Phần 1
Phục vụ sản xuất
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu về thịt lợn của người
tiêu dùng ngày một nâng cao không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng.
Đàn lợn trên khắp các tỉnh thành cả nước theo xu hướng ngày càng nạc
hóa cao. Các giống lợn nhập nội như Yorkshire, Landrace, Duroc… và
lợn lai (lợn ngoại x lợn nội) đang được nuôi phổ biến ở các vùng trong khi
đó các giống lợn nội đang cã xu hướng giảm dần, thậm chí một số giống
còng có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Hiện nay ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển ngày càng mạnh
với các hình thức chăn nuôi đa dạng từ nông hé gia đình nhỏ lẻ đến chăn nuôi
quy mô tập trung với số lượng vật nuôi lớn. Đó sẽ là nguồn cung cấp thực
phẩm lớn cho người dân và cho xuất khẩu. Chăn nuôi đã và đang chiếm một
vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp, đó là nguồn thu nhập đáng
kể cho người dân đồng thời cung cấp một lượng lớn nguồn phân bón phục vụ
cho sản xuất trồng trọt. Chăn nuôi lợn rừng lai với lợn địa phương là một
hướng phát triển tốt cho người dân sống ở vùng rừng núi, cao nguyên, đồng
bào thiểu số, vì các đặc điểm tốt của thịt vì sản phẩm có tính hữu cơ cao Ýt
mì, mùi vị thơm ngon hấp dẫn không tồn dư các chất hóa học theo quy định.
Trong chăn nuôi lợn ở khu vực miền núi, do đặc điểm tự nhiên đã hình thành
nên một nhóm lợn lai giữa lợn rừng và lợn nhà. Nhóm lợn này có những ưu
điểm nổi bật hơn so với lợn nhà về chất lượng thịt mỡ và độ làm tăng thêm
giá trị kinh tế cho người chăn nuôi. Việc phát triển chăn nuôi lợn lai giữa lợn
rừng và lợn nhà đã được chứng minh là một giải pháp góp phần phát triển
chăn nuôi lợn cho người dân miền núi.
Tuy nhiên, xuất phát từ hình thức chăn nuôi bán chăn thả trong vườn,
khả năng lây nhiễm giun sán của lợn lai giữa lợn rừng và lợn địa phương rất
1
- Phía Bắc giáp xã Yên Lạc
- Phía Tây giáp xã Phú Đô
* Địa hình
Xã Tức Tranh có địa hình tương đối phức tạp, nhiều đồi núi cao và
những cánh đồng xen kẽ đồi núi.
Xã Tức Tranh bao gồm 24 xóm và chia thành 4 vùng.
- Vùng phía Tây gồm 5 xóm: Tân Thái, Bãi Bằng, Khe Cốc, Minh Hợp,
Đập Tràn
- Vùng phía đông gồm 7 xóm: Gốc Sim, Đan Khê, Thác Dài, Gốc Gạo,
Ngoài Tranh, Đồng Lòng.
- Vùng trung tâm gồm 7 xóm: Cây Thị, Khe Xiêm, Sông Găng, Đồng
Danh, Đồng Hút, Quyết Thắng, Quyết Tiến.
- Vùng phía bắc gồm 5 xóm: Gốc Cọ, Gốc Mít, Đồng Lường, Đồng
Tâm, Đồng Tiến.
* Đất đai
Xã Tức Tranh chủ yếu là loại đất cát, đất thịt pha cát, đất sỏi cơm. Nhìn
chung đất có độ màu mỡ cao thích hợp cho nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây chè.
Với tổng diện tích là 2559,35 ha, trong đó diện tích sử dụng là 2252,35
ha, chiếm 99,73% diện tích đất tự nhiên của xã. Diện tích đất chưa sử dụng là
3,7 ha chiếm 0,27% tổng diện tích đÊt tự nhiên của xã, diện tích đÊt chưa sử
dụng chiếm tỷ lệ rất nhỏ, đó là những vùng đất ven đường, ven sông suối…
Bảng 1.1: Diện tích các loại đất của xã Tức Tranh (2007 - 2008)
Loại đất Diện tích (ha) %
Tổng diện tích đất tự nhiên 2559,35 100
Đất nông nghiệp 1211,3 47,33
ĐÊt lâm nghiệp 764,67 29,87
Đất ở 423,3 16,54
Đất chuyên dùng 2252,35 99,73
Đất chưa sử dụng 3,7 0,27
khó khăn. Việc tưới tiêu trong xã phụ thuộc vào lượng nước mưa dẫn đến sản
xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vùng núi và vùng cao.
