Nghiên cứu và đề xuất phương án phòng cháy chữa cháy rừng tại xã Sốp Cộp - Huyện Sốp Cộp - Tỉnh Sơn La - Pdf 26

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên quý báo của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận
quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị kinh tế đối với nền kinh tế quốc
dân, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự sống còn của dân tộc. Từ xa xưa
con người đã biết dựa vào rừng mà sống, rừng đã mang lại rất nhiều lợi ích cho
con người, nhưng ngược lại con người lại quá lạn dụng những lợi ích đó và
làm cho rừng ngày càng nghèo kiệt cả về số lượng và chất lượng. Cháy rừng là
một trong những thảm hoạ ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên, vật chất tính
mạng con người và môi trường sinh thái. ở nước ta và nhiều nước trên thế giới,
cháy rừng đã gây ra những thiệt hại rất lớn. Trên thế giới hàng năm. Cháy rừng
từ 10 – 15 triệu ha rừng, có năm cháy tới 25 - 30 triệu ha rừng.
Ở Việt Nam, trong những năm qua cháy rừng thường xuyên xảy ra nhưng
về thiệt hại thì chưa thống kê được đầy đủ. Trong giai đoạn từ năm 1963 đến
2003 cả nước đã cháy mất hơn 1 triệu ha rừng bao gồm cả rừng cây gỗ và
trảng cỏ, Lâu sậy, cây bụi. Cháy rừng là một trong những nguyên nhân làm
cho diện tích che phủ rừng của nước ta bị giảm nghiêm trọng, từ 43% năm
1993 xuống gần 28% năm 2001. Đặc biệt vụ cháy rừng năm 2003 tại U Minh
Thượng và U Minh Hạ ở Tỉnh Kiên Giang đã làm tổn thất 5.500 ha chưa kể
tổn thất về tài nguyên môi trường… Chỉ tính riêng chi phí cho công tác chữa
cháy tại đó đã lên đến 4,8 tỷ đồng.
Để khắc phục tình trạng mất rừng Đảng nhà nước ta đã có nhiều biện
pháp, chiến lược sách lược nhằm bảo vệ và phát triển rừng: “ Bảo vệ và phát
triển rừng là sự nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quốc kế dân sinh,
chẳng những cho đời nay mà cho cả những thế hệ tương lai của đất nước”.
Ngoài những biện pháp cần thiết như đóng cửa rừng, giao đất, giao rừng
cho công tác tái định canh, định cư… Thì công tác phòng cháy, chữa cháy
rừng cũng chiến một vị trí rất quan trọng. Nó góp phần ngăn chặn nặng cháy
rừng nói riêng, đồng thời phát huy hiểu quả công tác quản lý bảo vệ và phát
triển rừng nói chung.
1
Xã Sốp Cộp là một xã nằm trên địa bàn Huyện Sộp Cộp với diện tích tự

trong rừng với yếu tố khí tượng thuỷ văn để từ đó đề ra các biện pháp phòng
cháy, chữa cháy, từ đó kết luận độ ẩm của từng thảm mục nói lên độ khô hẳn
của rừng. Độ khô hẳn càng cao thì khả năng cháy rừng càng lớn.
Ở Nga, năm 1924 E.V Valentic đã thống kê các vụ cháy rừng và đã xác
định được mỗi quan hệ giữa số lượng diện tích rừng bị cháy với số vụ cháy,
với 3 chỉ số sau: số ngày không mưa, lượng mưa và tốc độ gió, từ đó ông kết
luận: “ Cháy rừng bắt nguồn từ những nơi không vệ rừng, rừng gặp khô hạn
kéo dài, nguồn vật liệu cháy dần được tăng lên và dẫn đến cháy rừng”.
Cũng ở Nga năm 1939 V.G Nestorop đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố
khí tượng thuỷ văn và một số khác có ảnh hưởng đến rừng và đề phương pháp
dự báo cháy rừng theo phương pháp tổng hợp ông đưa ra biểu thức toán học để
đánh giá mức độ nguy hiểm của cháy rừng gồm 3 yếu tố: Nhiệt độ lúc 13h
trưa, lương mưa/ ngày, độ ẩm không khí, ông đã đưa ra kết luận nơi nào nhiệt
độ càng cao, số lượng mưa không kéo dài và độ ẩm không khí càng thấp thì
dẫn đến vật liệu cháy càng khô nên sẽ phát sinh cháy rừng.
Công thức: Pi = K ∑ T
0
13.Dn13
+ K là hệ số điều chỉnh có giá trị 0 và 1 phụ thuộc vào lượng mưa/ ngày
a nếu:
a >= 5mm thì K = 0, nếu a <= 5mm thì K = 1
+ T
0
13 Nhiệt độ không khí tối cao lúc 13h
3
+ Dn13 chênh lệch lúc bão hoà lúc 13h
Ông đưa ra 5 cấp cháy rừng nguy hiểm, với giá trị P cấp 1: Có giá trị
P<300 là nhỏ nhất và cấp lớn nhất là cấp V có giá trị P > 1000. Giá trị P càng
cao thì mức độ nguy hiểm, nguy cơ cháy rừng càng lớn. Giá trị P tỷ lệ thuận
với nhiệt độ và tỷ lệ nghịch với nhiệt độ không khí.

