dáng cơ thể, hình dáng
mào, thành phần chất lượng thịt… thuộc nhóm tính trạng chất lượng. Khác với
tính trạng số lượng, tính trạng chất lượng được quy định bởi vài cặp gen có hiệu
ứng lớn, là tính trạng có hệ số di truyền khá cao và ít chịu ảnh hưởng của điều
kiện ngoại cảnh. Sự di truyền của tính trạng chất lượng tuân theo các định luật di
truyền cơ bản của Mendel - định luật đồng tính, định luật phân ly và định luật di
truyền độc lập của các tính trạng.
s
Trong đó:
E
g
là môi trường chung
E
s
là môi trường riêng
Qua phân tích ở trên cho thấy: năng suất của các giống vật nuôi nói chung
và gia cầm nói riêng là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và ngoại cảnh
môi trường. Các giống gia cầm cũng như các giống vật nuôi khác đã nhận từ bố
mẹ một khả năng di truyền nhất định, nhưng khả năng đó phát huy được hay
không còn phụ thuộc vào môi trường sống.
Sự tương tác giữa môi trường và ngoại cảnh có nghĩa là mỗi loài động vật
có một kiểu gen nhất định có thể biểu thị tốt ở môi trường này nhưng ngược lại
ở môi trường kia. Do đó cần phải tạo ra môi trường thích hợp để kiểu gen có thể
biểu hiện hết tính di truyền của nó. Chăm sóc, nuôi dưỡng tạo môi trường thích
hợp để khai thác tốt tiềm năng di truyền của phẩm chất giống đó.
5
Khóa luận tốt nghiệp
2.3. CÁC TÍNH TRẠNG NGOẠI HÌNH Ở GIA CẦM
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến sức khỏe, cấu tạo,
chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất và hình
dáng đặc trưng của một giống.
- Màu sắc da, lông
Theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999), màu sắc da, lông là mã hiệu của
giống, là tín hiệu để nhận dạng con giống.
Màu sắc lông, da là một trong những chỉ tiêu chọn lọc con giống, thông
thường màu sắc lông đồng nhất là giống thuần, màu không đồng nhất là giống
không thuần đã bị pha tạp (tất nhiên không phải giống nào cũng thế).
- Mào
Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp, có thể dùng để phân biệt trống, mái.
Mào gồm lớp biểu bì và biều mô dưới da, ở giữa chứa rất nhiều mạch máu
(quyết định sắc tố của mào), màng keo, tế bào mỡ và các đầu mút dây thần kinh.
Mào gà đa dạng về hình dáng như mào đơn, mào nụ, mào hoa hồng, mào hồ đào.
Kích thước, màu sắc đặc trưng cho từng giống. Các giống gà nhẹ cân, mào có kích
thước trung bình, mào tai mềm và trắng. Các giống gà nặng cân, mào nhỏ hơn, mào
tai mỏng và đỏ.
Tích hay còn gọi là mào dưới, nằm ở dưới mỏ của gà. Cấu tạo của tích có
đặc điềm giống mào.
Theo hình dáng của mào, mào dưới, mào tai ta có thể suy đoán được tính
trạng sức khỏe và điều kiện sống của chúng.
- Mỏ
Mỏ có thể là sừng chắc do biểu bì dày lên. Mỏ là một chỉ tiêu quan trọng
trong chọn lọc giống. Màu sắc của mỏ thường phù hợp với màu sắc của da chân
và là một đặc điểm của giống (Nguyễn Thị Mai, 2006).
7
Khóa luận tốt nghiệp
Mỏ phải chắc và ngắn, mỏ trên và mỏ dưới phải phù hợp với nhau. Gà có
mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao.
- Chân
Gia cầm hầu hết có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (như gà Ác). Cổ, bàn và ngón
chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường
có móng và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài.
Vảy chân của gia cầm có nhiều hàng vảy khác nhau được xếp theo hình
chữ nhân, mái ngói, xếp thẳng hàng…
Chân gà phải chắc và không được thô, 2 bên to hơn có vảy bóng che phủ.
Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong thì không nên chọn làm giống.
2.4. CÁC TÍNH TRẠNG SINH TRƯỞNG CỦA GIA CẨM VÀ CÁC YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG
và 6- 7 tuần tuổi đối với gà mái.
- Sinh trưởng tuyệt đối
Là sự tăng lên vể khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng
thời gian giữa hai lần khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol.
- Sinh trưởng tương đối
Là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ
thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tương
đối có dạng hyperbol.
Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, đặc
điểm cơ thể và điều kiện môi trường.
2.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
2.4.3.1. Yếu tố di truyền
Các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, giống
gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng thịt trứng và giống gà
chuyên trứng.