4
* Thủy văn
Để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân xã đã xây dựng một
trạm bơm nước nhằm phục vụ nước cho người dân trong xã về sản xuất nông
nghiệp và để đáp ứng cho nhu cầu tưới tiêu của nông dân.
* Giao thông
Huyện Phú Lương có đường quốc lộ 3 chạy qua nối liền thành phố Thái
Nguyên - Phú Lương - Bắc Kạn. Xã Tức Tranh có mạng lưới giao thông của
xã đang được phát triển mở réng có đường huyện lộ dài 3,6km chạy qua trung
tâm xã, 100% các xóm có đường ôtô đến trung tâm, trong đó có 2 km đường
bê tông, 5 km đường cấp phối còn lại là đường đất.
1.2.2.2. Tình hình kinh tế, chính trị xã hội của xã Tức Tranh
* Tình hình về kinh tế
Tức Tranh là xã có cơ cấu kinh tế đa dạng nhiều thành phần kinh tế
cùng hoạt động.
- Về sản xuất nông nghiệp: Đã có từ lâu đời cho nên nó chiếm một tỷ lệ
khá lớn (hơn 80% số hộ sản xuất nông nghiệp). Kết hợp chặt chẽ chăn nuôi và
trồng trọt đã làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Đây là ngành đem lại
thu nhập chính cho người dân trong xã.
- Về lâm nghiệp: Việc trồng cây gây rừng được chính quyền xã và
người dân quan tâm hưởng ứng, diện tích đất trèng đồi trọc đã được phủ xanh
dần dần, tuy nhiên là các cây lấy gỗ chưa đến độ tuổi khai thác nên chưa đem
lại thu nhập cho người dân.
- Về dịch vụ: Đây là ngành mới được phát triển, chủ yếu là các cửa
hàng buôn bán các sản phẩm chủ yếu dùng cho sinh hoạt hàng ngày. Mấy
năm gần đây tốc độ phát triển rất nhanh và đem lại sự khởi sắc cho xã.
Nhìn chung nền kinh tế của xã còn kém phát triển, sản xuất còn mang
chưa phù hợp, về mùa hè chưa thoáng, mùa đông chưa được Êm áp, công
tác tiêm phòng chưa triệt để, nên gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng và nhiều
bệnh truyền nhiễm.
6
- Tổng đàn gà 13520 con chủ yếu là các giống gà địa phương, các
giống gà chuyên thịt, chuyên trứng có rất Ýt. Chăn nuôi chủ yếu là tận dụng
các phế phẩm của ngành trồng trọt, thức ăn dư thừa vì vậy năng suất còn thấp.
- Tổng đàn lợn có 1850 con nhìn chung các hộ gia đình đều nuôi theo
phương thức tập trung tận dụng, chỉ có mét số hé gia đình đã đầu tư vốn, con
giống thức ăn tốt áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào chăn nuôi,
cho nên lợn nhanh lớn đem lại thu nhập cao. Công tác giống lợn đang được
quan tâm, ngoài các giống lợn nội nh Móng Cái… nhiều gia đình đã nuôi lợn
nái ngoại, lợn lai để sinh sản cung cấp giống cho nhân dân trong vùng. Công
tác thú y cho đàn lợn chưa được tốt, hàng năm việc tiêm phòng chưa triệt để,
công tác vệ sinh chưa được chú ý nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra gây
thiệt hại không nhỏ cho người dân.
* Ngành trồng trọt
Ngành trồng trọt đã có chuyển biến mạnh theo hướng thâm canh tăng
vụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gieo trồng những giống mới có
năng suất cao, tăng hiệu quả kinh tế.
Diện tích đất trồng lúa là 261,42 ha, rau màu là 69,33 ha, đất trồng cây
hàng năm 330,75 ha.
Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2008 là:
- Cây lương thực và cây hoa màu
Tổng diện tích gieo vụ chiêm xuân đạt 230,15 ha /230 ha, đạt 100,06%
kế hoạch trong đó.
+ Diện tích lúa cao sản 154 ha /150 ha, đạt 102,66% kế hoạch.
+ Diện tích ngô 3,68 ha/5 ha, đạt 73,6%.
+ Lúa xuân đạt 53,85 tạ/ha x 230,15 ha =1238,66 tấn, đạt 98,87%
khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đưa xã
phát triển, đời sông nhân dân được cải thiện.
Chính sách phát triển của nhà nước đã tạo điều kiện cho nền kinh tế xã
hội phát triển, nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất, đầu tư cho nông nghiệp đã
đem lại lợi Ých thiết thực cho người dân.
8
1.3. Mục tiêu cần đạt được khi kết thúc chuyên đề
- Học hỏi kinh nghiệm thực tiễn về chăn nuôi lợn lai giữa lợn rừng và lợn
địa phương theo hình thức bán tập trung
- Thực hành thành thạo các kỹ năng về chăn nuôi, chẩn đoán và điều trị
các bệnh xẩy ra trong cơ sở chăn nuôi
- Tiến hành một chuyên đề khoa học: "Nghiên cứu tình hình bệnh giun
sán của lợn lai giữa lợn rừng và lợn địa phương Pắc Nặm nuôi tại trại
chăn nuôi xã Tức Tranh - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên và biện
pháp điều trị".
1.4. Tổng quan tài liệu
1.4.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [9] dạ dày lợn là dạ dày trung gian
giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần là: vùng thực quản (nhỏ),
vùng manh tràng, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị vùng thực quản
không có tuyến, vùng manh nang và thượng vị có tuyến tiết ra dịch nhầy
không có pepsin và HCL.
Nguyễn Thiện và cs, (1998) cho biết: Ruột non của lợn dài gấp 14 lần
chiều dài cơ thể gồm 3 phần: phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng. Ruột già
dài 4 - 5m gồm 3 đoạn manh tràng, kết tràng, trực tràng.
Hệ tiêu hóa của lợn thay đổi về khối lượng, kích thước và thể tích tùy
theo giống thức ăn, phương thức chăn nuôi. Lợn nuôi theo hướng mỡ, chăn
thả quảng canh ăn nhiều thức ăn thô thì bộ máy tiêu hóa to hơn, dài hơn so
với lợn hướng nạc. Do đặc điểm cấu tạo tiêu hóa mà lợn có các đặc điểm ăn
không định kỳ tẩy giun sán cho lợn, do vậy lợn bị nhiễm bệnh mà không biết
để lâu bệnh nhiễm càng nặng tỷ lệ chết rất cao.
Những đặc điểm của giun sán (và nói chung là các sinh vật) ở một địa
phương trước hết là do điều kiện của môi trường tự nhiên chi phối nh: khí
hậu, đất đai, sinh quyển… Riêng giun sán lại chịu ảnh hưởng của điều kiện tự
nhiên và điều kiện chăn nuôi của người dân, cho nên giun sán cũng chịu ảnh
hưởng của điÒu kiện sinh sống và điều kiện chăn nuôi của gia sóc, gia cầm.
Quá trình biến đổi và tiến hóa của giun sán làm cho chúng hoặc có
những đặc điểm chung hiện tại, hoặc có những đặc điểm riêng so với các sinh
vật khác, hoặc có những đặc điểm khác nhau ở từng vùng… chính là do
10
những thay đổi khác nhau của các điều kiện địa lý, khí hậu các điều kiện sinh
sống của chúng quyết định. Ở đây nói chung sự thích ứng Êy có thể là một sự
tiến hóa, cũng có thể là một sự thoái hóa (theo Đỗ Dương Thái và cs (1978)
[8]).
1.4.2.1. Bệnh giun đũa lợn
* Nguyên nhân
Bệnh gây ra do giun đũa Ascaris suum Goeze, 1782 họ Ascarididae, ký
sinh ở ruột non của lợn.