(1)- Giảm nguồn nhiệt (nguồn lửa) bằng cách dọn vật liệu cháy trên mặt
đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy
với phần rừng còn lại.
(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn
ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy vào thời kỳ khô hạn nhất, hoặc đốt có
điều khiển theo hướng ngược với hướng lan tràn của đám cháy để cô lập đám
cháy.
(3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn
cách vật liệu cháy với ôxy trong không khí (nước, đất, cát, bọt CO
2
, khí CCl
4
,
hỗn hợp C
2
H
5
Br với CO
2
v.v…).
- Nghiên cứu về phân vùng trọng điểm cháy rừng
Khả năng xuất hiện và mức thiệt hại của cháy rừng thường phụ thuộc
chặt chẽ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất như đặc
điểm khí hậu, thời tiết và đặc điểm các trạng thái rừng. Những khu vực có
lượng mưa lớn và phân bố đều hoặc có những trạng thái rừng ẩm thường ít xảy
ra cháy rừng. Ngược lại, những khu vực khô hạn, mưa phân bố không đều
hoặc có những trạng thái rừng dễ cháy thường xảy ra cháy nhiều hơn. Vì vậy,
để sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phòng cháy chữa cháy rừng, người ta
thường căn cứ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hưởng đến cháy rừng để phân
chia lãnh thổ thành những khu vực có nguy cơ cháy rừng khác nhau. Người ta

A là số tháng hạn với các tháng có lượng mưa P< T
P là số tháng kiệt Pmm < 5mm
( T là nhiệt độ trung bình tháng theo dõi)
- Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã biên soạn và áp dụng phương pháp của
Nestorop để dự báo cháy rừng ở Quảng Ninh theo các chỉ tiêu: Nhiệt độ không
6
khi, độ chênh lệch lúc 13h và lượng mưa ngày của tỉnh Quảng Ninh. Sau đó
tác giả đưa vào một số vụ cháy rừng được thống kê cùng các năm nêu trên để
chỉnh lý lại số liệu của cấp cháy rừng và đưa ra 5 cấp (P). Cấp 1 < 1000, cấp 5
> 10000, mặt khác đứng trước tình hình cháy rừng ở một số nơi trên toàn quốc
nhà nước Việt Nam đã ban bố những chỉ thị, quyết định giúp cho công tác
phòng chống cháy rừng được tiến hành thuận lợi và có hiểu quả hơn như quyết
định số 127/2000/QĐ – KL ngày 11 / 12 /2000 của Bộ nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn về xây dựng hoàn chỉnh hệ thống mạng lưỡi phòng cháy chữa
cháy rừng.
Từ 1989-1991 Dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng
cho Việt Nam của UNDP đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp dự báo nguy
cơ cháy rừng theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của Nesterop nhưng thêm yếu
tố gió (Cooper, 1991). Chỉ tiêu P của Nesterop sẽ được nhân với hệ số là 1.0,
1.5, 2.0, và 3.0 nếu có tốc độ gió tương ứng là 0-4, 5-15, 16-25, và lớn hơn 25
km/giờ. Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu này vẫn chỉ đang ở giai đoạn thử nghiệm.
Năm 1993, Võ Đình Tiến đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng
của từng tháng ở Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình,
lượng mưa trung bình, độ ẩm không khí trung bình, vận tốc gió trung bình, số
vụ cháy rừng trung bình, lượng người vào rừng trung bình. Tác giả đã xác định
được cấp nguy hiểm với cháy rừng của từng tháng trong cả mùa cháy. Đây là
chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến
nguy cơ cháy rừng. Tuy nhiên, vì căn cứ vào số liệu khí tượng trung bình
nhiều năm nên cấp dự báo của Võ Đình Tiến chỉ thay đổi theo thời gian của
lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày. Vì vậy, nó mang ý nghĩa của