9
Khóa luận tốt nghiệp
Phạm Thị Hòa (2004) cho biết, gà Đông Tảo ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ
thể đạt 1297,58g. Trong khi đó gà H’Mông ở 12 tuần tuổi đạt 950,59g (Đào Lệ
Hằng, 2001)
2.4.3.2. Giới tính
Gia cầm trống thường có khả năng sinh trưởng cao hơn gia cầm mái trong
cùng một điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì giữa 2 giới tính có sự khác nhau
về quá trình trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ
thể. Theo Jull (1923), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24- 32
%, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (hai
nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính).
Theo North và cộng sự (1990), lúc mới sinh ra gà trống nặng hơn gà mái 1%,
tuổi càng tăng thì sự khác biệt càng lớn.
2.4.3.3. Dinh dưỡng
như khối lượng sống, khối lượng thân thịt, khối lượng thịt đùi và khối lượng thịt
lườn. Ngoài ra người ta còn tính thêm các chỉ tiêu khác như tỷ lệ phần ăn được,
tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt ngực và tỷ lệ mỡ bụng…
Chambers (1990) cho biết giữa các dòng gà luôn luôn có sự khác nhau về
di truyền năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần thịt đùi, thịt ngực, cánh, chân,
hay phần thịt ăn được (không xương) và từng phần thịt, xương, da.
Kết quả nghiên cứu của David và Hutto (1953) ở con lai hai dòng gà
Newhamp Shire và Plymouth cho thấy ở gà broiler có sự tương quan dương giữa
khối lượng sống và năng suất thịt xẻ.
Các mức năng lượng, protein trong khẩu phần có ảnh hưởng đến năng suất
thịt. Mổ khảo sát gà broiler Ross 280 ở 8 tuần tuổi cho biết tỷ lệ thân thịt biến
động từ 72,69% - 74,59%, tỷ lệ thịt đùi là 20,51- 22,05% và tỷ lệ thịt ngực là
21,74- 23,18%.
Chất lượng thịt được phản ánh qua thành phần hóa học của thịt cũng có sự
khác nhau giữa các dòng, giống gia cầm và chế độ dinh dưỡng.
11
Khóa luận tốt nghiệp
Theo tài liệu của Chambers (1990) thì Prias (1984) đã xác định được hệ
số di truyền về thành phần trong thịt xẻ như sau: hàm lượng nước là 0,38%,
protein là 0,47%, mỡ là 0,48 và khoáng là 0,52%.
Chambers (1990) còn cho biết tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ
lệ mỡ (-0.39) và tương quan dương với tỷ lệ protein (0,53), độ ẩm (0,32) và
khoáng tổng số (0,14).Ngoài thành phần hóa học, người ta còn có thể đánh giá
chất lượng thịt thông qua mùi vị, màu sắc, độ ngọt, độ mịn của sợi cơ và độ
cứng của thịt.
2.6. TIÊU TỐN THỨC ĂN
Chi phí thức ăn trong chăn nuôi gia cầm thường chiếm tới 60- 70% giá
thành sản phẩm, do vậy tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm càng thấp thì
hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Theo Chamners và cs (1984), hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và
2.8.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Qua 20 năm đổi mới đến nay ngành chăn nuôi gia cầm đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, có nhiều công trình nghiên cứu, bảo tồn các nguồn gen quý
hiếm của các giống gà nội như: gà Ri, gà Hồ, gà Mía… nghiên cứu thích nghi và
đưa vào sản xuất các giống gà công nghiệp như: AA, Ross, ISA… gà trứng
thương phẩm 4 dòng cho năng suất 270 - 280 quả/ mái/ năm. Đồng thời với việc
nghiên cứu, đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp chuyên dụng, từ năm 1995
chúng ta đã tập trung nghiên cứu và phát triển các giống gà chăn thả năng suất
chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc. Các giống gà Tam Hoàng, Kabir, Sasso,
Ai Cập cho chất lượng thịt, trứng ngon, năng suất cao, đang được thị trường
chấp nhận.
Các giống gà nội của Việt Nam có nhiều giống. Chúng có đặc điểm
chung là chịu đựng tốt khí hậu địa phương, dễ nuôi dưỡng, chăm sóc và các sản
phẩm thịt, trứng thơm ngon, có hương vị đặc trưng. Nhưng nhược điểm là khả
năng sinh sản kém, năng suất thấp. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang
và cs (1999) cho biết khả năng sản xuất của gà Ri lúc 18 tuần tuổi, gà trống nặng
1675 g, gà mái nặng 1247 g, sản lượng trứng 100 quả/ mái/ năm; ở gà Đông Tảo
13
Khóa luận tốt nghiệp
lúc 22 tuần tuổi gà trống nặng 2530 g, gà mái nặng 1989 g (Nguyễn Đăng Vang
và cộng sự, 1999), sản lượng trứng gà Đông Tảo đạt 67,7 - 68,3 quả (Lê Viết
Ly và cộng sự, 2001); khối lượng cơ thể gà Mía lúc 14 - 15 tuần tuổi, gà trống
nặng 2175 g, gà mái nặng1740 g (Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh, 1999).