* Đặc điểm sinh học
Giun màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn. Đầu giun đũa có 3 môi
bao bọc quanh miệng, 1 môi ở phía lưng và 2 môi ở phía bụng, trên rìa môi có
1 hàng răng cửa. Giun đực dài 12 - 15 cm, đường kính 3mm. Giun cái dài 30 -
35 cm, đường kính 5 - 6 mm. Giun đực đuôi cong về phía bụng, giun cái đuôi
thẳng. Giun đũa thuộc lớp giun tròn. Theo Trần Tố và Đỗ Quyết Thắng
(2002) [14] cấu tạo hệ tiêu hóa của giun sán: bắt đầu là miệng, hầu, thực
quản, (hình chuỳ hoặc trụ, đôi khi làm thành 2 phần: phần cơ và phần tuyến),
tiếp đến là ruột (là một ống thẳng), cuối thân là lỗ hậu môn ở mặt bụng.
* Vòng đời
Mổ khám lợn tìm Êu trùng ở phổi và gan, tìm giun trưởng thành ở ruột non.
Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi Fuleborn để tìm trứng giun.
* Điều kiện lây bệnh
Tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 13,2 - 43,5% và cường độ nhiễm từ 3 - 21
giun/lợn. Điều kiện khí hậu nước ta nóng và Èm thuận lợi cho trứng giun phát
triển. Mặt khác vệ sinh thó y ở các cơ sở chăn nuôi chưa được thực hiện tốt,
chưa ủ phân còn bón phân tươi vào rau, thức ăn của lợn, nên lợn bị nhiễm
giun đũa rất phổ biến.
Tỷ lệ nhiễm giun đũa của lợn cao ở lứa tuổi từ 1 - 7 tháng tuổi, sau dó
tỷ lệ giảm dần theo lứa tuổi tăng lên. Lợn con dưới 2 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm
giun 39,2%, 3 - 4 tháng tỷ lệ nhiễm 48%. Trên 8 tháng tỷ lệ nhiễm 24,9%.
* Điều trị
Hanmectin - 25: 0,8 - 1,2ml/KgTT
12
Natri fluorat (NaF): 100mg/kg TT. Nhịn ăn 12 giờ, trộn thuốc với một
Ýt thức ăn ngon, sau khi uống cho lợn nhịn ăn giờ nữa, hiệu quả đạt 70 -
80%.
Tetramosol hoặc Levamisol: các loại thuốc này an toàn Ýt độc đối với
gia súc, tỷ lệ tẩy sạch giun là 90 - 100%.
Mebenvet: dùng liều 0,50g/kg TT, tỷ lệ tẩy sạch giun là 90 - 100%.
Levamisol: 6 - 8mg/kg TT
* Phòng bệnh
- Tẩy giun dự phòng: tẩy giun 4 tháng/1 lần. Nếu sau khi tẩy vệ sinh tốt
thì 1 đời lợn bột chỉ cần tẩy một lần vào lúc tách mẹ. Dùng 1 trong các loại
thuốc trên. Đối với lợn có chửa, đang nuôi con và lợn con theo mẹ thì không
nên tẩy.
- Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và môi trường, định kỳ phun thuốc sát
trùng
- Ủ phân để diệt trứng giun, ngăn ngừa sự phát tán mầm bệnh ra ngoài.
thể lợn là từ 5 - 9 ngày.
* Cơ chế sinh bệnh
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [2] tác hại cơ giới: Êu trùng
chui qua da, qua mạch máu tới phổi, các phế nang, làm tổn thương tổ chức
các cơ quan gây viêm phổi. Giun trưởng thành ở ruột non gây viêm ruột, rối
loạn tiêu hóa. Tác hại mang trùng. Êu trùng có thể mang vi khuẩn (phó
thương hàn) từ bên ngoài qua da ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh truyền
nhiễm ghép với bệnh ký sinh trùng.
* Triệu chứng
Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt, lợn con sau đẻ 3 - 4
tuần nhiễm bệnh rÊt nặng, chết tới 50%. Khi bị Êu trùng xâm nhập vào phế
nang, gây viêm phổi, lợn bị sốt cao (40 - 41
0
C), ho nhiều, thở khó. Con vật
gầy còm, có mụn trên da (do Êu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da),
14
viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng
viêm phổi, triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày nếu nặng có thể chết.