rừng thông 8 tuổi ở Đà lạt (Phan Thanh Ngọ, 1995). Tác giả cho rằng với rừng
thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ
những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt. Tác giả cho
rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số trạng thái rừng ở địa
phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắc và Gia Lai.
Ngoài ra, đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho phòng
cháy, chữa cháy rừng (Lê Đăng Giảng, 1974; Đặng Vũ Cẩn, 1992; Phạm Ngọc
Hưng, 1994). Các tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của
8
cháy rừng, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự
báo, cảnh báo, xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, tổ chức
lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng, quy định về dùng lửa trong dọn đất
canh tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân
v.v sẽ là những giải pháp xã hội quan trọng trong phòng cháy, chữa cháy
rừng. Tuy nhiên, phần lớn những kết luận đều dựa vào nhận thức của các tác
giả là chính. Còn rất ít những nghiên cứu mang tính hệ thống về ảnh hưởng
của các yếu tố kinh tế xã hội đến cháy rừng.
9
PHẦN II
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung:
Mục tiêu chung của đề tài là góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động
phòng cháy, chữa cháy rừng ở xã Sốp Cộp, Sốp Cộp, Sơn La.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa phương
nghiên cứu.
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa
cháy rừng ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
2.2. Phạm vi và giới hạn của đề tài.

v.v…
2.4.2. Phương pháp kế thừa
Đề tài kế thừa các tài liệu nghiên cứu có liên quan như: số liệu về điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Sốp Cộp, Báo cáo kế hoạch phòng cháy, chữa
cháy rừng của Hạt kiểm lâm huyện Sốp Cộp, số liệu thống kê về tình hình
cháy rừng 3 năm và quý I năm 2011 và một số tài liệu liên quan đến chuyên
đề.
2.4.3. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
- Đặc điểm vật liệu cháy dưới rừng được điều tra với các chỉ tiêu:
+ Khối lượng vật liệu cháy khô ở một ô nghiên cứu được điều tra bằng
cách cân toàn bộ vật liệu khô thu được từ 15 ô dạng bản diện tích 1m
2
. Chúng
được phân bố ở giữa và 4 góc của các ô dạng bản diện tích 15m
2
.
+ Khối lượng vật liệu cháy tươi ở một ô nghiên cứu được điều tra bằng
cách cân toàn bộ vật liệu tươi thu được từ 15 ô dạng bản diện tích 1m
2
.
2.4.4. Phương pháp sử lý số liệu
2.4.4.1. Phương pháp PRA.
11
+ Trong phương pháp PRA chúng tôi đã sử dụng các cung cụ phỏng vấn lựa
chọn cây trồng để thu thập thông tin ở các nhóm sau:
- Nhóm thông tin về chính sách phòng cháy chữa cháy rừng.
- Nhóm thông tin về xã hội.
- Nhóm thông tin về hiểu quả công tác phòng cháy chứa cháy rừng tại địa
phương.
- Nhóm thông tin tổng hợp.