Trong thời gian qua chúng ta đã nhập nội và đưa vào sản xuất một số giống gà
lông màu, gà công nghiệp hướng trứng và hướng thịt có năng suất và chất lượng
cao, đã và đang được thị trường chấp nhận.
Giống gà Kabir nuôi thịt 8 tuần tuổi có khối lượng 1,99 kg với tiêu tốn thức ăn
2.06 kg/ kg tăng trọng (Trần Công Xuân và cs, 2007). Nhìn chung tình hình phát
triển và nghiên cứu gia cầm ở nước ta trong thời gian qua đã được nhiều kết quả to
lớn, thể hiện sự đa dạng về giống, năng suất, sản lượng được tăng cao.
Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm ngoại hình
- Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi
- Thu nhận thức ăn (g/ con/ ngày)
- Tiêu tốn thức ăn/ 1 kg tăng trọng
- Tỷ lệ nuôi sống
- Kích thước các chiều đo cơ thể
- Khả năng cho thịt của gà lông cằm
3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo dõi, thu thập số liệu về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng
và năng suất cho thịt của đàn gà Lông Cằm đuợc nuôi tại xã Quý Sơn, huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
3.3.1.Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà
Đàn gà Lông Cằm được nuôi trên nền chuồng có đệm lót bằng trấu khô.
Chuồng thông thoáng tự nhiên, có luới sắt bao quanh và có bạt che vào những
15
Khóa luận tốt nghiệp
ngày mưa rét. Trong chuồng có hệ thống đèn điện chiếu sáng, máng ăn, máng
uống. Mái chuồng được làm bằng ngói giúp chống nóng trong mùa hè. Bên
ngoài là sân chơi, ngay sát chuồng sân chơi được lát gạch, phần còn lại là nền
đất. Chuồng trại được vệ sinh hàng ngày và hàng tuần được phun khử trùng
bằng thuốc sát trùng Iodine 10%, rắc vôi bột xung quanh chuồng nuôi.
Bảng 3.1: Quy trình vệ sinh phòng bệnh cho gà
Ngày Phòng bệnh Thứ tự Cách dùng
1 Bệnh Marek 1 lần Tiêm dưới da cổ
Bệnh cúm Lần 1
3 Bệnh Newcastle (ND) và Bệnh viêm phế
quản truyền nhiễm (IB)
sát trùng sạch sẽ. Máng ăn sử dụng khay tròn hoặc khay vuông, máng uống sử
dụng máng uống galon. Máng ăn và máng uống xen kẽ nhau để tiện cho gà ăn
uống, đỡ phải đi xa.
Khi thả gà vào quây,cho gà uống nước có pha thuốc bổ: đường glucoza
50g, Vitamin C 1g, B- Complex 1g/ 1 lít nước. Sau khi gà uống nước được vài
tiếng thì bắt đầu cho gà ăn. Thức ăn được đổ vừa phải và đổ nhiều lần trong
ngày để đảm bảo độ thơm ngon, kích thích tính thèm ăn của gà.
Yêu cầu về nhiệt độ quây úm trong giai đoạn úm
Tuần 1: 32- 33
0
C
Tuần 2: 30- 32
0
C
Tuần 3: 28- 30
0
C
Tuần 4: 25- 28
0
C
Quan sát gà, nếu thấy gà tản đều trong quây úm, ăn uống bình thường thì
gà bình thường. Nếu gà chụm lại quanh bóng đèn chứng tỏ gà lạnh, ta có thể
thêm đèn hoặc hạ thấp bóng đèn để tăng nhiệt cho gà. Gà tập trung lại quanh
17
Khóa luận tốt nghiệp
máng uống chứng tỏ gà thừa nhiệt, ta có thể nâng cao bóng đèn lên hoặc thay
bóng đèn úm có công suất nhỏ hơn để đảm bảo nhiệt độ đủ cho gà.
- Giai đoạn từ 5- 15 tuần tuổi
Từ 5 tuần tuổi gà được thả ra khỏi quây, chạy nhảy trong chuồng hoặc ở
ngoài sân chơi. Giai đoạn này cho gà ăn băng máng tròn P50.