Khi nhiễm nhẹ, triệu chứng không rõ rệt
* Bệnh tích của bệnh
Dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có nhiều
điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc
ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ.
* Chẩn đoán bệnh
Có 2 phương pháp chẩn đoán
Kiểm tra phân, phát hiện trứng giun theo phương pháp phù nổi
Fulleborn nhưng cần lưu ý: lợn thải trứng giun trong khi không có dấu hiệu
lâm sàng.
Khi lợn chết, có thể mổ lợn, lấy niêm dịch ruột non Ðp trên lam kính,
Giun tóc có phần đầu nhỏ, dài: phần này cắm sâu vào niêm mạc ruột
gây tổn thương mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ. Trong
quá trình sống, giun tóc tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc.
* Triệu chứng bệnh
Lợn trưởng thành nhiễm giun thường thể hiện rõ các triệu chứng lâm
sàng. Lợn con ở lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiện các dấu hiệu nh:
ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng, sau phân sệt có nhiều dịch nhầy nh mũi, lẫn máu.
Mỗi lần thải phân, lợn phải cong lưng để rặn, nhưng phân chỉ ra rất Ýt.
Các triệu chứng trên giống nh lợn bị bệnh lý, nếu không được điều trị,
lợn con bị bệnh sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày. Lợn bị bệnh mãn tính sẽ
còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm.
* Bệnh tích của bệnh
Xác chết gầy, có nhiều giun ở ruột già một số giun vẫn cắm sâu vào
niêm mạc ruột phải kéo mạnh mới lấy ra được. Trên niêm mạc ruột có nốt
loét to bằng hạt đậu xanh. Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết
màu hồng sẫm.
* Chẩn đoán bệnh
- Quan sát thấy lợn 1 - 4 tháng tuổi có hội chứng lỵ
16
- Kiểm tra phân lợn, tìm trứng giun theo phương pháp phù nổi Fulleborn
là kỹ thuật chẩn đoán đơn giản, dễ thực hiện.
- Mổ khám lợn chết và lợn bệnh để tìm giun tóc trưởng thành trong niêm
mạc ruột già.
* Điều trị
Mebendazole: dùng liều 5mg /kg TT trộn với thức ăn cho lợn ăn 1 lần,
người ta cũng dùng liều thấp trộn với thức ăn theo liều 30 ppm cho lợn ăn liên
tục 10 ngày.
Levamisole: dùng liều 7,5mg /kg TT lợn. Thuốc có thể cho vào thức ăn
hoặc tiêm cho lợn.
Theo Kolapxki N.A và cs (1980) [1], trong màng niêm mạc ruột, cầu
trùng phát triển mạnh bằng sinh sản vô tính và làm cho hàng loạt tế bào biểu
bì bị chết, người ta xác định rằng, 1 con vật mắc bệnh cầu trùng thải ra môi
trường bên ngoài hàng ngày từ 9 - 980 triệu nang trứng. Điều đó có nghĩa là
trong cơ thể con vật ốm, hàng ngày bị chết trên 500 triệu tế bào biểu bì ruột.
Không những chỉ các tế bào trong đó cầu trùng sinh sản mạnh mẽ mà cả những
tế bào bên cạnh, những mao mạch và mạch quản bị phá hủy. Sự phá hủy hàng
loạt các tế bào của ký chủ làm cho tính toàn vẹn của vách ruột bị tổn thương.
Những vùng ruột bị phá hủy sẽ bị vi sinh vật xâm nhập vào làm phức tạp thêm
cho quá trình sinh bệnh và gây ra những ổ hủy hoại lớn cho màng niêm mạc.
Vì vậy, nhiều đoạn ruột không tham gia được vào quá trình tiêu hóa.
* Triệu chứng bệnh
Lợn bị bệnh cầu trùng thay đổi tùy thuộc vào tuổi con vật, loài cầu
trùng, số lượng Oocyst có mặt trong từ cơ thể của lợn.
Bệnh thường xảy ra thể cấp tính ở lợn con, còn lợn trưởng thành
thường tồn tại ở thể mãn tính
Thường xảy ra ở những lợn con từ sơ sinh đến dưới 2 tháng
tuổi, đặc biệt ở lợn từ 3 - 21 ngày tuổi nhiễm nhiều nhất (theo
Johannes Kaufmann, 1996).