3.1.1.2. Địa hình:
Sốp Cộp có độ cao trung bình so với mặt nước biển là 800 m với đặc
điểm địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt ra nhiều dòng núi, nhiều khe
dốc.
Các địa hình của xã gồm:
Dạng địa hình đồi núi cao: Độ cao từ 1.000 - 1.800 m so với mặt nước
biển, tập trung ở các bản Pá Hốt, Bản Pe, Huổi Ái.
Dạng địa hình vùng núi thấp: Độ cao từ 500 -800 m so với mặt nước
biển, tập trumg ở các như . Nà Dìa, Nà Sài, Bản Mới
Dạng địa hình đồi núi trung bình : độ cao từ 800 - 1000 so với mặt nước
biển, bao gồm các khu vực còn lại.
Địa hình chia cắt mạnh cùng với hệ thống suối có độ dốc lớn tạo ra các
tiểu vùng có đặc điểm địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nước tương đối đa
dạng thích hợp cho phát triển nông - lâm nghiệp, nhất là cây ăn quả ôn đới, á
nhiệt đới, lúa ruộng, chăn nuôi đại gia xúc, phát triển kinh tế hàng hoá thoả
13
mãn yêu cầu của thị trường. Lãnh thổ vùng có thể chia thành hai tiểu vùng
sinh thái nông - lâm nghiệp:
+ Tiểu vùng 1: Bao gồm các bản vùng thấp: Nà Dìa, Nà Sài, Bản Mới .
Vùng thuộc dạng điạ hình núi thấp, độ cao 500 - 800 m, độ dốc nhỏ hơn 20
0
xong chia cắt mạnh gây khó khăn cho việc mở rộng đất nông nghiệp. Hướng
sản xuất chủ yếu là phát triển cây lương thực, cây ăn quả, cây dược liệu,
thanh hao, cây bụt chua, măng che, chăn nuôi đại gia xúc, gia cầm, phát triển
công nghiệp chế biến, dịch vụ, là vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu, vùng
động lực phát triển toàn diện của xã Sốp Cộp.
+ Tiểu vùng 2: Bao gồm các bản vùng cao, Pá Hốt, Bản Pe, Huổi Ái.
Vùng thuộc dạng địa hình núi cao 1000 - 1800 m, độ dốc lớp hơn 20
0
chia cắt

Co Pồng và suối Nậm Ban dài 13 km nối tiếp với Nậm Lạnh chảy qua các
bản Căng Mường, La Mường, Nà Nó, Nà Sài. Các suối này lưu lượng nước
dồi dào cả về mùa mưa và mùa khô.
- Ngoài ra là các suối nhỏ như Pá Hốt (dài 7km), Huổi Ái (dài 7 km)
Huổi Khảng (dài 6 km), Nà Dìa (dài 5 km) , Bản Mới (dài 4 km),… và nhiều
các khe phân bố rải rác.
3.1.1.5. Đặc điểm đất đai.
Theo số liệu kiểm kê đất đai của xã cho thấy, trên địa bàn có các loại đất
chủ yếu sau:
Đất Feralit nhạt trên đất đá cát (F
q
): Diện tích là 8.504 h, chiếm 58,48%
diện tích tự nhiên.
Đất Feralit đỏ nâu trên đá mắc ma trung tính và Bazic (F
k
): Diện tích
khoảng 2.600 ha, chiếm 17,99% diện tích đất tự nhiên.
Đất Feralit đỏ nâu trên đá sét (F
s
): Diện tích 750 ha, chiếm 5,19% tổng
diện tích tự nhiên.
Đất Feralit mùn vàng nhạt trên đất đá cát (F
hp
): diện tích 500 ha, chiếm
3,46% tổng diện tích đất tự nhiên. Chỉ tiêu này có xu hướng giảm dần trong
những năm tới, do không được đầu tư, mặt khác do địa hình của xã do độ dốc
quá lón, hạn chế nguồn nước trên viện mở rộng thêm diện tích đất nông nghiệp
cho xã là rất khó khăn. Có thể thấy được tình hình sử dụng đất đai của xã qua
các năm 2008, 2009, 2010 qua biểu 02.3.1.1.6. Đặc điểm tài nguyên rừng
Theo thống kê diễn biến tài nguyên rưng của xã tính đến tháng 12–2010

- Thu nhập và mức sống: năm 2009 - 2010 bình quân thu nhập trên đầu
người đạt 2.5 triệu đồng / người / năm. Số hộ nghèo của xã còn nhiều theo
tiêu chí mới là 367 hộ bằng 60%. Số hộ được xem truyền hình là 389 hộ bằng
60%.
16
- Sốp Cộp là kinh tế thuần nông, măng nặng trính tự cung tự cấp, sản
xuất theo kiểu khai thác tự nhiên để có đủ lương thực giải quyết bữa ăn hàng
ngày.
- Sản xuất theo kiểu khai thác tự nhiên để có đủ lương thực giải quyết
bữa ăn hàng ngày.
3.1.2.3. Giao thông.
- Trong những năm gần đây, hệ thóng của Sốp Cộp đã được quan đầu
tư nâng cấp, mở ruộng. Tính đến năm 2010, toàn xã có 11/17 bản có đường ô
tô đến trung tâm bản. Tổng chiều dài các tuyến đường toàn xã có 44,5km, bao
gồm:
- Đường liên xã Sốp Cộp – Nậm Lạnh dài 10km, mặt đường đất rộng
4m.
- Các tuyến đường lên bản:
+Tuyến Huổi Khang, Bản Khảng dài 13.5km, mặt đường đất rộng 3m.
+Tuyến Huổi Ái, Pá Hốt dài 10,5km, mặt đường đất rộng 2,5m.
+Tuyến Xuân Viện, Bản Mới : dài 9km, mặt đường đất rộng 3m.
+Tuyến Nà Sài, Nà Dìa : dài1,5km, mặt đường đất rộng 3m.
Nhìn chung hệ thống giao thông trên địa bàn xã tuy đã được đầu tư một
số tuyến về cơ bản chất lượng còn kém, 100% các tuyến là đường đất, đường
lên các bản vùng cao còn hẹp, phải qua nhiều dốc, cho nên Các tuyến đường
liên bản hiện tại còn rất xấu, gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại, các công
trình mang tính tạm thời, thời tiết khí hậu, địa hình phức tạp ảnh hưởng
nghiêm trọng đến chất lượng đường, mùa mưa hầu như việc đi lại không thể
lưu thông được, kể cả đi bộ. Khả năng mở rộng, duy tư cũng hạn chế về kinh
phí và kỹ thuật.

bóng đá. Xã cũng thường xuyên tổ chức giao lưu văn hoá - văn nghệ nhân
các ngày lễ tết nhằm giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và đẩy lùi các tệ nạn xã
18
hội. Năm 2010 đã có 151 hộ gia đình được công nhận là gia đình văn hoá
mới, 12 bản được công nhận là bản văn hoá.
2.1.2.7. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên.
* Thuận lợi:
- Với điều kiện thuận lợi là xã có tổng diện tích đất tự nhiên lớn nhất
Huyện Sốp Cộp (14.545.2 ha). Diện tích đất Lâm nghiệp nhiều (6.661,52 ha),
các loại rừng phong phú, nguồn nước mặt tương đối dồi dào nên Sốp Cộp có
nhiều điều kiện để phát triển kinh tế Nông - Lâm nghiệp.
Là xã có nguồn lao động phong phú, đội ngũ lao động trong các ngành
lãnh vực quan trọng như: giáo dục, Y tế, hình chính sự nghiệp điều đã được
đào tạo cơ bản và được nâng cao trìng độ văn hóa nghiệp vụ chuyên môn. đây
cũng là nguồn lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hội.
* Khó khăn :
- Do địa bàn rộng, các bản lại ở không tập trung (có bản như Bá Hốt
cách trung tâm xã đến hơn 20 km). Bên cạnh những thuộn lợi nêu trên Sốp
Cộp vấn gặp phải những khó khăn đó là:
- Địa hình bị chia cắt và dốc gây khó khăn cho việc đầu tư xây dựng
các công trình trong xã. Nên gây khó khăn cho việc đi lại, sản xuất cũng như
triển khai các chính sách của Đảng, Nhà nước và kế hoạch của địa phương.
3.2. Điều tra tình hình cháy rừng và đánh giá thực trạng công tác
phòng cháy chữa cháy rừng ở khu vực nghiên cứu.
3.2.1. Điều tra tình hình cháy rừng tại khu vực nghiên cứu.
Sốp Cộp là xã vùng cao thuộc huyện Sốp Cộp nên công tác PCCCR còn
nhiều hạn chế, cả về vật chất lẫn kinh nghiệm và nguồn nhân lực. Hàng năm
vẫn xảy ra cháy rừng, có vụ tới hàng vài chục ha rừng và đất rừng. Tuy số vụ
ít nhưng diện tích bị thiệt hại có phần tăng lên. Theo số liệu thống kê của Hạt
Kiểm lâm huyện Sốp Cộp về tình hình cháy rừng ở xã Sốp Cộp được thể hiện