Ở lợn con theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [5], tỷ lệ lợn con mắc
bệnh từ 50 - 70% bệnh thường xảy ra ở thể cấp tính hoặc mãn tính tỷ lệ tử vong
từ 10 - 20% nếu không điều trị kịp thời sau 5 - 7 ngày ủ bệnh, lợn đột ngột ủ rũ
mệt mỏi hay nằm Ýt bú và bỏ bú sau đó không lâu chúng ỉa chảy mạnh, phân
loãng hoặc nhầy, màu từ vàng đến trắng, mùi khắm và có lẫn máu.
Quan sát kỹ lợn bệnh thấy lợn bị chướng hơi, đầy bụng, khó chịu, nôn,
mất nước và có hiện tượng đau bụng, nằm cong lưng, ngoài ra có con biểu
hiện thần kinh nh đi không vững, đi vô hướng hoặc nằm co giật.
19
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [3], cho
Những biểu hiện lâm sàng và đặc điểm dịch tễ của bệnh thì khó chẩn đoán
chính xác đó là bệnh gì vì các bệnh ký sinh trùng thường có những biểu rất
giống nhau. Vì vậy việc xét nghiệm phân để chẩn đoán bệnh là căn cứ quyết
định kết quả chẩn đoán đối với lợn bị cầu trùng. Các phương pháp thường được
dùng là phương Fullerborn, Darling, Cherbovich, có thể dùng phương pháp
đếm Oocyst trên buồng đếm Mc. Master để xác định nhiễm cầu trùng lợn.
Với lợn chết: việc chẩn đoán được tiến hành qua mổ khám, kiểm tra
bệnh tích kÕt hợp với việc dùng phiến kính nạo nhẹ niêm mạc ruột, soi trên
kính hiển vi để tìm Oocyst và các dạng khác trong quá trình phát triển của cầu
trùng.
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [5], khi chẩn đoán bệnh cầu trùng,
cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh.
+ Giun đũa lợn: lợn bệnh cũng có biểu hiện tiêu chảy kéo dài, còi cọc,
chậm lớn, thỉnh thoảng nôn, ho. Tổn thương thấy ở gan, ruột, phổi, đặc biệt ở
ruột, xác gầy và chết.
+ Bệnh phân trắng lợn con: lợn con ỉa phân lỏng màu trắng sữa, dính
xung quanh hậu môn, lợn kém ăn lông xù, gầy yếu chậm lớn. Tỷ lệ chết cao
từ 40 - 70% thậm chí chết tới 100%.
+ Bệnh ỉa chảy do vi khuẩn đường ruột ở lợn sau cai sữa trở lên, lợn
bệnh có biểu hiện kém ăn, đau bụng rối loạn tiêu hóa, phân lỏng đi xiêu vẹo,
còi cọc. Bệnh tiến triển 10 - 15 ngày thì chết nếu không điều trị kịp thời.
+ Bệnh hồng lỵ: bệnh thường mắc nặng ở lợn cai sữa trở lên 6 - 12 tuần
tuổi, triệu chứng đặc trưng của bệnh là ỉa chảy phân màu hồng chứa màng
nhầy, máu và các tế bào hoại tử. Nếu không chữa kịp thời thì lợn sẽ chết, chết
với tỷ lệ cao.
* Phòng bệnh
- Vệ sinh chuồng trại, dụng cụ thiết bị sạch sẽ, chuồng trại chăn nuôi
phải xây nơi cao ráo có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, thức ăn phải
đảm bảo, nước uống phải sạch sẽ.
21
cái và cơ quan sinh dục đực nên có thể tù thô tinh trứng, hoặc hai cá thể sán
thụ tinh với nhau, gọi là hiện tượng “lưỡng tính dị thụ tinh”.
22
Trứng sán theo phân ra ngoài, gặp các điều kiện thuận lợi (nhiệt độ 18 -
32
0
C, có nước và ánh sáng) sẽ nở thành mao Êu (Miracidium). Mao Êu sống
trong nước, chui vào ốc ký chủ trung gian phát triển thành lôi Êu (Sporocyst),
bào Êu I (Redia I), bào Êu II (Redia II), vĩ Êu (Ceraria). Vĩ Êu chui ra khái ốc
rụng đuôi phát triển thành kén Adolescaria trôi nổi trên mặt nước. Giai đoạn
từ trứng đến kén phát triển khoảng 50 - 60 ngày. Lợn ăn phải kén, kÐn vào
ruột phát triển thành sán trưởng thành khoảng 90 ngày.