Qua biểu điều tra cho thấy số vụ cháy rừng ở các năm và diện tích cháy
từ năm 2007 - 2011 Xã Sốp Cộp trong 5 năm đã xẩy ra cháy rừng với tổng
diện tích là:133,77 ha. Trung bình xẩy ra 3 vụ. Hầu như năm nào cũng xẩy ra
cháy rừng trong địa bàn xã Sốp Cộp, phần lớn là do đốt nương, không thực
hiện tốt phòng cháy chữa cháy rừng. Một phần cũng do đi săn bán đốt rừng
và đốt tổ ong… gây cháy lan và điều được cứu chữa kịp thời. Qua biểu điều
tra cho thấy rõ số vụ cháy rừng ở xã Sốp Cộp cũng giảm đi so với năm trước.
Như vậy công tác phòng cháy chữa cháy đã có phần thực hiện tốt số vụ cháy
và thiệt hại giảm đi đáng kể. Thành quả này có được là nhờ sự nỗ lực của ban
lãnh đạo, chính quyền địa phương trong xã, sự phối hợp chặt chễ và đặt biệt
là ý thức bảo vệ rừng phòng cháy, chữa cháy rừng của người dân địa phương
20
được nâng cao do đó hạn chế được mức độ thiệt hại thấp nhất do cháy rừng
gây ra.
Đặc thù của rừng trong xã Sốp Cộp chủ yếu là rừng tự nhiên. Rừng lâu
lách cỏ lào, chít do vậy cháy rừng xẩy ra trong những năm qua là rừng tự
nhiên, lâu lách, chít cháy chiếm phần lớn nhất gây ra cháy lan đến các khu
rừng bên cạnh.
Biểu 02: Nguyên nhân cháy rừng tại xã giai đoạn 2007-2011 tại xã
Sốp Cộp.
STT Nguyên nhân Số vụ cháy rưng Tỉ lệ %
1
Đi săn bắn thú rừng
đốt
2 33,33
2 Đốt nương làm rẫy 2 33,33
3
Trẻ chăn trâu đốt cỏ
gianh
1 16,67

- Cán bộ Nông lâm thủ cán điểm làm phó ban thường trực;
- Các trưởng bản, phó bản, công an xã làm ủy viên.
Nhiệm vụ của ban chỉ đạo PCCCR cấp xã là xây dựng thực hiện theo
phương án PCCCR của xã đã được Huyện phê duyệt vào mùa khô hanh, ban
chỉ đạo xã thường xuyên tuyên truyền tổ chức kiểm tra đôn đốc các tổ quản lý
bảo vệ PCCCR từ cấp xóm, bản, chủ rừng cách phòng cháy và dập tắt đám
cháy khi xẩy ra cháy rừng.
* Cấp bản:
Thành lập tổ quản lý bảo vệ rừng do trưởng bản làm trưởng ban làm tổ
trưởng số thành viên 5 - 10 người tùy theo diện tích rừng do tổ quản lý. Toàn
xã luôn duy trì 15 tổ quần chúng bảo vệ rừng PCCCR 100 thành viên tham gia
các khu rừng bản có rừng. Nhiệm vụ chính của tổ bảo vệ rừng PCCCR ở bản
là tăng cường kiểm tra phát hiện ngăn chặn kịp thời báo cáo các hành vi, khi
mới phát sinh và tổ chức chữa cháy rừng tại chỗ. Nếu ngọn lửa quá lớn vận
động toàn dân chữa cháy kịp thời.
Hàng năm tổ quản lý bảo vệ rừng được tham gia thời gian tập huốn, kỹ
thuật PCCCR được học chính sách và xây dựng quy ước PCCCR sát thực tế ở
22
bản mình. Có quy định cụ thể cần thiết về thiết bị dùng trong công việc
PCCCR và quy định tín hiệu báo cháy rừng, địa điểm tập trung để bà con nắm
được khi có cháy rừng xẩy ra. Mọi người tập trung tại điểm gần nơi xẩy ra
cháy rừng và tiến hành chữa cháy được nhanh chóng.
Ban chỉ đạo cấp xã và tổ bảo vệ ở cấp bản hàng năm xem xết lại phương
án đã được thực hiện trước.
Lập phương án mới và củng cố tổ chức hoạt động trong năm theo
phương châm thừa kế những hiệu quả tối ưu và khắp phục những sai xót.
Thực tế qua tìm hiểu và điều tra cho thấy ở xã Sốp Cộp. Đã có sự phối
hợp chặt chễ với hạt Kiểm Lâm Huyện Sốp Cộp, đem lại hiệu quả cao trong
công tác tuyên truyền PCCCR và hạn chế đuợc xẩy ra cháy rừng.
4.2.2.2. Các hoạt động PCCCR.

- Công tác tổ chức và theo dõi lửa rừng.
Ngăn chạn việc cháy rừng là một công việc rất khó khăn bên cạnh đó
việc ngăn chạn nạn cháy rừng còn khó khăn hơn. Đầu mùa khô ban chỉ đạo xã
luôn chỉ đạo xây dựng các phương án PCCCR. Đến nay 17 đã có 8 bản có
rừng điều có tổ chức phòng cháy chữa cháy và các hộ chuyên trách về phòng
cháy, các chủ rừng thường xuyên tuần tra. Khi xẩy ra cháy rừng phải kịp thời
phát hiện có hiệu lệnh chữa cháy, tất cả người dân trong bản khi xẩy ra cháy
rừng phải tham gia cứu chữa cháy rừng.
* Công tác phòng cháy:
Để thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng có hiệu quả ban
chỉ đạo PCCCR của xã đã áp dụng một số phương án sau:
+ Đường băng cản lửa: Người dân xây dựng đường băng xung quanh
khu vực giáp danh giới nương rẫy với chiều rộng 10 -15 m trở lên đường băng
cản lửa dọn sạch cành khô, lá rụng, cỏ dại, nhằm ngăn chặn lửa rừng cháy lan
trên mặt đất rừng. Quy định giờ đốt nương sáng từ 6 - 7 giờ, chiều từ 16 - đến
17 giờ. Khi đôt phải có người trong coi cận thận không để cháy lan vào rừng.
Tác dụng của đường băng cản lửa là ngăn chặn lửa rừng cháy lan trên mặt đất,
24
cháy lan ở các giống phân bón phục vụ kinh doanh rừng, tuần tra phát hiện các
hiện tượng cháy rừng.
Hiện nay ở xã vẫn chưa tiến hành phân thành lô khoảnh riêng biệt bằng
các đường băng cản lửa. Cho nên xã cũng đã và đang quan tâm đến việc làm
đường băng cản lửa tại các khu rừng tự nhiên của các hộ được giao đất giao
rừng trồng, rừng khoanh nuôi táu sinh, việc triển khai của các cắn bộ còn hạn
chế.
+ Đốt vật liệu cháy: Vào đầu mùa khô xã Sốp Cộp hầu hết là rừng tự
nhiên, Rừng IIIA
3
, Rừng IIIB, lớp thảm mục cỏ dại, cỏ làu, thực bì nhiều, lớp
lá khô dầy, vật liệu cháy nhiều. Đây là nguyên nhân gây cháy rừng vào đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status