* Cơ chế sinh bệnh
- Tác động cơ giới: sán trưởng thành có giác bám khỏe, làm ruột bị viêm
loét, số lượng nhiều làm tắc ruột.
- Tác động đầu động: độc tố của sán làm lợn gầy còm, thủy thũng, sút
cân, thiếu máu bạch cầu tăng, sức đề kháng giảm.
* Triệu chứng
Lợn bị bệnh ăn uống thất thường, lợn gầy còm thủy thũng, ỉa chảy,
lông xù chậm lớn do sán chiếm đoạt chất dinh dưỡng. Lợn nhiễm sán ăn vẫn
khỏe nhưng không lớn được, tăng trọng rất thấp gây thiệt hại về kinh tế.
Lợn nái nuôi con nhiễm sán lá không những gầy mà còn giảm lượng
sữa ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn con.
Sán lá gây tác hại cơ giới khi di chuyển trong ruột non, tạo điều kiện
cho nhiễm trùng thứ phát, gây viêm ruột. Lợn thể hiện ỉa chảy, phân tanh có
thể dẫn đến tử vong. Độc tố của sán cũng gây ra hiện tượng rối loạn tiêu hóa
ở lợn 3 - 4 tháng tuổi, khi ỉa tháo, khi phân lỏng, làm cho lợn còi cọc chậm
lớn.
Ở những lợn đã trưởng thành 6 - 8 tháng tuổi thường thấy niêm mạc
Theo Đỗ Dương Thái, (1967) [8]: dùng hạt thùn mùn: 5g/lợn
Tetrachlorua - cacbon: 0,1 - 0,15g/kg TT
Oxychloramid: 160mg/kg TT
Praziquantel: 15mg/kg TT
24
1.4.2.6. Bệnh ghẻ
* Nguyên nhân
Tác nhân gây ra do 2 loài ghẻ:
- Ghẻ Sarcoptes scabiei var suis: có hình gần tròn kích thước 0,3 -
0,5mm, có 4 đôi chân mỗi chân có lông nhọn phần cuối của thân có một giác
hình vuông. Ghẻ cái đục lớp biểu bì dưới da, tạo ra các đường rãnh, lấy chất
dịch ở da để phát triển, trứng sau khi giao phối với ghẻ đực vào các rãnh của
biểu bì trứng nở ra trĩ trùng chỉ có 3 đôi chân rồi phát triển lột xác trở thành
ghẻ trưởng thành trong khoảng thời gian 17 ngày.
- Ghẻ Demodex suis: là loài ghẻ có thân hình mũi mác, nhiều vân ngang
quanh thân, dài 0,25mm, có 4 đôi chân trông như một núm nhọn. Ghẻ trưởng
thành ký sinh trong lông của lớp biểu bì lợn. Ghẻ cái đẻ trứng, trứng phát
triển qua giai đoạn Êu trùng, trĩ trùng, đến trưởng thành khoảng 3 tuần lễ.
* Bệnh lý và lâm sàng
- Bệnh lý
Ghẻ Sarcoptes scabiei var suis đục các đường hầm phá hoại lớp biểu bì
trên mặt da, lấy các chất dinh dưỡng trong dịch thể của biểu bì để sống, làm
cho lợn ngứa ngáy không yên, dẫn đến con vật gầy yếu, giảm tăng trọng. Các
vết thương do ghẻ tạo trên da lợn là điều kiện thuận lợi cho tạp khuẩn xâm
nhập gây viêm loét da có mủ.
Ghẻ Demodex suis ký sinh và làm tổn thương sâu trong các bao lông
của da, lấy chất dinh dưỡng trong bao lông để phát triển, sinh sản và cũng tạo
ra các ổ nhiễm trùng mủ thứ phát do liên cầu (Streptococcus suis) và tụ cầu
(Staphylococcus aureus). Lợn bệnh không những bị mÈn ngứa, đau đớn, chảy